<?xml version="1.0" encoding="utf-8"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom">
    <title>Vu Huu San</title>
    <link rel="alternate" type="text/html" href="http://www.dcvblogs.com/vuhuusan/" />
    <link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.dcvblogs.com/vuhuusan/atom.xml" />
    <id>tag:www.dcvblogs.com,2007-12-09:/vuhuusan//28</id>
    <updated>2007-12-09T19:13:36Z</updated>
    
    <generator uri="http://www.sixapart.com/movabletype/">Movable Type Publishing Platform 4.0</generator>

<entry>
    <title>TỪ CỬA NAM-QUAN ĐẾN ẢI CHI-LĂNG, CHÂU ÔN Và NÚI PHÂN-MAO</title>
    <link rel="alternate" type="text/html" href="http://www.dcvblogs.com/vuhuusan/2007/12/t-ca-namquan-dn-i-chilang-chau.html" />
    <id>tag:www.dcvblogs.com,2007:/vuhuusan//28.485</id>

    <published>2007-12-09T19:09:29Z</published>
    <updated>2007-12-09T19:13:36Z</updated>

    <summary><![CDATA[SỬ-LIệU&nbsp; BIÊN-GIỚI&nbsp; GIữA&nbsp; TA&nbsp;Và&nbsp; TàU&nbsp; : TỪ&nbsp;&nbsp; CỬA&nbsp;&nbsp; NAM-QUAN&nbsp; ĐẾN&nbsp;&nbsp; ẢI &nbsp;CHI-LĂNG,&nbsp;&nbsp; CHÂU&nbsp;&nbsp; ÔN Và&nbsp;&nbsp; NÚI&nbsp;&nbsp;&nbsp; PHÂN-MAO &nbsp; Hà MAI-PHƯƠNG&nbsp; &amp;&nbsp; LƯU-CHU&nbsp; THANH-TAO &nbsp; Lời&nbsp; Dẫn-Nhập : &nbsp;Tới nay,&nbsp;&nbsp; trước áp-lực của Trung-Cộng&nbsp; nhà cầm quyền Hà-Nội không thể che-dấu...]]></summary>
    <author>
        <name>dcvblogs</name>
        
    </author>
    
    
    <content type="html" xml:lang="en-us" xml:base="http://www.dcvblogs.com/vuhuusan/">
        <![CDATA[<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><font color="#800080"><span style="FONT-FAMILY: Times New Roman">SỬ-LIệU&nbsp; BIÊN-GIỚI&nbsp; GIữA&nbsp; TA&nbsp;Và&nbsp; TàU</span></font><span style="COLOR: #800080; FONT-FAMILY: Times New Roman">&nbsp; :</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="FONT-SIZE: 16pt; COLOR: red; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">TỪ&nbsp;&nbsp; CỬA&nbsp;&nbsp; NAM-QUAN&nbsp; ĐẾN&nbsp;&nbsp; ẢI </span></b></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="FONT-SIZE: 16pt; COLOR: red; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;CHI-LĂNG,&nbsp;&nbsp; CHÂU&nbsp;&nbsp; ÔN Và&nbsp;&nbsp; NÚI&nbsp;&nbsp;&nbsp; PHÂN-MAO</span></b></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp; Hà MAI-PHƯƠNG&nbsp; &amp;&nbsp; LƯU-CHU&nbsp; THANH-TAO</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><i><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'"><font color="#0000ff">Lời&nbsp; Dẫn-Nhập </font>: </span></i></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><i><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;Tới nay,&nbsp;&nbsp; trước áp-lực của Trung-Cộng&nbsp; nhà cầm quyền Hà-Nội không thể che-dấu được những nhượng-bộ đất-đai vùng biên-giới và lãnh-hải giữa hai nước qua những thỏa-ước mà đảng Cộng-sản Việt-Nam đã thảo-luận và ngấm-ngầm ký-kết với Trung-Cộng mà không hề công-bố toàn-thể bản văn cho toàn-dân Việt-Nam được biết,&nbsp; theo đó thỏa-ước về biên-giới Việt-Trung ký ngày 30 tháng 12 năm 1999 và Thoả-ước về Vịnh Băc-Bộ ký ngày 25 tháng 12 năm 2000.&nbsp; Từ cuối năm 1999,&nbsp; nhà văn Dương Thu-Hương trong bài phỏng-vấn của đài Phát-thanh RFI đã cảnh-giác rằng sau trận chiến-tranh dạy cho nhau những bài học ở biên-giới Việt-Trung năm 1979,&nbsp; các nhà lãnh-đạo đảng Cộng-sản Việt-Nam đã quá sợ-hãi quan thày và đã ngấm-ngầm nhường cho Trung-Cộng nhiều phần đất-đai dọc biên-giới hai nước với chiều dài khoảng 1.300 km và nhiều nơi Trung-Cộng lấn sâu vào nội-địa nước ta khoảng 3&nbsp; cây-số.&nbsp; Công-luận của con dân Việt-Nam ở trong nước cũng như ở hải-ngoại rất công-phẫn về hành-vi rước voi về giày mồ và bán đất-đai của Tổ-tiên cho ngoại-bang.&nbsp;</span></i></p>]]>
        <![CDATA[<font face="Times New Roman" color="#800080"><em>Trước đây,&nbsp; năm 1541,&nbsp; theo Khâm-định Việt-sử Thông-giám Cương-mục,&nbsp; Mạc Đăng-Dung và cháu là Mạc Văn-Minh cùng bày-tôi là bọn Nguyễn Như-Quế hơn 40 người,&nbsp; tự buộc dây thừng vào cổ,&nbsp; đi chân đất,&nbsp; qua cửa Nam-Quan,&nbsp; quỳ lạy,&nbsp; phủ phục trước quân Minh,&nbsp; khúm-núm dâng biểu xin hàng,&nbsp; nộp trình sổ sách đất-đai cho quân Tàu để mong nắm giữ được vương-quyền và thủ lợi riêng tư.. ..&nbsp;&nbsp; Ngày nay, các Mạc Đăng-Dung tân thời&nbsp; dùng phản-lực-cơ sang chầu hầu Thiên-triều,&nbsp; được đón tiếp hết sức niềm-nở và cùng nhau ca-tụng tình hữu nghị giữa hai nước bằng cách cắt đất-đai ở vùng biên-giới và nhường phần lớn lãnh-hải thuộc vùng vịnh Bắc-Việt rộng lớn của Tổ-tiên ta để trả ơn cho các quan thày đã có công hỗ-trợ đảng Cộng-sản Việt-Nam từ buổi ban đầu.. .. Dư-luận của những con dân Việt-Nam&nbsp; trong nước và ngoài nước bất-bình nhất về những quyết-định đơn-phương của đảng Cộng-sản Việt-Nam.&nbsp; Từ nay nước ta không còn được kể tới chiều dài tượng-trưng&nbsp; của đất nước&nbsp; từ ải Nam-Quan cho tới mũi Cà-Mau nữa !&nbsp; Để tìm-hiểu&nbsp; chi-tiết hơn về một phần đất cửa ngõ nước ta&nbsp; với Trung-quốc&nbsp; ở biên-giới Lạng-Sơn,&nbsp; bài viết sau đây trình-bày những sử-liệu ở trong các sách cũ&nbsp; của tiền-nhân ta Từ cửa Nam-Quan đến ải Chi-Lăng,&nbsp; Châu&nbsp; Ôn và núi Phân-Mao.</em>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;</span><b><span style="COLOR: red; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">CỬA&nbsp; NAM-QUAN</span></b></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Theo Địa-dư Các Tỉnh Bắc-Kỳ&nbsp; [của Ngô Vi-Liễn,&nbsp; Phạm Văn-Thư và Đỗ Đình-Nghiêm,&nbsp;&nbsp; Nhà in Lê Văn-Tân xuất-bản,&nbsp; Hà-Nội, 1926],&nbsp; cửa Nam-Quan ở ngay biên-giới Trung-quốc và Việt-Nam.&nbsp;&nbsp; Kể từ Hà-Nội lên đến tỉnh-lỵ Lạng-Sơn là 150 km;&nbsp; đến cây-số 152 là chợ Kỳ-Lừa;&nbsp; đến cây-số 158 là Tam-Lung;&nbsp; đến cây-số 162 là Đồng-Đăng;&nbsp; đến cây-số 167 là cửa Nam-Quan đi sang Long-Châu bên Tàu.&nbsp; Như vậy từ Đồng-Đăng lên cửa Nam-Quan có 5 km;&nbsp; từ Kỳ-Lừa lên Nam-Quan mất&nbsp; 15 km [về phía tây-nam chợ Kỳ-Lừa có động Tam-Thanh,&nbsp; trước động Tam-Thanh có núi Vọng Phu&nbsp; hay tượng nàng Tô-Thị&nbsp; là những danh-thắng của tỉnh Lạng-Sơn] &nbsp;và từ tỉnh-lỵ Lạng-Sơn lên Nam-Quan là 17 km.&nbsp; Theo Đi thăm Đất Nước&nbsp; của Hoàng Đạo-Thuý&nbsp; [Nhá Xuất-bản Văn-hoá,&nbsp; Hà-Nôi,&nbsp; 1976],&nbsp; Đồng-Dăng cách biên-giới Trung-quốc 4 km.&nbsp; Nơi đây có Hữu-Nghị Quan của Trung-quốc. </span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Về cửa hay ải Nam-Quan,&nbsp; theo Phương-Đình Dư-địa-chí&nbsp; của Nguyễn Văn-Siêu&nbsp; [bản dịch của Ngô Mạnh-Nghinh,&nbsp; Tự-Do xuất-bản,&nbsp; Saigon,&nbsp; 1960],&nbsp; đời Hậu-Lê trở về trước&nbsp; gọi là cửa Pha-Lũy&nbsp; [hay Pha-Dữ],&nbsp; ở về phía bắc châu Văn-Uyên&nbsp; (1),&nbsp; trấn Lạng-Sơn.&nbsp; Từ châu Bằng-Tường&nbsp; [tỉnh Quảng-Tây] &nbsp;bên Trung-quốc muốn vào nước An-Nam&nbsp; [tức nước ta] phải qua cửa quan này.&nbsp; Theo Cương-mục,&nbsp; cửa Pha-Lũy chính là cửa Nam-Quan&nbsp; ở xã Đồng-Đăng&nbsp; thuộc huyện Văn-Uyên&nbsp; [xưa là Văn-Châu hay Châu Văn], tỉnh Lạng-Sơn.&nbsp; Từ đời Lê trung-hưng,&nbsp; người&nbsp; Tàu gọi cửa Pha-Lũy là Trấn-Nam Quan;&nbsp; còn ta thì quen gọi là của hay ải Nam-Quan.</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Theo Đại-Nam Nhất-Thống-Chí,&nbsp; Trấn Nam Quan thuộc nội-địa nuớc Tàu,&nbsp; dựng dưới đời vua Gia-Tĩnh [1522-1566] nhà Minh.&nbsp; Năm 1726,&nbsp; dưới đời nhà Thanh,&nbsp; niên-hiệu Ung-Chính thứ-ba, &nbsp;quan Án-sát tỉnh Quảng-Tây là Cam Nhũ-Lai có cho tu-bổ lại cửa quan này.&nbsp; Cửa này dài 110 trượng&nbsp; [khoảng 50m], có đề ba chữ Trấn-Nam Quan&nbsp; --- nghĩa là cửa quan để phòng giữ&nbsp; [trấn] ở phương Nam&nbsp; [hay người phương Nam].&nbsp; Bên trong cửa này --- vẫn thuộc nội-địa Trung-quốc --- có đài Chiêu-Đức và đình Tham-Đường là nơi đón tiếp sứ-bộ nước ta mỗi khi sang Tàu công-cán và cũng là nơi sứ-bộ Trung-quốc nghỉ-ngơi trước khi qua cửa quan này để sang nước ta&nbsp; (2).&nbsp; Đối-diện với Trấn-Nam Quan,&nbsp; thuộc xã Đồng-Đăng và xã Bảo-Lâm thuộc châu Văn-Uyên, trấn Lạng-Sơn&nbsp;&nbsp; có đài Ngưỡng-Đức&nbsp; của nước ta, là nơi đón tiếp sứ-bộ Trung-quốc qua ta công-cán.&nbsp;&nbsp; Ngưỡng-Đức Đài này trước&nbsp; lợp bằng cỏ;&nbsp; năm 1774,&nbsp; Đốc-trấn Lạng-Sơn là Nguyễn Trọng-Đang cho tu-sửa, xây lại bằng gạch.&nbsp; Về việc sửa sang đài Ngưỡng-Đức,&nbsp; văn bia của Nguyễn Trọng Đang ghi khắc có đoạn như sau : .. ..Đài [Ngưỡng-Đức] không biết dựng tự năm nào;&nbsp; hình như mới có từ khoảng niên-hiệu Gia-Tĩnh nhà Minh,&nbsp; ngang với niên-hiệu Nguyên-Hoà, đời vua Lê Trang-Tông ở nước ta.&nbsp; Đài không có quán,&nbsp; hai bên tả hữu lợp bằng cỏ;&nbsp; sửa chữa qua-loa, vẫn theo như cũ.&nbsp; Nhà Lê ta trung-hưng,&nbsp; đời thứ 14,&nbsp; vua ta kỷ-nguyên thứ 41, là năm Canh-tý,&nbsp; ngang với năm thứ 44 niên-hiệu Càn-Long&nbsp; nhà Thanh;&nbsp; Đang tôi&nbsp; [Nguyễn trọng-Đang] làm chức Đốc-trấn [Lạng-Sơn], trải qua 5 năm là năm Giáp-thìn;&nbsp; sửa chữa lại,&nbsp; xây dựng bằng gạch ngói,&nbsp; đài mới có vẻ hoằng-tráng. ..</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Theo Phương-Đình Dư-Địa-Chí,&nbsp; cửa Nam-Quan, tùy theo từng triều-đại mà còn có những tên gọi khác như Đại-Nam Quan,&nbsp; Trấn-Di Quan,&nbsp; cửa Nam-Giao&nbsp; (3).. ..&nbsp; Năm 1541,&nbsp; Mạc Đăng-Dung và bày tôi qua cửa Nam-Quan xin hàng nhà Minh,&nbsp; bấy giờ cửa ải này có tên gọi là Trấn-Man Quan</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Trấn-Nam Quan&nbsp; -- hay ải Nam-Quan&nbsp; --&nbsp; thuộc địa-giới châu Bằng-Tường&nbsp; [tỉnh Quang-Tây bên Tàu], đối-diện với các xã Đồng-Đăng và Bảo-Lâm&nbsp; thuộc châu Cao-Lộc&nbsp; [Văn-Uyên cũ],&nbsp; tỉnh Lạng-Sơn của ta.&nbsp; Hai bên cửa ải là núi đá cao ngất.&nbsp; Cửa ải Nam-Quan luôn-luôn khoá kín,&nbsp; chỉ mở khi có việc thông sứ chính-thức giữa hai nước.&nbsp; Theo Bắc-Thành Dư-Địa-chí&nbsp; [của Lê Đại-Cương]&nbsp; ở về phía bên phải cửa Nam-Quan&nbsp; có nhiều ải nhỏ như Ải Bang&nbsp; [ở châu Lộc-Bình],&nbsp; ải Tầm-Bang [ở xã Tam-Lộc],&nbsp; Ải Kiệm&nbsp; [ở xã An-Khoái],&nbsp; ải Na-Chi&nbsp; [ở xã Xuất-Lễ],&nbsp; ải Khấu-Sơn&nbsp; [ở xã Cần-Lua],&nbsp; Ải Du&nbsp; [hay cửa Du-Thôn&nbsp; ở xã Bảo-Lâm] và ở về phía bên trái cửa Nam-Quan&nbsp; có các ải Bố-Sa,&nbsp; Sơn-Tử&nbsp; [ở xã Tiên-Hội],&nbsp; ải Học-Mô [ở xã Hành-Lư],&nbsp; ải Bản Dương,&nbsp; Bản Quyên&nbsp; [ở xã Lạc-Khư],&nbsp; ải Nguyên-Anh,&nbsp; Bình-Công&nbsp; [ở xã Khánh-Môn],&nbsp; ải Bình-Nhi&nbsp; [ở xã Cửu-Dương];&nbsp; thuộc châu Thất-Tuyền có các&nbsp; ải Bắc-Bố,&nbsp; Khấu-Trung&nbsp; [ở xã Nghĩa-Điền],&nbsp; ải Ba-Tạm,&nbsp; Cảm-Môn&nbsp; [ở xã Cụ-Khánh],&nbsp; ải Na-Mân,&nbsp; Khô-Thịnh&nbsp; [ở xã Nghĩa-Khản],&nbsp; ải Kiều-Lễ,&nbsp; Kiều-Lân&nbsp; [chưa rõ ở xã nào],&nbsp; ải Cốc-Ngoạ&nbsp; [ở xã Bình-Lục],&nbsp; Ải Hoa,&nbsp; Ải Mộ&nbsp; [ở xã Nông-Đồn].&nbsp;&nbsp; Đối-diện&nbsp; với các ải của ta,&nbsp; bên đất Trung-quốc cũng có những cửa ải của họ.&nbsp;&nbsp; Các cửa ải này có tính-cách phòng-thủ,&nbsp; quân-sự và không dùng trong việc giao-thông giữa hai nước Việt--Trung&nbsp; (4).&nbsp; </span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Riêng về cửa ải Du-Thôn&nbsp; [ở xã Bảo-Lâm, châu Cao-Lộc&nbsp; --&nbsp; châu Văn-Uyên cũ --&nbsp; tỉnh Lạng-Sơn],&nbsp; phía bắc giáp thôn Điếu-Sách [thuộc châu Thượng-Thạch bên Trung-quốc].&nbsp; Từ cửa ải Du-Thôn đến cửa Nam-Quan đi đường núi độ 2 canh rưỡi.&nbsp; Theo Phương-Dình Dư-Địa-Chí,&nbsp; phàm tống-đạt công-văn việc thường&nbsp; [không khẩn-cấp],&nbsp; trao trả tội-phạm&nbsp; và khách thương [buôn-bán] đi lại giữa Ta và Tàu đều do cửa này.&nbsp; Theo Đại-Nam Thực-lục, sau khi thống-nhất đất nước&nbsp; [năm 1802],&nbsp; vua Gia-Long&nbsp; vẫn theo lệ cũ của đời nhà Lê cho thi-hành những thủ-tục điều-hành công-vụ&nbsp; ở cửa Du-Thôn.&nbsp; Giấy thông-hành qua cửa Du-Thôn phải có đóng ấn&nbsp; [hay dấu] Văn-Uyên Châu&nbsp; Quảng-Úy-Sứ Ty Chi Ấn.&nbsp; Còn các giấy tờ, công-văn ở địa-phương Văn-Uyên giao-thiệp với Trung-quốc thì dùng ấn Văn-Uyên Tấn Khẩu&nbsp; [nghĩa là dấu của Cửa quan châu Văn-Uyên].&nbsp; Năm 1802,&nbsp; vua Gia-Long cho đổi chức Quảng-Úy-Sứ ra là Thủ-Hiệu và cho đúc ấn đồng,&nbsp; khắc chữ triện,&nbsp; gồm các chữ :&nbsp; Văn-Uyên Châu Thủ-Hiệu Chi Chương&nbsp; [nghĩa là vị Thủ-Hiệu phụ-trách giấy tờ của châu Văn-Uyên].&nbsp;&nbsp; Bấy giờ&nbsp; cửa Du-Thôn phụ-trách&nbsp; bởi hai viên Chánh và Phó Thủ-Hiệu&nbsp; và hai hiệu quân&nbsp; [tức hai đơn-vị&nbsp; quân-đội biên-phòng].</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Thời Pháp-thuộc,&nbsp; người Pháp gọi cửa Nam-Quan là Porte de Chine,&nbsp; nghĩa là cửa ngõ Trung-quốc.&nbsp; Tên&nbsp; này&nbsp; được thấy ở các hình bưu-thiếp&nbsp; [carte postale]&nbsp; của họ trước năm 1945.&nbsp; Sau năm 1954,&nbsp; Mao Trạch-Đông đổi gọi cửa Trấn-Nam&nbsp; là Mục Nam Quan&nbsp; </span><span style="FONT-SIZE: 12pt">[mục có nghĩa là hòa-mục, hòa-thuận]</span><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">.&nbsp; Còn nhà cầm quyền Hà-Nội thì đổi gọi là cửa Hữu-Nghị&nbsp; đề tỏ tình môi hở răng lạnh với Trung-quốc vĩ-đại !</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Cửa Nam-Quan từng là nơi diễn ra và chứng-kiến nhiều cảnh tang-thương và hùng-tráng trong suốt thời-gian của Việt-sử&nbsp; nghĩa là từ thời nước ta lập quốc cho tới nay.&nbsp; Năm 40 Tây-lịch Hai Bà Trưng khởi-nghĩa chống lại ách đô-hộ của nhà Đông-Hán,&nbsp; Nam-Quan đã là cửa ngõ xâm-lược của danh-tướng Mã-Viện.&nbsp; Tới đời nhà Thanh gần đây,&nbsp; trong bài Trùng-tu Nam-Quan Ký&nbsp; của Tuần-phủ Lý Công-Phất còn nhắc tới việc này như sau :.. ..Nam-Quan trông sang Giao-Chỉ&nbsp; --- tức nước ta&nbsp; thời Đông-Hán --- thật là hiểm-yếu,&nbsp; ở đó có cột đồng Mã-Viện&nbsp; (5).&nbsp; Thời nhà Minh xâm-lăng đô-hộ nước ta,&nbsp; năm 1406,&nbsp; ông Nguyễn-Trãi theo cha là Nguyễn Phi-Khanh bị bắt sang Tàu cùng cha con Hồ Quý-Ly.&nbsp; Tại ải Nam-Quan,&nbsp; Nguyễn-Trãi đã vâng nghe theo lời cha ghi nhớ hận Nam-Quan&nbsp; và sau này phò Bình-Định-Vương Lê-Lợi đánh đuổi được quân Minh, thu-hồi lại nền tự-chủ cho nước nhà.. ..&nbsp;&nbsp; Nhục Nam-Quan&nbsp; khác là hành-động ươn-hèn của Mạc Đăng-Dung và bày-tôi đã quỳ gối dâng biểu, dâng đất&nbsp; xin hàng nhà Tống vào năm 1541&nbsp; để bảo-vệ quyền-lực cho dòng họ nhà Mạc ---&nbsp; chẳng khác gì việc dâng đất biên-giới Việt-Trung và lãnh-hải ở vịnh Bắc-Việt của Đảng Cộng-sản Việt-Nam hiện nay qua những hiệp-ước về biên-giới với Trung-Cộng. </span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ngược lại,&nbsp; Nam-Quan cũng đánh dấu nhiều chiến công huy-hoàng của dân-tộc Việt bất-khuất như năm 40 Thái-thú Tô-Định bị nghĩa-quân của Hai Bà Trưng đánh đuổi phải bỏ chạy về Tàu qua ngả Nam-Quan.. .. Năm 981 vua Lê Đại-Hành đã chém đầu Hầu-Nhân-Bảo và đánh đuổi tàn quân nhà Tống ở cửa Nam-Quan.&nbsp; Đời nhà Lý,&nbsp; năm 1060,&nbsp; quân xâm-lược nhà Tống lại bị chận đánh ở Nam-Quan và Lạng-Châu&nbsp; tức Lạng-Sơn.. ..&nbsp; Bấy giờ Châu-mục Thân Thiệu-Thái từng đánh sang Châu Ung&nbsp; bên Trung-quốc bắt sống Chỉ-huy-sứ Dương Bảo-Tài, chưa kể sau đó là các chiến-công phá Tống oanh-liệt của Lý Thường-Kiệt nữa.. ..&nbsp; Đời nhà Trần,&nbsp; năm 1285 Trấn-Nam-Vương&nbsp; Thoát-Hoan phải nhục-nhã chui vào ống đồng trốn chạy về Tàu qua ải Pha-Lũy&nbsp; tức Trấn-Nam-Quan.. ..&nbsp; Năm 1427,&nbsp; Liễu-Thăng bị phục-binh của nghĩa-quân Bình-Định-Vương Lê-Lợi chém chết ở Đảo-Mã-Pha thuộc ải Chi-Lăng --&nbsp; ở về phía nam cửa Nam-Quan khoảng 50 km --- và tàn quân Minh&nbsp; cũng phải theo cửa Nam-Quan mà trốn chạy về nước.. ..&nbsp; Cảnh này lại tái-diễn sau chiến-thắng oanh-liệt của vua Quang-Trung Nguyễn-Huệ&nbsp; ở Đống Đa vào mùa xuân năm Kỷ-dậu 1789.&nbsp; Tàn-quân nhà Thanh của Tôn Sĩ-Nghị&nbsp; cũng lũ-luợt chạy qua cửa Nam-Quan để thoát về Tàu.. .. </span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Từ thời Pháp-thuộc,&nbsp; dựa theo bức họa của Eug. Burnand vẽ năm 1887,&nbsp; biên-giới hai nước Trung--Việt ở Nam-Quan ngăn cách bởi một bức tường thành,&nbsp; ở giữa có cửa thông sang Trung-quốc và hai bên là hai ngọn núi khá cao.&nbsp; Trải qua những trận chiến Pháp-Hoa ở vùng biên-giới Lạng-Sơn,&nbsp; bức tường thành và cửa ngăn cách biên-giới hai nước nay không còn nữa.&nbsp; Còn bưu-thiếp của Collection de lUnion Commerciale Indochinoise&nbsp; lưu-hành khoảng đầu thế-kỷ XX cho thấy&nbsp; một cửa Nam-Quan sát chân núi khá cao;&nbsp; ngoài cửa chính có lính canh gác và còn có một cửa phụ ở bên cạnh và phía sau cửa ải có một tòa nhà lầu ở lưng-chừng núi.. .. Cũng vì chiến-tranh Pháp và Việt-Minh,&nbsp; cửa Nam-Quan&nbsp; này nay không còn.. .. Trước năm 1945,&nbsp; theo Nhiếp ảnh-gia Nguyễn Huy-Trực,&nbsp; thân-phụ ông là chủ-nhân Nhà thuốc Tây đầu-tiên ở tỉnh-lỵ Lạng-Sơn và thuở thiếu-thời ông trưởng-thành&nbsp; ở tỉnh Lạng.&nbsp;&nbsp; Ông cho biết ông và bạn có lần dùng xe đạp qua cửa Nam-Quan sang đất Bằng-Tường để mua pháo Tết vì ở đấy có nhiều loại pháo và rẻ hơn ở tỉnh-lỵ Lạng-Sơn.&nbsp; Bấy giờ ở cửa Nam-Quan có một đồn lính cửa Pháp và bên kia biên-giới thì có đồn binh của người Tàu.&nbsp; Cửa ải&nbsp; Nam-Quan không còn;&nbsp; chỉ cần đi qua cây gậy chắn ngang biên-giới là sang đất Tàu.. ..&nbsp; Vì ông và bạn bấy giờ còn nhỏ tuổi nên qua lại đồn canh ở biên-giới Nam-Quan không bị xét hỏi giấy tờ gì cả !&nbsp;&nbsp; Từ Đồng-Đăng lên Nam-Quan lác-đác có ít nhà nhỏ xây bằng gạch.&nbsp; Gần đồn lính của Pháp ở Nam-Quan thì có vài hàng quán nhỏ dành cho khách đi đường,&nbsp; lính-tráng trong đồn hoặc một ít người tài-xế lái xe vận-tải hay những người làm nghề khuân vác&nbsp; [mà ngày nay họ được gọi là dân cửu vạn] lẩn-quẩn ở đó chờ đêm xuống lẻn qua biên-giới sang Tàu để khuân hàng lậu về nước ta để kiếm tiền.&nbsp; Từ biên-giới Nam-Quan sang Bằng-Tường cũng vậy,&nbsp; nhà cửa thưa-thớt chứ không có phố-sá gì cả.&nbsp;&nbsp; Trong sách Việt-Nam Đất Nước Mến Yêu&nbsp; [Văn-hoá Xuất-bản,&nbsp; Montréal,&nbsp; Canada, 1984] của sử-gia quá-cố Nguyễn Khắc-Ngữ có tấm hình về tòa nhà lầu ba tầng ở cửa Nam-Quan.. ..&nbsp; Toà lầu này kiến-trúc theo lối tân-thời&nbsp; của người Tàu&nbsp; xây-dựng từ sau năm 1949&nbsp; là năm Mao Trạch-Đông kiểm-soát được toàn-thể Trung-Hoa lục-địa.&nbsp;&nbsp; Gần đây,&nbsp; anh Nguyễn Tiến-Tâm&nbsp; --&nbsp; con trai nhiếp-ảnh-gia Nguyễn Huy-Trực --&nbsp; có bức hình chụp năm 1996&nbsp; bên điếm canh nhỏ của Việt-Nam ở ngay sát đường biên-giới hai nước trước cửa Nam-Quan;&nbsp; sau lưng anh Tâm là cây gậy chắn ngang biên-giới hai nước và toà nhà lầu Mục-Nam-Quan của Trung-quốc.&nbsp; Theo các nhân-chứng năm 2001,&nbsp; đồn canh nhỏ của Việt-Nam đã bị rời sâu vào trong nội-địa nước ta và từ đồn canh ấy không còn nhìn thấy hình-bóng toà lầu Mục-Nam-Quan nữa.. ..</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: red; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">ẢI&nbsp;&nbsp; CHI-LĂNG</span></b></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Theo&nbsp; Đi&nbsp; thăm&nbsp; Đất&nbsp; Nước&nbsp; [của Hoàng Đạo-Thúy], thành Chi-Lăng&nbsp; ở vào cây-số&nbsp; thứ 109 tính từ Hà-Nội và tới cây-số thứ 154 thì tới tỉnh lỵ Lạng-Sơn.&nbsp; Theo Địa-dư Các Tỉnh Bắc-Kỳ,&nbsp;&nbsp; đường xe lửa từ tỉnh Bắc-Giang lên Lạng-Sơn,&nbsp; tới cây-số thứ 110&nbsp; là ga Tuần Muội&nbsp; [sau người Pháp đọc nhầm là Thanh-Muội]&nbsp; thuộc tổng Quang-Lang,&nbsp; Châu Ôn, tỉnh Lạng-Sơn. Tuần-Muội ở về phía tây-nam và cách tỉnh-lỵ Lạng-Sơn khoảng 37 km.&nbsp;&nbsp; Tại tổng Quan-Lang&nbsp; còn dấu-tích thành cổ và ải Chi-Lăng&nbsp; nổi tiêng trong Việt-sử ở&nbsp; xã Chi-Lăng&nbsp; [thuộc huyện Chi-Lăng&nbsp; tức Châu Ôn cũ].&nbsp;&nbsp;&nbsp; Cổ-thành Chi-Lăng&nbsp; do quân Minh đắp trong thời-gian xâm-luợc nước ta,&nbsp; chu-vi 154 trượng và cao 5 thước ta&nbsp; (6),&nbsp; nay chi còn nền cũ.&nbsp; Ở gần Cửa Nam của thành này còn phiến đá khắc 5 chữ Hoàng tráng nhị thập đội&nbsp; [nghĩa là :&nbsp; nơi trú đóng của đội quân Hoàng tráng thứ hai-mươi].&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tại xã Chi-Lăng cũng hiện còn dấu-tích ải Chi-Lăng&nbsp;&nbsp; và cửa Quỷ-Môn.&nbsp; Sách Vân Đài Loại Ngữ&nbsp; của Lê Qúy-Đôn&nbsp; dẫn sách Hoàn Vũ Ký&nbsp; của Trung-quốc&nbsp; cho biết&nbsp; cửa ải này ở về phía nam&nbsp; huyện Bắc-Lưu&nbsp; [thuộc châu Uất-Lâm,&nbsp; tỉnh Quảng-Tây bên Tàu]&nbsp; và cách huyện-ly Bắc-Lưu&nbsp; khoảng 30 dặm.&nbsp; Tại cửa quan này có hai khối đá đối nhau,&nbsp; ở giữa rộng khoảng 30 bộ&nbsp; [bước],&nbsp; tục gọi là Quỷ-Môn Quan.&nbsp; Mã-Viện sang đánh nước ta qua đấy có dựng bia và cho tạc rùa đá nay vẫn còn.. ..&nbsp; Về&nbsp; đời nhà Tấn&nbsp; (265-420) ,&nbsp; người Tàu sang nước ta,&nbsp; qua cửa quan này bị chết hại rất nhiều,&nbsp; nên có&nbsp; câu nói :&nbsp; Mười đi chín chẳng về !&nbsp; hay :&nbsp; Quỷ-Môn Quan,&nbsp; Quỷ-Môn quan;&nbsp; Thập nhân khử,&nbsp; nhất nhân hoàn&nbsp; [nghĩa là :&nbsp; Cửa ải Quỷ-Môn,&nbsp; mười người đến,&nbsp; chỉ có một người trở về !].&nbsp;&nbsp; Theo Phương-Đình Dư-Địa-Chí,&nbsp; ở xã Chi-Lăng&nbsp; [thuộc Châu Ôn]&nbsp; có quan-lộ hẹp,&nbsp; núi đá hiểm-trở;&nbsp; phía tây xã,&nbsp; suối sâu,&nbsp; nước độc;&nbsp; gọi là Quỷ-Môn Quan.&nbsp; Đời nhà Lê trung-hưng,&nbsp; sứ Tàu sang ta sách phong,&nbsp; ghét tên Quỷ-Môn Quan,&nbsp; đổi gọi là Úy-Thiên Quan.&nbsp; Gần cửa Quỷ-Môn,&nbsp; tương-truyền là đền thờ Mã-Viện;&nbsp; nhưng xem kỹ tượng đá thì lại là tượng đàn-bà;&nbsp; sự-tích của đền không được rõ-ràng,&nbsp; không sao khảo-xét được.&nbsp; Theo Việt-Hoa Thông Sứ Sử-Lược&nbsp; [của Bế Lãng-Ngoạn và Lê Văn-Hoè,&nbsp; Quốc-học Thư-xã xuất-bản,&nbsp; Hà-nội,&nbsp; 1943] thì sứ-bộ của ta sang Tàu đều dừng lại ở cửa ải này trước khi tiến đến cửa ải Nam-Quan. </span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Chi-Lăng&nbsp; vang danh trong Việt-sử với những trận đánh oanh-liệt&nbsp; ngăn chặn được cuộc xâm-lăng của quân nhà Tống dưới đời vua Lê Đại-Hành và nổi tiếng nhất là vụ tướng Liễu-Thăng của nhà Minh bị phục-binh của nghĩa-quân Bình-Định-Vương Lê-Lợi&nbsp; --&nbsp; do tướng Lê-Sát chỉ-huy --&nbsp; chém rơi đầu Liễu-Thăng ở Đảo-Mã-Pha thuộc Mã-Yên-Sơn, gần ải Chi-Lăng.. ..&nbsp; Trước đây,&nbsp; ở phía nam ải Chi-Lăng có hai khối đá lớn.&nbsp; Một khối có hình-dáng giống như thanh kiếm khổng-lồ gọi là Lê Tổ Kiếm&nbsp; [nghĩa là thanh kiếm của vua Lê Thái-Tổ tức Bình-Định-Vương Lê-Lợi] và một tượng đá có hình-dáng như một người&nbsp; quỳ gối và bị cụt đầu,&nbsp; gọi là Liễu-Thăng Thạch&nbsp; [tức đá Liễu-Thăng;&nbsp; ám-chỉ tướng nhà Minh là Liễu-Thăng bị tướng Lê-Sát chém cụt đầu ở Chi-Lăng].&nbsp; Sau trận chiến-tranh năm 1979,&nbsp; quân-đội Trung-Cộng đã cho phá-hủy các di-tích lịch-sử trên của ta ở Chi-Lăng !&nbsp; Đời nhà Trần,&nbsp; Thái-học-sinh Phạm Sư-Mạnh đi tuần-thú Xứ Lạng có làm thơ về vùng Chi-Lăng,&nbsp; nguyên-tác Hán-văn trong Hoàng-Việt Thi Tuyển&nbsp; của Bùi Huy-Bích;&nbsp; bản dịch nghĩa trong Hợp Tuyển Thơ Văn Việt-Nam&nbsp; như sau :&nbsp; Đi tuần-thú cõi biên-giới ngàn dặm,&nbsp; tiếng trống nện vang.&nbsp; Kéo quân qua những thành xa,&nbsp; trại vắng hình bé nhỏ.&nbsp; Phía nam,&nbsp; phía bắc khe núi,&nbsp; cờ đỏ chuyển vần.&nbsp; Đằng trước,&nbsp; đằng sau quân,&nbsp; trâu rừng kêu rống !&nbsp; Hang Lâu-Lãi sâu hơn đáy giếng.&nbsp; Ải Chi-Lăng hiểm-yếu bằng đường lên trời !&nbsp; Thúc ngựa,&nbsp; lướt gió,&nbsp; lên cao ngoảnh đầu lại,&nbsp; Trông về Kinh-đô&nbsp; [Thăng-Long] thấy bóng mây nghi-ngút phương tây.. .. </span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;</span><b><span style="COLOR: red; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">CHÂU&nbsp; ÔN</span></b></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Châu Ôn&nbsp; hay Ôn-Châu&nbsp; tức là huyện Chi-Lăng&nbsp;&nbsp; ở tỉnh Lạng-Sơn ngày nay.&nbsp;&nbsp;&nbsp; Xưa&nbsp; vùng Châu&nbsp; Ôn&nbsp; gọi là Khâu-Ôn.&nbsp;&nbsp; Theo An-Nam Chí Nguyên&nbsp; của Cao Hùng-Trưng,&nbsp; xưa ở Khâu-Ôn có núi Khâu-Mạ,&nbsp; đỉnh núi luôn-luôn phủ mây trắng.. ..&nbsp;&nbsp; Núi này ở về phía tây Châu Ôn&nbsp; và sau này gọi là núi Kháo-Sơn,&nbsp; có hai đỉnh cao có hình-dáng như hai mẹ con,&nbsp; cho nên có tục-danh là núi Kháo Mẹ&nbsp; và núi Kháo Con. Theo Đại-Nam Nhất Thống Chí,&nbsp; đời nhà Lý&nbsp; [1010-1224] đất Châu Ôn&nbsp; gọi là châu Quang-Lang;&nbsp; thời Minh-thuộc&nbsp; [1407-1427] gọi là Khâu-Ôn&nbsp; hay Huyện Ôn&nbsp; [thuộc phủ Lạng-Sơn].&nbsp; Thời Hậu-Lê,&nbsp; đổi Khâu-Ôn&nbsp; là Châu Ôn;&nbsp; có 5 tổng&nbsp; [Mai-Pha,&nbsp; Vân-Thê,&nbsp; Tràng-Quế,&nbsp; Bằng-Mạc,&nbsp; Sơn-Trang]&nbsp; và 57 phố,&nbsp; chợ,&nbsp; động,&nbsp; quán.&nbsp; Bấy giờ Châu Ôn&nbsp; thuôc phủ Trường-Khánh,&nbsp; trấn Lạng-Sơn.&nbsp; Theo Danh-mục Các Làng Xã Bắc-Kỳ -- Nomenclature des Communes du Tonkin&nbsp; [của Ngô Vi-Liễn,&nbsp; Imprimerie Mạc Dình-Tư,&nbsp; Hà-Nội,&nbsp; 1928]&nbsp; Châu Ôn còn 3 tổng :&nbsp; Quang-Lang,&nbsp; Sơn-Trang và Vân-Thê&nbsp; [2 tổng kia chuyển sang châu Cao-Lộc cùng tỉnh Lạng-Sơn].</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Theo Địa-dư Các Tỉnh Bắc-Kỳ,&nbsp; thời Pháp-thuộc,&nbsp; vị-trí và giới-hạn của Châu Ôn đã bị thu hẹp :&nbsp; phía bắc giáp tỉnh-lỵ Lạng-Sơn và châu Cao-Lộc,&nbsp; phía tây giáp châu Bằng-Mạc [do đất của Châu Ôn tách ra] và phía nam giáp tỉnh Bắc-Giang.&nbsp; Cư-dân Châu Ôn&nbsp; ngoài người Việt con có người Khách [tức người Tàu]&nbsp; và người Nùng Áo Trắng [sinh sống nhiều ở các trại Nho-Lâm,&nbsp; Thượng-Muộn,&nbsp; Na-Pá,&nbsp; Kim-Quan,&nbsp; Bản Lũng,&nbsp; Bản Cục].&nbsp; Theo Đại-Nam Nhất Thống Chí,&nbsp; hiện con dấu-tích các bảo&nbsp; [dồn đắp bằng đất] Đan-Sa ở xã Bình-Khê gần trấn-thành Lạng-Sơn,&nbsp; dồn binh ở xã Sơn-Trang và cửa Quang-Lang hay cửa ải Chi-Lăng ở xã Quang-Lang.</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Sau năm 1954,&nbsp; Châu Ôn đổi là huyện Thanh-Mai&nbsp; thuộc tỉnh Cao-Lạng&nbsp; [Cao-Bằng và Lạng-Sơn].&nbsp; Năm 1978,&nbsp; huyện Thanh-Mai được cải tên là huyện Chi-Lăng [thuộc tỉnh Lạng-Sơn];&nbsp; diện-tích 749 km2,&nbsp; có 2&nbsp; thị-trấn Chi-Lăng và Đồng Mỏ&nbsp; và 19 xã [Chi-Lăng,&nbsp; Bắc-Thủy,&nbsp; Gia-Lộc,&nbsp; Chiến-Thắng,&nbsp; Bằng-Mạc,&nbsp; Bằng-Hữu,&nbsp; Hoà-Bình,&nbsp; Hữu-Kiên,&nbsp; Quan-Lag-Lang,&nbsp; Y-tịch,&nbsp; Vạn-Linh và Thượng-Cường].&nbsp; Huyện-lỵ Chi-Lăng đặt tại thị-trấn Đồng Mỏ thuộc hữu-ngạn thượng-nguồn Sông Thương.&nbsp; Từ Đồng Mỏ có đường bộ và đường xe lửa đi tỉnh-lỵ Lạng-Sơn ở về phía đông-bắc,&nbsp; đi Hữu-Lũng,&nbsp; thị-trấn Kép và tỉnh-lỵ Bắc-Giang ở về phía tây-nam.. .. Thổ-sản nổi tiếng của Chi-Lăng có trái bầu;&nbsp; người địa-phương ăn thì không sao,&nbsp; nhưng người lạ mà ăn trái bầu này thì dễ bị bệnh vì không hợp thủy-thổ;&nbsp; do vậy phong-dao địa-phương có câu :&nbsp; Thứ-nhất thì bầu Chi-Lăng,&nbsp; Thứ-nhì cây khế Đồng-Đăng,&nbsp; Kỳ-Lừa !.. ..</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đời nhà Minh,&nbsp; Khâu-Ôn&nbsp; hay Châu Ôn vốn là nơi tranh-chấp giữa ta và Tàu.&nbsp; Theo Độc Sử Phương Dư Kỷ Yếu&nbsp; dẫn trong Phương-Đình Dư Địa Chí&nbsp; của Nguyễn Văn-Siêu,&nbsp;&nbsp; khoảng niên-hiệu Hồng-Vũ thứ 29,&nbsp; tức năm 1936 đời vua Minh Thái-Tổ,&nbsp; nhân dịp nước ta suy yếu&nbsp; --&nbsp; mọi quyền chính của nhà Trần đều ở trong tay Thái-sư Lê Quý-Ly&nbsp; [tức Hồ Quý-Ly],&nbsp; Tri-phủ Tư-Minh&nbsp; [thuộc tỉnh Quảng-Tây bên Tàu] tâu lên vua Minh rằng nước An-Nam cướp mất các huyện Khâu-Ôn,&nbsp; Như-Ngao,&nbsp; Khánh-Viễn,&nbsp; Uyên-Thoát.&nbsp; Vua nhà Minh xuống chiếu đòi nước ta phải trả lại các đất ấy;&nbsp; nhưng nhà Trần không thuận.&nbsp; Đầu niên-hiệu Vĩnh-Lạc&nbsp; [tức năm 1403 đời vua Minh Thành-Tổ],&nbsp; vua Minh sai Chinh-Nam Tướng-quân Hoàng-Trung đưa con cháu nhà Trần sang hàng nhà Minh là Trần Thiêm-Bình về nước.&nbsp; Nhưng quân Minh đã bị quân ngăn chận lại và Trần Thiêm-Bình bị giết chết ở Cầu Trạm,&nbsp; gần Khâu-Ôn.&nbsp; Năm 1407,&nbsp; quân Minh xâm-chiếm nước ta,&nbsp; tiêu-diệt nhà Hồ, &nbsp;cho huyện Khâu-Ôn vao phủ Tư-Minh thuộc tỉnh Quảng-Tây bên Tàu.&nbsp; Nếu không có chiến-thắng lẫy-lừng của Bình-Định-Vương Lê-Lợi đánh đuổi quân Minh về nước và thu-phục được nền tự-chủ của nước nhà,&nbsp; thì Châu Ôn đã bị sáp-nhập vào bản-đồ của Trung-quốc từ đầu thế-kỷ XV.. ..</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;</span><b><span style="COLOR: red; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">NÚI&nbsp; PHÂN-MAO</span></b></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Dựa trên các sách sử của Trung-quốc,&nbsp; điều không thể chối cãi&nbsp; là từ miền nam núi Ngũ-Lĩnh tức miền Hoa-Nam [hay nam Trung-quốc ngày nay] từng là đất của Bách-Việt mà nhà Hán,&nbsp; Đường đã dần-dần xâm-chiếm và đồng-hoá những bộ-lạc người Việt ở đấy thành người Trung-quốc trong suốt thời-gian lịch-sử của họ.&nbsp; Kết-quả là hiện nay trên thực-tế chỉ còn lại những ngưòi Trung-quốc nói ngôn-ngữ Hán Quảng-Đông,&nbsp; Hán&nbsp; Phúc-Kiến,&nbsp; Hán Triều-Châu v.v.. ..(7).&nbsp; Đời nhà Hán,&nbsp; Triệu-Đà -- lãnh-tụ bộ-lạc mường, mán hay man-di&nbsp; -- đã lấn chiếm nước Âu-Lạc của vua An-Dương-Vương ở Bắc-phần và bắc Trung-phần Việt-Nam ngày nay,&nbsp; sáp-nhập vào miền nam Ngũ-Lĩnh gồm vùng Quảng-Đông và Quảng-Tây lập ra nước Nam-Việt,&nbsp; độc-lập với nhà Hán.&nbsp;&nbsp; Đại-Việt Sử-Ký&nbsp; cũng từng chép :&nbsp; Nước Đại-Việt ở về phía nam núi Ngũ-Lĩnh,&nbsp; trời đã phân-định ranh-giới Bắc và Nam,&nbsp; kể từ khi thủy-tổ nước ta mở cõi nước Nam,&nbsp; trải qua thời-gian mạnh yếu có lúc khác nhau,&nbsp; mà hào-kiệt nước Nam đời nào cũng có.. ..&nbsp;&nbsp; Đời nhà Lý&nbsp; [1010-1224] Lý Thường Kiệt từng đem quân phá Tống&nbsp; ở Châu Khâm và&nbsp; Châu Liêm&nbsp; không phải là không có lý-do;&nbsp; mà đó là vì ở nơi ấy có núi Phân-Mao,&nbsp; từng là ranh-giới xưa của ta và Tàu.. ..&nbsp; Theo Dư Dịa Chí&nbsp; của Nguyễn-Trãi,&nbsp; núi Phân-Mao ở về phía tây lộ Hải-Đông khoảng 300 dặm.&nbsp; Nơi đây có kim tiêu quen gọi&nbsp;&nbsp; là cột đồng Mã-Viện.&nbsp; Đại-Nam Nhất Thống Chí&nbsp; và Lịch-triều Hiến-chương Loại-Chí&nbsp; [phần Dư Địa Chí]&nbsp; của Phan Huy-Chú&nbsp; dẫn sách Dư Địa Kỳ Thắng&nbsp; của Trung-quốc cũng nhắc là ranh giới Nam và Bắc&nbsp; [giữa ta và Tàu] thuộc biên-giới trấn An-Quảng xưa có núi Phân-Mao.&nbsp; Theo Gia-Khánh Trùng Tu Nhất Thống Chí&nbsp; [tức bộ sách địa-dư đời vua Gia-Khánh nhà Minh bên Tàu],&nbsp; núi Phân-Mao ở về phía tây Khâm-Châu,&nbsp; năm Tuyên-Đức thứ-hai,&nbsp; tức năm 1542,&nbsp; Mạc Đăng-Dung từng cắt hai châu Thạch-Tích và Niêm-Lãng và 4 động Cổ-Sum,&nbsp; Tê-Lẫm,&nbsp; Kim-Lặc và Vạn-Cát hiến nhà Minh;&nbsp; cho nên từ đấy toàn thể núi Phân-Mao thuộc về đồ-bản nhà Minh.&nbsp; Theo Đại-Thanh Nhất Thống Chí&nbsp; [tức bộ địa-dư của Trung-quốc dưới đời nhà Thanh],&nbsp; núi Phân-Mao ở động Cổ-Sâm,&nbsp; cách Khâm-Châu&nbsp; [hay Châu Khâm] khoảng 3 dặm về phía tây.&nbsp; Tương-truyền trên đỉnh núi Phân-Mao có thứ cỏ tranh,&nbsp; do ảnh-hưởng của khí-hậu và địa-thế,&nbsp; ngon cỏ tranh ngả theo hai hướng Bắc và Nam cho nên mới có tên gọi là núi Phân-Mao&nbsp; nghĩa là núi có thứ cỏ chia ra làm hai hướng.&nbsp; Đại-Việt Sử-Ký Toàn-thư&nbsp; của ta cũng ghi thêm là :&nbsp; Trương-truyền cột đồng Đông-Hán do Mã-Viện dựng ở động Cổ-Lâu thuộc Châu Khâm.. ..&nbsp; Gần đây,&nbsp; theo Bản-đồ miền Nam Trung-quốc có vẽ các tỉnh đời nhà Tống trong sách Chinas March Toward the Tropics&nbsp; của Harold Wiens&nbsp; [Yale University xuất-bản năm 1954],&nbsp; theo đó biên-giới của nhà Lý bao gồm cả núi Phân-Mao và một phần tỉnh Quảng-Tây tức các vùng Châu Khâm và Châu Liêm của nhà Tống xưa.. ..&nbsp; Trong dân-gian thì luôn nhắc tới chiến-thắng mùa xuân năm Kỷ-dậu 1789 và mộng ước của vua Quang-Trung Nguyễn-Huệ là đòi lại các đất Lưỡng-Quảng&nbsp; [Quảng-Đông và Quảng-Tây] của nước Nam-Việt xưa.. ..</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đại-Việt Sử-Ký Toàn-Thư&nbsp; dành 2 quyển trong phần ngoại-kỷ ghi chép về nhà Triệu của Triệu-Đà và coi nhà Triệu và nước Nam-Việt là vương-triều chính-thống của nước ta.&nbsp; Việt-Sử Tổng-Luận&nbsp; của Lê-Tung cũng xác-nhận nhà Triệu thuộc nước ta.. ..&nbsp; Gần đây,&nbsp; cùng với lập-trường mới nhượng-bộ Trung-quốc,&nbsp; Sử-gia Phan Huy-Lê,&nbsp; Giáo-sư Sử-học Trường Đại-học Tổng-hợp Hà-Nội,&nbsp; trong bài giới-thiệu Tác-giả,&nbsp; Văn-bản và tác-phẩm Đại-Việt Sử-Ký Toàn-Thư&nbsp; [Nhà xuất-bản Văn-hoá - Thông-tin,&nbsp; Hà-Nội, năm 2000] thì lại cho rằng các tác-giả Đại-Việt Sử-Ký Toàn-Thư&nbsp; đưa nhà Triệu của Triệu-Đà vào Quốc-sử là một sai-lầm kéo dài.. ..&nbsp; Khi cường-quyền và bạo-lực can-thiệp và định chuyện quốc-sử để phục-vụ quyền-lợi riêng tư cho phe đảng và không kể gì đến quyền-lợi của quốc-gia, dân-tộc và không biết ơn công-lao của tiền-nhân dựng nước và giữ nước thì chúng ta sẽ không ngạc-nhiên gì khi thấy nhiều vùng đất-đai thuộc lãnh-thổ và lãnh-hải nước ta được hiến-dâng cho ngoại-bang.&nbsp; Công và tội của các nhà cát-địa-sứ&nbsp; tân-thời&nbsp; bán đất-đai này sẽ bị lịch-sử kết tội và đời-đời&nbsp; nhắc-nhở tới những hành-vi hèn-kém này ! </span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: red; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">CHÚ-THÍCH</span></b></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">1.--&nbsp; Vị-trí và lược-sử châu Văn-Uyên :&nbsp; Theo Dư-Dịa-Chí&nbsp; của Nguyễn-Trãi,&nbsp; đất Văn-Uyên xưa là Châu Van.&nbsp; Theo Đại-Nam Nhất Thống Chí&nbsp; và&nbsp; Cương-mục,&nbsp;&nbsp; thời Minh-thuộc&nbsp; [1407-1427],&nbsp; đất Văn-Uyên&nbsp; được gọi là Huyện Uyên;&nbsp; đờu Hậu-Lê&nbsp; gọi là châu Văn-Uyên,&nbsp; cho thuộc phủ Trường-Khánh,&nbsp; thừa-tuyên Lạng-Sơn..&nbsp; Theo Đại-Nam Hội-điển Sự-lệ,&nbsp; đầu triều Nguyễn,&nbsp; châu Văn-Uyên vẫn thuộc phủ Trường-Khánh,&nbsp; trấn&nbsp; [sau năm 1832 gọi là tỉnh] Lạng-Sơn;&nbsp; có 7 tổng [Vĩnh-Dật,&nbsp; Uyên-Cốt,&nbsp; Hành-Lư,&nbsp; Dã-Nham,&nbsp; Quang-Bí,&nbsp; Nhâm-Lý,&nbsp; Hoá-Nhân] và 56 xã,&nbsp; động,&nbsp; phố, quán.&nbsp; Từ lâu,&nbsp; Thổ-quan họ Nguyễn-đình đời-đời thế-tập.&nbsp; Mãi đến năm 1836,&nbsp; vua Minh-Mệnh mới đặt chế-độ lưu-quan,&nbsp; dùng Tri-châu và Huấn-đạo người Việt thay cho chế-độ thổ-tù ở châu Văn-Uyên.&nbsp; Theo Đại-Nam Thực-Lục,&nbsp; năm 1835 vua Minh-Mệnh cho châu Văn-Uyên đổi thuộc về phủ Tràng-Định, vẫn thuộc tỉnh Lạng-Sơn.&nbsp; Châu-lỵ Văn-Uyên đặt tại xã Đồng-Đăng, đối-diện với cửa ải Nam-Quan.&nbsp; Tại xã Đồng-Đăng và xã Kim-Cúc lân-cận thì đặt đồn binh.. ..&nbsp; Tại Khe Ác và Khe Danh gần Đồng-Đăng&nbsp; xưa kia nổi tiếng là vùng ác-thủy&nbsp; [nước độc].&nbsp; Thời Pháp-thuộc,&nbsp; châu Văn-Uyên&nbsp; đổi là châu Cao-Lộc.&nbsp; Theo Địa-dư Các tỉnh Bắc-Kỳ,&nbsp;&nbsp; vị-trí và giới-hạn của châu Cao-Lộc như sau :&nbsp; bắc giáp châu Thoát-Lãng,&nbsp; phía tây là châu Điềm-He,&nbsp; phía đông giáp tỉnh Quảng-Đông của Trung-quốc và phía nam là Châu Ôn&nbsp; [nay là huyện Chi-Lăng].&nbsp; Về cư-dân,&nbsp; ngoài người Việt,&nbsp; các sắc-tộc chính ở châu Cao-Lộc là người Khách [tức người Tàu] và người Nùng Áo Trắng.&nbsp;&nbsp; Người Khách&nbsp; thì ở các phố Khách&nbsp; tại Đồng-Đăng,&nbsp; Nà-Hinh,&nbsp; Nà-Thường,&nbsp; Nà-Khía,&nbsp; Bằng-Kháo.&nbsp; Người Nùng Áo Trắng&nbsp; ở các trại Yên-Hùng,&nbsp; Xuân-Viện,&nbsp; Hạo-Dục,&nbsp; Bác-Viên,&nbsp; Yên-Lô,&nbsp; Hoà-Hiệu,&nbsp; Khòn-Nậm,&nbsp; Nà-Tuấn,&nbsp; Đồng-Quần,&nbsp; Hoa-Giáp,&nbsp; Lũng-Cống,&nbsp; Qúy-Hoà,&nbsp; Hùng-Thắng,&nbsp; Phong-Cói và ở quán Uyên-Cốt.&nbsp;&nbsp; Sau năm 1954,&nbsp; châu Cao-Lộc&nbsp; đổi là huyện Văn-Uyên.&nbsp; Năm 1964,&nbsp; huyện Văn-Uyên sáp-nhập với huyệt Thoát-Lãng thành huyện Văn-Lãng&nbsp; [tỉnh Lạng-Sơn].&nbsp; </span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">2.--&nbsp; Ông Ngô Thì-Vị&nbsp; [1774-1821]&nbsp; -- con trai út của Ngô Thời-Sĩ -- nhân dịp đi sứ Tàu,&nbsp; qua cửa Trấn-Nam,&nbsp; phải vào đài Chiêu-Đức và đình Tham-Đường ở cửa quan này,&nbsp; có làm bài thơ về Trấn-Nam&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Quan,&nbsp; ngụ ý chê người Trung-quốc về những cái hoa mỹ rỗng tuếch&nbsp; và sự&nbsp; trịch thượng của họ.</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">3.--&nbsp; Đại-Nam Quốc-sử Diễn-ca&nbsp; của Lê Ngô-Cát và Phạm Đình-Toái có câu về địa-danh Nam-Giao&nbsp; :&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nam-Giao là cõi ly minh,&nbsp; Thiên-thu định phận rành-rành từ xưa.&nbsp;&nbsp; Kinh Thư&nbsp; của Trung-quốc trong thiên Đế điển&nbsp; [tức thiên về vua Nghiêu] cũng có nhắc đến đất Nam-Giao.&nbsp; Như&nbsp; vậy tên Nam-Giao đã có trong kinh điển Trung-quốc từ lâu.</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">4.--&nbsp; Thuộc châu Hạ-Đống và Long-Châu&nbsp; thuộc phủ Thái-Bình,&nbsp; tỉnh Quảng-Tây bên Tàu có nhiều cửa ải của họ tiếp-giáp với địa-giới huyện Thất-Khê của ta như ải Cam-Môn&nbsp; [giáp với thôn Cụ-Khánh],&nbsp; ải Cổ-Thành&nbsp; [giáp với xã Nghĩa-Thầm],&nbsp; ải Nguyệt-Hoa&nbsp; [giáp với xã Bình-Lãng],&nbsp; ải Ba-Ôn&nbsp; [giáp với xã Nông-Đồn].</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">5.--&nbsp; Về Cột đồng Mã-Viện,&nbsp; theo Thủy Kinh Chú,&nbsp; năm 42 Tây-lịch,&nbsp; tức năm Hán Kiến-Vũ thứ 18,&nbsp; Mã-Viện&nbsp; [tức Mã Uyên-Minh] đã cho dựng kim tiêu&nbsp; [tức cột mốc bằng kim-loại],&nbsp; thường gọi là cột đồng&nbsp; hay đồng trụ để đánh dấu giới-hạn phía nam của nhà Đông-Hán với câu thề Đồng trụ chiết,&nbsp; Giao-Chỉ diệt&nbsp;&nbsp;&nbsp; (nghĩa là : Cột đồng mà bị đổ gẫy thì dân Giao-Chỉ,&nbsp; tức dân-tộc ta sẽ bị tiêu-diệt).&nbsp; Nhưng Thủy Kinh Chú&nbsp;&nbsp; không cho biết vị-trí cột đồng này ở đâu.</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">6.--&nbsp; 1 thước ta&nbsp;&nbsp; dài khoảng&nbsp; 40 cm.&nbsp; 1&nbsp; trượng&nbsp;&nbsp; có 10 thước ta,&nbsp; dài khoảng 4 m.</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">7.-- Riêng người Việt-Nam,&nbsp; nhờ tinh-thần độc-lập và tự-chủ,&nbsp; tuy học và đọc sách chữ Hán;&nbsp; nhưng dùng chữ Nôm&nbsp; [hay Nam] và không chịu nói theo tiếng của người Hán mà nói theo tiếng của ngôn-ngữ Việt,&nbsp; thường gọi là tiếng Hán-Việt nên không bị đồng-hoá về ngôn-ngữ.&nbsp; </span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><b><i><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">Hà Mai Phương</span></i></b></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: red; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">Một vài Hình Ảnh</span></b></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: red; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;</span></b></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: #3366ff; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">PhíaViệt-Nam</span></b></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">Ải Chi-Lăng và Nàng Tô-Thị</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: #542929; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'"><?xml:namespace prefix = v ns = "urn:schemas-microsoft-com:vml" /><v:shapetype id=_x0000_t75 path=" m@4@5 l@4@11@9@11@9@5 xe" stroked="f" filled="f" o:spt="75" o:preferrelative="t" coordsize="21600,21600"><v:stroke joinstyle="miter"></v:stroke><v:formulas><v:f eqn="if lineDrawn pixelLineWidth 0 "></v:f><v:f eqn="sum @0 1 0 "></v:f><v:f eqn="sum 0 0 @1 "></v:f><v:f eqn="prod @2 1 2 "></v:f><v:f eqn="prod @3 21600 pixelWidth "></v:f><v:f eqn="prod @3 21600 pixelHeight "></v:f><v:f eqn="sum @0 0 1 "></v:f><v:f eqn="prod @6 1 2 "></v:f><v:f eqn="prod @7 21600 pixelWidth "></v:f><v:f eqn="sum @8 21600 0 "></v:f><v:f eqn="prod @7 21600 pixelHeight "></v:f><v:f eqn="sum @10 21600 0 "></v:f></v:formulas><v:path o:connecttype="rect" gradientshapeok="t" o:extrusionok="f"></v:path><?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" /><o:lock v:ext="edit" aspectratio="t"></o:lock></v:shapetype><v:shape id=_x0000_s1057 style="WIDTH: 135pt; HEIGHT: 93.75pt" coordsize="21600,21600" alt="chilang.gif (20553 bytes)" type="#_x0000_t75"><v:imagedata o:href="http://www.vietnamtourism.com/images/i_tourist/i_ditich/dtlichsu/chilang.gif" src="namquan_files/image001.gif"></v:imagedata></v:shape>&nbsp;&nbsp;</span><span style="FONT-FAMILY: 'Times New Roman'"><v:shape id=_x0000_s1056 style="WIDTH: 129.75pt; HEIGHT: 168pt" coordsize="21600,21600" type="#_x0000_t75"> <v:imagedata src="namquan_files/image002.png" o:title=""></v:imagedata></v:shape>&nbsp;</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify">&nbsp;</p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: #542929; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;&nbsp;</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: #3366ff; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">Phía Trung-Hoa (Pingxiang)</span></b></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><v:shape id=_x0000_s1052 style="MARGIN-TOP: -3pt; Z-INDEX: 3; FLOAT: left; MARGIN-LEFT: -3pt; WIDTH: 107.25pt; POSITION: absolute; HEIGHT: 123.75pt; mso-wrap-distance-left: 15pt; mso-wrap-distance-top: 7.5pt; mso-wrap-distance-right: 15pt; mso-wrap-distance-bottom: 7.5pt; mso-position-vertical-relative: line" coordsize="21600,21600" alt="Soldiers by Friendship Gate." type="#_x0000_t75" o:allowoverlap="f"><v:imagedata src="namquan_files/image004.jpg" o:title="19pxgate90"></v:imagedata></v:shape></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><v:shape id=_x0000_s1053 style="MARGIN-TOP: 156.75pt; Z-INDEX: 2; FLOAT: left; MARGIN-LEFT: -0.75pt; WIDTH: 233.25pt; POSITION: absolute; HEIGHT: 71.25pt; mso-wrap-distance-left: 15pt; mso-wrap-distance-top: 7.5pt; mso-wrap-distance-right: 15pt; mso-wrap-distance-bottom: 7.5pt; mso-position-vertical-relative: line" coordsize="21600,21600" alt="Trading across mountain pass." type="#_x0000_t75" o:allowoverlap="f"><v:imagedata src="namquan_files/image005.jpg" o:title="19pxmountpass90"></v:imagedata></v:shape><v:shape id=_x0000_s1054 style="MARGIN-TOP: 12pt; Z-INDEX: 1; FLOAT: left; MARGIN-LEFT: 124.5pt; WIDTH: 189.75pt; POSITION: absolute; HEIGHT: 108pt; mso-wrap-distance-left: 15pt; mso-wrap-distance-top: 18.75pt; mso-wrap-distance-right: 15pt; mso-wrap-distance-bottom: 18.75pt; mso-position-vertical-relative: line" coordsize="21600,21600" alt="Map shows position of Pingxiang." type="#_x0000_t75" o:allowoverlap="f"><v:imagedata src="namquan_files/image006.jpg" o:title="19mapnanning"></v:imagedata></v:shape></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: #542929; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: #542929; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: #542929; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-BOTTOM: 12pt; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify">&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-BOTTOM: 12pt; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify">&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-BOTTOM: 12pt; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify">&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-BOTTOM: 12pt; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify">&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-BOTTOM: 12pt; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: #666666"><a style="COLOR: #993300; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.time.com/time/asia/magazine/99/0927/index.html">SEPTEMBER 27, 1999 VOL. 154 NO. 12</a></span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: #666666">PINGXIANG: Border War, 1979</span></b><span style="COLOR: #666666"><br /></span><b><span style="FONT-SIZE: 18pt; COLOR: #cc0000">A Nervous </span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-SIZE: 12pt; COLOR: black"><v:shape id=_x0000_s1055 style="WIDTH: 198.75pt; HEIGHT: 138pt" coordsize="21600,21600" alt="" type="#_x0000_t75"><v:imagedata o:href="http://a740.g.akamai.net/f/740/606/1d/image.pathfinder.com/time/asia/magazine/99/0927/pingxiang.jpg" src="namquan_files/image007.jpg"></v:imagedata></v:shape></span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="FONT-SIZE: 18pt; COLOR: #cc0000">China Invades Vietnam</span></b><span style="FONT-SIZE: 18pt; COLOR: #cc0000"><br /></span><span style="COLOR: #333333">By TERRY McCARTHY</span><span style="FONT-SIZE: 12pt; COLOR: black"> </span><span style="COLOR: #333333"><br /><br />Early in the morning of Feb. 17, 1979, Chinese artillery batteries and multiple rocket launchers opened fire all along the Vietnamese border with protracted barrages that shook the earth for miles around. Then 85,000 troops surged across the frontier in human-wave attacks like those China had used in Korea nearly three decades before. They were decimated: the well-dug-in Vietnamese cut down the Chinese troops with machine guns, while mines and booby traps did the rest.</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">Horrified by their losses, the Chinese quickly replaced the general in charge of the invasion that was meant, in </span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">Beijing's words, "to teach Vietnam a lesson," and concentrated their attack on neighboring provincial capitals. Using tanks and artillery, they quickly overran most of the desired towns: by March 5, after fierce house-to-house fighting, they captured the last one, Lang Son, across the border from Pingxiang. Then they began their withdrawal, proclaiming victory over the "Cubans of the Orient," as Chinese propaganda had dubbed them. By </span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">China</span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">'s own estimate, some 20,000 soldiers and civilians from both sides died in the 17-day war. </span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">Who learned the bigger lesson? The invasion demonstrated a contradiction that has forever bedeviled </span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">China's military and political leaders: good strategy, bad tactics. The decision to send what amounted to nearly 250,000 troops into Vietnam had been taken seven months before and was well-telegraphed to those who cared to listen. When Deng Xiaoping went to Washington in January 1979 to cement the normalization of China's relations with the United States, he told President Jimmy Carter in a private meeting what China was about to do--and why. Not only did Beijing feel Vietnam was acting ungratefully after all the assistance it had received during its war against the U.S., but in 1978 Hanoi had begun expelling Vietnamese of Chinese descent. Worst of all--it was cozying up to Moscow.</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">In November 1978 </span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">Vietnam</span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'"> signed a treaty of friendship and cooperation with the </span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">Soviet Union</span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">. A month later the Vietnamese invaded Cambodia, a Chinese ally. </span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">Although </span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">Hanoi</span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'"> said it was forced to do so to stop Pol Pot's genocide and to put an end to his cross-border attacks against </span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">Vietnam, Deng saw it as a calculated move by </span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">Moscow</span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'"> to use its allies to encircle </span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">China from the south. Soviet "adventurism" in </span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">Southeast Asia</span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'"> had to be stopped, Deng said, and he was calculating (correctly, it turned out) that </span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">Moscow would not intervene in a limited border war between China and Vietnam. Carter's National Security Adviser, Zbigniew Brzezinski, said Deng's explanation to Carter of his invasion plans, with its calculated defiance of the Soviets, was the "single most impressive demonstration of raw power politics" that he had ever seen. <br /><br />At the time Deng was consolidating his position as unchallenged leader of China. Having successfully negotiated normalization of relations with Washington, he wanted to send a strong signal to </span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">Moscow</span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'"> against further advances in </span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">Asia. He also thought the Carter Administration was being too soft on the Soviets, although he did not say as much to his American hosts.</span></p><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"></span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">Hanoi</span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">, for its part, was unfazed by Deng's demonstration of "raw power." The Vietnamese fought the Chinese with local militia, not bothering to send in any of the regular army divisions that were then taken up with the occupation of </span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">Cambodia. Indeed, Hanoi showed no sign of withdrawing those troops, despite Chinese demands that they do so: the subsequent guerrilla war in Cambodia would bog down Vietnam's soldiers and bedevil its foreign relations for more than a decade.</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">The towns captured by the Chinese were all just across the border; it is not clear whether </span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">China</span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'"> could have pushed much farther south. Having lost so many soldiers in taking the towns, the Chinese methodically blew up every building they could before withdrawing. Journalist Nayan Chanda, who visited the area shortly after the war, saw schools, hospitals, government buildings and houses all reduced to rubble.</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'"></span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-JUSTIFY: inter-ideograph; MARGIN-RIGHT: 69.75pt; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">The war also showed </span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">China just how outdated its battlefield tactics and weaponry were, prompting a major internal review of the capabilities of the People's Liberation Army. The thrust for military modernization continues to this day, even as the focus of China's generals has shifted from </span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">Vietnam</span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'"> back to Taiwan--a pesky little irritant that could cause </span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">Beijing</span><span style="COLOR: #333333; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'"> even bigger problems if it decides to administer another "lesson."</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="COLOR: #542929">&nbsp;</span></p></font>]]>
    </content>
</entry>

<entry>
    <title>Nơi Khai-nguyên Hàng-Hải</title>
    <link rel="alternate" type="text/html" href="http://www.dcvblogs.com/vuhuusan/2007/12/ni-khainguyen-hanghi.html" />
    <id>tag:www.dcvblogs.com,2007:/vuhuusan//28.484</id>

    <published>2007-12-09T15:43:48Z</published>
    <updated>2007-12-09T17:08:53Z</updated>

    <summary><![CDATA[&nbsp;Chương 4 Vịnh Bắc-Việt, Nơi Khai-nguyên Hàng-Hải 4.1 - Văn-minh và Hàng-hải Người khen nâng lên, kẻ chê đạp xuống; sự đánh giá văn-hóa Việt-Nam cổ thời rất là khác-biệt. Ðã có nhiều người cho rằng căn-bản của dân ta...]]></summary>
    <author>
        <name>dcvblogs</name>
        
    </author>
    
        <category term="Tài Liệu" scheme="http://www.sixapart.com/ns/types#category" />
    
        <category term="Vịnh Bắc Việt" scheme="http://www.sixapart.com/ns/types#category" />
    
    
    <content type="html" xml:lang="en-us" xml:base="http://www.dcvblogs.com/vuhuusan/">
        <![CDATA[<p align="center"><strong>&nbsp;Chương 4</strong></p>
<p align="center">Vịnh Bắc-Việt, Nơi Khai-nguyên Hàng-Hải</p>
<p align="justify">4.1 - Văn-minh và Hàng-hải</p>
<p align="justify">Người khen nâng lên, kẻ chê đạp xuống; sự đánh giá văn-hóa Việt-Nam cổ thời rất là khác-biệt. Ðã có nhiều người cho rằng căn-bản của dân ta quá thấp kém. Thí-dụ như trong cuốn sách &#8220;Tổ Quốc Ăn Năn&#8221;, tác-giả Nguyễn Gia Kiểng đã nhận-xét như sau:"&#133;chúng ta có lẽ là nền văn minh phù sa muộn nhất&#133; dấu ấn của nền văn minh phù sa: cần cù, nhẫn nại, nhưng thủ cựu, thiếu sáng kiến và thiếu óc mạo hiểm. Ông cho rằng tổ tiên của chúng ta qua nhiều ngàn năm, tuy sống bên cạnh biển, mà chỉ nhìn biển với cặp mắt sợ hãi, không sáng chế ra kỹ thuật hàng hải nào cả.</p>]]>
        <![CDATA[<p align="justify">Chúng tôi đồng-ý với Ông Kiểng là thế-hệ chúng ta có thể "thủ cựu, thiếu sáng kiến, thiếu óc mạo hiểm, và ... sợ biển", thế nhưng tiền-nhân chúng ta thì không. Một số chứng-cớ sau đây góp phần &#8220;biện-hộ&#8221; cho người xưa đã "không sợ biển" và nhiều ít vinh-danh những đóng góp to lớn của Ông Cha chúng ta trong kỹ-thuật hàng-hải. Ðặc-biệt đáng nhấn mạnh ở đây, hầu hết các công-trình phát-minh hàng-hải đều đã được thực-hiện bên bờ Vịnh Bắc-Việt và Biển Ðông. </p>
<p align="justify">Trong lịch-sử trái đất, mực nước biển đã dâng lên hạ xuống nhiều lần, sự sai-biệt có tới 150m. Cách nay chừng 18,000 năm, diện-tích Biển Đông chỉ bằng phân nửa hiện nay. Dân-cư vùng duyên-hải vốn sống bằng cách thu-lượm tôm cá, sò ốc. William Meacham khi nghiên-cứu bản-đồ địa-hình đáy biển, cho biết lúc xưa bờ Biển Đông tương-đối bằng phẳng nhưng bị sông, hồ nước chia cắt khắp nơi. Khoảng 14,000 năm trước đây, bè tre đã xuất-hiện như phương-tiện di-chuyển chính-yếu. </p>
<p align="center"><img height="450" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Image8.gif" width="376" border="0" /></p>
<p align="justify"><i>Hình Hình-thể Biển Đông với các đồng-bằng thời Băng-đá Theo ý-kiến của một số nhà khảo-cổ, dân-cư của vùng Nanhai, Sunda sinh sống trong môi-trường hàng-hải) </i></p>
<p align="justify">Nhà khảo-cổ Malcolm F. Farmer, trong khi đi tìm nguồn gốc thuyền bè, đã thấy rằng Vịnh Bắc-Việt là nơi có chứng-cớ nhiều truyền-thống liên-hệ nhất giữa những loại bè thời cổ với thuyền độc-mộc và với các ghe thuyền kiến-trúc có sườn, có khung sau này. Farmer cho rằng chính trên các loại bè này, người ta đã phát-minh cánh buồm đầu tiên. Chắc chắn "Bè có trang-bị Buồm" là phương-tiện viễn-duyên đầu tiên của nhân-loại. </p>
<p align="left">Rồi qua thời Hậu Băng-Ðá, nước biển cứ cao dần. Khi mực nước biển gần đạt đến mức-độ như hiện nay, chừng -25m, bờ biển đã lùi sâu vào lục-địa, gặp đúng chỗ địa-thế lởm chởm, lồi lõm. Nhiều nhóm người sống trên các hải-đảo. Sự liên-lạc, di-chuyển bằng thuyền bè trở nên càng ngày càng cần-thiết hơn.</p>
<p align="left">&nbsp;</p>
<p align="center">&nbsp;<img height="161" src="http://www.vuhuusan.net/Image14.gif" width="336" /></p><i>
<p align="center">Hình Bờ biển xứ ta lúc xưa phẳng-phiu chia cắt bởi nhiều sông, hồ, nay lởm chởm lồi lõm.</p></i>
<p align="justify">Các trở ngại, khó khăn trên biển đã thúc-đẩy con người phải phát-minh ra những cánh buồm, những bánh lái, những loại thuyền nhiều thân và những cơ-phận điều-khiển khác để việc hải-hành được an-toàn hơn, tránh bị thổi ra ngoài khơi. Meacham tin rằng 6,000 - 4,000 năm trước Tây-lịch, những nền văn-minh vùng châu-thổ sông Hồng bắt đầu nảy nở. Đồ gốm đã được nặn trên bàn xoay ở Đậu-Dương. Khoa khảo-cổ cũng tìm thấy dây câu, lưới bắt cá và thuyền độc-mộc. Phần lớn dân-cư sống bằng ngư-nghiệp. (4,000 năm TTL..). Nhiều người đặc-biệt thích-nghi với môi-trường nước, một số nhỏ hơn sống suốt đời trên bè, trên ghe. Một vài nhóm trở thành những bộ-lạc hải-du.</p><b>
<p align="justify">4.3 - Môi-trường Ðộc-nhất thời Băng Ðá tạo Sinh-hoạt hàng-hải</p></b>
<p align="justify">Vùng Ðông-Nam-Á nói chung và vùng Vịnh Bắc-Việt nói riêng là nơi duy-nhất trên thế-giới đã trải qua nhiều cuộc biến-chuyển mạnh mẽ về địa-lý và nhân-văn đặc-biệt ảnh-hưởng bởi môi-trường nước.</p>
<p align="justify">Một số nhà nghiên-cứu cho rằng sự thay đổi về địa-lý Biển Đông không những chỉ làm thay đổi môi-trường sinh-sống của sinh, thực-vật trên đất, dưới biển trong vùng mà còn tạo-dựng lên cả một cuộc biến-đổi to lớn làm phát-sinh những nền văn-minh quan-trọng về nông-ngư-nghiệp cùng hàng-hải có thể gọi là tiền-tiến của nhân-loại.</p>
<p align="justify">Tài-liệu mới nhất là cuốn "Eden in the East: The Drowned Continent of Southeast Asia" của Bác-Sĩ Stephen Oppenheimer, xuất bản tại Anh Quốc năm 1999. Dựa trên những kiến-thức cập nhật mới đây của các ngành khoa-học như di truyền học, nhân chủng học, thần thoại, văn học dân gian, ngôn ngữ học, hải dương học, khảo cổ học... để cho ra đời một cuốn sách làm cho nhiều nhà nghiên cứu Đông Nam Á học và khảo cổ học phải ngẩn ngơ... Có người còn cho rằng đây là một quyển sách quan trọng vào bậc nhất trong ngành Đông Nam Á học!</p>
<p align="justify">Chính tác-giả Oppenheimer đã viết: "Lý thuyết mà tôi trình bày trong cuốn sách này. lần đầu tiên, đặt Đông Nam Á vào trung tâm của các nguồn gốc văn hóa và văn minh. Tôi cho rằng nhiều người đã phải di tản khỏi vùng duyên hải của họ ở phương Đông vì lụt lội. Những người tỵ nạn này từ đó vun đấp những nền văn minh vĩ đại ở phương Tây."</p>
<p align="justify">Ðã có nhiều nhà khoa-học cố gắng giải-thích sự hình-thành nền văn-hóa hàng-hải của dân Việt nói riêng và của dân Đông-Nam-Á nói chung. Những sắc-thái đặc-thù này khác-biệt hẳn với sắc-thái văn-hóa hoàn-toàn lục-địa của Trung-Hoa.</p><b>
<p align="justify">4.4 - Sự phân-tán văn-minh theo đường hàng-hải</p></b>
<p align="justify">Lý-thuyết Norman cho rằng một số lớn dân Đông-Nam-Á khởi-sự trước hết bằng cuộc sống ở duyên-hải, sau này hội-nhập với dân-cư vùng cao-nguyên nhưng rồi trở về lại vùng đồng-bằng gần biển, tiếp-tục phát-triển nghề hàng-hải.</p>
<p align="justify">Wilheim G. Solheim cho rằng 6,000 năm trước, dân Đông-Nam-Á đã mạo-hiểm ra khơi vì nhu-cầu di-chuyển. Gió bão và hải-lưu của Biển Đông và Thái-bình-Dương đã cuốn trôi một số người tới Nhật-Bản, trong khi các nhóm khác bị quét sang Phi-luật-Tân, Nam-Dương và Melanesia. Tiếp theo, những toán dân-chúng di-chuyển tới các đảo ngoài khơi Thái-bình-Dương và sang Madagascar.</p>
<p align="center"><img height="301" src="http://www.vuhuusan.net/Image15.gif" width="374" /></p><i>
<p align="center">Hình Thuyết Buckminster Fuller về Hải-lộ phân-tán dân-cư. Khi nước biển dâng cao, từ Biển Đông di-dân đi ra khắp nơi theo các giai-đoạn phát-minh thuyền bè, buồm, xiếm...</p></i>
<p align="center">&nbsp;</p>
<p align="justify">Bàn rộng hơn thế nữa, cũng theo Solheim, Biển Đông của Đông-Nam-Á thời cổ còn là nơi phát-sinh những đường hàng-hải giao-tiếp với các nơi ở dọc biển Á-châu, Âu-châu, Phi-châu, Đại-dương-châu và cả Mỹ-châu. Solheim lý-luận rằng chỉ có sự kiện Đông-Nam-Á giữ vai-trò trung-tâm phân-tán như trục một cái bánh xe tỏa nan-hoa ra khắp nơi mới giải-thích được hiện-tượng lịch-sử là tại sao các chủng-tộc khác-biệt của loài người sống xa cách nhau trên khắp thế-giới lại có nhiều sự tương-đồng về sinh-hoạt văn-hóa như vậy! </p>
<p align="justify">Cùng nhận-định như Solheim nhưng đi trước ông tới 40 năm, nhà ngữ-học Pháp Paul Rivet đã làm nhiều cuộc nghiên-cứu và kết-luận rằng: "Từ vùng Đông-Nam Á-châu, một thứ ngôn-ngữ đã được truyền-bá đi bằng đường hàng-hải đến Nhật-Bản, Tasmania, Địa-trung-hải, Phi-châu và Mỹ-châu".</p>
<p align="center"><img height="269" src="http://www.vuhuusan.net/Image16.gif" width="320" /></p><i>
<p align="center">Hình Quan-niệm truyền-bá ngôn-ngữ ĐNÁ đi khắp thế-giới theo đường hàng-hải, khởi-sự từ Biển Đông (Paul Rivet, 1929.)</p></i>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Carl Sauer duyệt-xét những biến-chuyển về địa-lý Biển Đông trong thời-khoảng mười mấy ngàn năm trước đây, đưa ra kết-luận về tinh-thần tiến-bộ của cư-dân người Việt (Yüeh) thời cổ như sau: "Mực nước Biển Đông dâng cao làm tăng thêm nhịp bồi-đắp phù-sa lên những khu thung-lũng duyên-hà trong khi các vùng đất thấp tiếp-tục bị lụt. Dân-cư khi xưa sống rải rác thì lúc này thu lại thành các vùng cư-trú dọc theo nguồn nước... Một thế-giới mới đã thành-hình, sự thay đổi môi-trường vật-lý địa-dư đã trở thành cơ-hội thuận-tiện tối đa cho những dân thích phiêu-lưu và mong tiến-bộ... Người dân bỏ sự nhàn rỗi và nhờ trí-óc tò-mò để tìm thử-nghiệm, một cộng-đồng như vậy chỉ cần một thời-gian ngắn để chuyển-tiếp từ ngư-nghiệp sang thẳng nông-nghiệp. </p>
<p align="justify">Cùng với Meacham, Sauer ý-thức tầm quan-trọng của ngư-nghiệp và hàng-hải trong tiến-trình văn-minh Đông-Á thời cổ. Khác biệt hẳn với các nơi khác trên thế-giới, Biển Đông và vùng đất chung-quanh có tới hai vụ gió mùa trong một năm, nên hoàn-cảnh rất thuận-lợi cho sự phát-triển các ngành nông-nghiệp, ngư-nghiệp và hàng-hải.</p>
<p align="justify">Vì Biển Đông có hai mùa gió nên việc hải-hành viễn-duyên khi đi cũng như khi về rất tiện-lợi. Hàng-hải phát-triển kéo theo sự bành-trướng thương-mại. Sự trao đổi hàng-hóa nâng cao kỹ-thuật chế-tạo phẩm-vật và phương-tiện giao-thương.</p>
<p align="justify">Charles F. Keyes viết trong sách "The Golden Peninsula" rằng Việt-Nam là nơi phát-khởi nền văn-minh Hoà-Bình trải rộng khắp Đông-Nam-Á. Keyes đã xác-định hai điểm sau:</p>
<p align="justify">- Quá-trình văn-hóa thời tiền-sử của toàn vùng Đông-Nam-Á thường được chia ra làm những giai-đoạn mà chỉ-danh từng giai-đoạn lấy từ địa-danh các vị-trí khảo-cổ tiêu-biểu nhất như Hòa-Bình, Bắc-Sơn, Đông-Sơn; tất cả đều nằm trong Bắc-phần Việt-Nam (trang 182.)</p>
<p align="justify">- Thời-đại Đồ Đồng xuất hiện vào khoảng 3,000 đến 2,500 năm TTL. ở Đông-Nam-Á, nghĩa là khởi-sự sớm hơn Trung-Hoa và Ấn-Độ. Biểu-tượng chính của nền văn-minh này là những Trống Đồng tìm thấy ở nhiều nơi xa xăm như Fores, Sulawesi thuộc Nam-Dương quần-đảo. Những trống đồng như vậy đều được đúc tại vùng đất Đông-Sơn nhỏ hẹp của Việt-Nam, từ đó trống được phân-phối đi khắp Đông-Nam-Á theo đường hải-thương (trang 16.)</p>
<p align="justify">Nằm cạnh bờ Vịnh Bắc-Việt, nền văn-minh Đông-Sơn không những chi-phối các sinh-hoạt con người toàn vùng Đông-Nam-Á mà còn ảnh-hưởng xa hơn, ra các đảo Thái-Bình-Dương và đến cả Mỹ-Châu. Điều cần-thiết phải nhấn mạnh là Đông-Sơn, đặc-biệt hơn một số các nền văn-minh khác ở chỗ nó nhuốm mầu sắc hàng-hải, hướng về biển cả hơn là đất liền. Cũng nhờ đó, Đông-Sơn trở thành một trong các nền văn-minh có địa-bàn rộng rãi bao la nhất trong lịch-sử nhân-loại. Cho dù các văn-minh Cận-Đông, Ai-cập, Ấn-Độ, Trung-Hoa, Hy-Lạp, La-Mã... có chói sáng, có vĩ-đại mấy đi nữa; cũng chưa bao giờ được kể là đã đi xuyên đại-dương, vượt ngang qua nhiều đại-lục.</p>
<p align="center"><img height="364" src="http://www.vuhuusan.net/Image17.gif" width="350" /></p><i>
<p align="center">Hình Trống Đồng ghi-dấu khắp nơi ở Đông-Nam-Á (Trống Đông-Sơn, Viện Khảo Cổ Học, Hà Nội 1987, trang 131.)</p></i>
<p align="justify">Trong học-thuyết về nền văn-hóa Đông Sơn, Victor Golubev nói đến ảnh hưởng của nó ra các khu-vực lân cận. Ông nêu rõ các dấu tích ảnh hưởng của nền văn-minh Đông Sơn cổ ở những quốc-gia miền Nam và vùng ven biển Trung Quốc, quần-đảo Nhật Bản, ở các dân-tộc Nam Đảo châu Đại Dương. Là người ủng hộ tư tưởng về những cuộc tiếp xúc văn-hóa rộng lớn thời cổ, ông kiên trì nhấn mạnh nguồn gốc bản-địa của nền văn-hóa Đông Sơn. Trong cuộc tranh luận với E. Gaspardone, ông đã bác bỏ quan điểm chủ đạo trong ngành Hán-học Pháp rằng, dụng-cụ bằng kim-loại, cũng như nhiều đặc trưng khác của nền văn-minh và văn-hóa Trung Hoa, mới du nhập vào Việt-Nam sau khi nhà Hán xâm chiếm được đất Việt.</p>
<p align="justify">&nbsp;</p><b>
<p align="justify">4.5 - Ghe Thuyền Việt-Nam Kỹ-thuật cao trong Cổ-thời</p></b>
<p align="justify">Nhiều nhà nghiên-cứu hàng-hải Âu Mỹ đồng-ý với quan-điểm của Clinton R. Edwards rằng bờ biển Việt-Nam, đặc-biệt vùng Vịnh Bắc-Việt và Hoa-Nam chính là nơi quy-tụ nhiều kiểu ghe thuyền phong-phú hơn bất cứ nơi nào khác trên thế-giới. Kiến-trúc Tàu bè Việt-Nam rất độc đáo và đã đạt đến trình-độ kỹ-thuật cao ngay từ cổ-thời.</p>
<p align="justify">Edwards cho rằng những Người Biển (Orang Laut) ở Đông-Nam-Á thuộc những bộ-lạc Hải-du (Sea nomads) phát-triển truyền-thống hàng-hải trước khi chính họ mở mang nông-nghiệp.</p>
<p align="justify">Tuy vậy nhân-loại ít lưu-tâm tới quá-trình hàng-hải đó nếu như trong khoảng bốn thập-niên trở lại đây không có phong-trào nghiên-cứu những giao-tiếp Á-Mỹ trước thời Kha-Luân-Bố. Một trong những học-giả uy-tín nhất là Robert Heine Geldern đã nhận ra nhiều mối liên-hệ văn-hoá giữa Mỹ-Châu và bờ biển Á-Đông mà trong đó nền văn-hoá Đông-Sơn của Việt-Nam rất đậm nét. Vì giao-tiếp chỉ có thể thực-hiện được bằng đường biển nên người ta cần tìm hiểu kỹ-thuật kiến-trúc ghe thuyền. Đó là lý-do thúc đẩy các nhà xuất-bản cho in các cuốn sách nghiên-cứu mới và tái-bản những sách cũ mà tài-liệu liên-hệ đến nền hàng-hải cổ-thời của Việt-Nam. </p>
<p align="justify">&nbsp;</p><b> 
<p align="justify">4.6 - Người Việt Tiên-phong về Kiến-trúc Ghe thuyền</p></b>
<p align="justify">Chúng tôi đã điểm qua các thuyết về quá-trình hàng-hải của dân ta. Nếu quả thực như vây, chúng ta phải tìm kiếm xem dân ta đã phát-minh và hoàn-thiện ghe tàu như thế nào thì mới hoàn-toàn thuyết-phục được mọi người. </p>
<p align="justify">Nói về những thành-quả phát-minh của người Việt trong công-tác kiến-trúc thuyền bè, người ta sẽ phải viết rất nhiều. Ðề-tài này chưa được nhiều người Việt-Nam nghiên-cứu và viết thành sách. Riêng chúng tôi trong khi đi tìm ra những điểm mốc căn-bản cho kỹ-thuật hàng-hải thời cổ, đã thấy rằng nhân-loại nói chung đã đi từ khúc cây làm bè, chuyển dần qua thuyền, cải tiến buồm để di-chuyển mọi hướng (quan-trọng nhất là đi chếch ngược với hướng gió) và có lẽ sau cùng nghĩ ra cách vận-chuyển (lái) thuyền tự-động (không cần người lái). Những mốc bức-phá quan-trọng nhất về hàng-hải đúng là đã xảy ra tại Biển Ðông (mà cái nôi là Vịnh Bắc-Việt). </p>
<p align="justify">Sau đây, chúng tôi xin lược-kê các phát-minh được thực-hiện bởi tiền-nhân người Việt chúng ta, như sau:</p>
<p align="justify">- Chế-tạo bè tre gồm những cây tre có đặc-tính nổi tự nó. Bè tre không giống ghe thuyền phải tạo ra khoảng không-gian kín nước mới nổi được. Sự kết hợp các cây tre tạo tác-dụng như những thuyền nhiều thân mang lại sự bền-vững (Moment cân-bằng là bội-số gia-tăng theo số các thân thuyền).</p>
<p align="justify">- Phát-minh buồm để có thể sử-dụng được cả hai mặt (for and aft lugsail). Tiến-bộ của kỹ-thuật này giúp thuyền đi chếch ngược hướng gió. </p>
<p align="justify">- Phát-minh các ô kín nước (áp-dụng từ đặc tính tự nổi của (bè) tre) để gia-tăng sự an-toàn. Kỹ-thuật kiến-trúc mềm dẻo, làm thân thuyền thích-nghi với sóng gió. </p>
<p align="justify">- Phát-minh bánh lái đặt ở đuôi trục giữa thuyền giúp thuyền vận-chuyển dễ-dàng và chính-xác hơn.</p>
<p align="justify">- Phát-minh cây xiếm, phối-hợp xiếm với buồm để thuyền tư-động lái theo một hướng cố-định với hướng gió. </p><b>
<p align="justify"> 4.7 - Khả-năng  Ði Biển của Bè Tre Việt-Nam</p></b>
<p align="justify">Theo Malcolm F. Farmer, không những bè mảng là thứ "phương-tiện nổi" đầu tiên được trang-bị buồm; bè mảng còn là tiền thân của các loại ghe thuyền có nhiều khoang kín nước ngày nay. </p>
<p align="justify">- Bè tre tự nó, theo kiến-trúc là một loại phương-tiện nổi gồm nhiều ngăn kín nước là những lóng tre. Người Việt là giống dân độc-nhất sử-dụng đủ các loại tre, bương, luồng&#133; trong mọi kiến-trúc ghe thuyền. </p>
<p align="justify">Stephen C. Jett, một học-giả uy-tín chuyên kháo-cứu về khả-năng vượt biển của nhân-loại về cổ-thời, đã phát-biểu trong bài "Diffusion versus Independent Development" như sau:"...sức tác-dụng của sóng gió tăng theo với quán-tính của những con thuyền nặng nề và do đó cũng làm cho nó dễ bị bể vỡ hơn. Một con thuyền hay một chiếc bè nhỏ bé nhưng kiến-trúc tốt, dễ dàng hoàn-tất việc vượt đại-dương. Ðặc-biệt tốt hơn nữa nếu kiến-trúc lại mềm dẻo, tỷ như các loại bè ghép bằng cây tre và loại thuyền kết bởi ván gỗ (flexible construction as lashed-log rafts and sewn-plank boats)...". Đặc-tính kiến-trúc và cả hai loại bè và thuyền ưu-việt kể trên đồng-thời đều hiện-hữu tại Việt-Nam.</p> <b>
<p>4.8 - Phát-minh Bánh lái</p></b>
<p align="justify">Một mẫu thuyền bằng đồ gốm, có đầy đủ bánh lái và trục bánh lái nằm giữa đuôi thuyền được tìm thấy ở Quảng-Châu, gần kinh-đô Phiên-Ngung của nước Nam-Việt trong thời nhà Triệu (thế-kỷ thứ nhất TTL.) Phát-minh quan-trọng về lái tàu đã khởi-sự trước đó 6 thế-kỷ trước thời-gian này. Hình-ảnh bánh lái đã xuất-hiện trên trống đồng Đông-Sơn. Vì vùng Quảng-Châu là đất những người người Việt cổ sinh sống trước kia, nên người ta tìm ra mẫu thuyền có bánh lái ở đó.</p>
<p>Cùng suy-luận như vậy, Per Sorensen cho rằng quan-sát những hình thuyền trên trống đồng, người ta nhận thấy có sự cải tiến kỹ-thuật bánh lái theo thời-gian. Trên trống loại OB 89 (Tam Ongbah, Thái-Lan), bánh lái như được gắn vào một cái trục ở đuôi thuyền. Trên trống Hữu-Chung (Việt-Nam), bánh lái được thiết-trí tương-tự như một số ghe thuyền ngày nay. Những thay đổi này đã mở đường cho những khả-năng hải-hành ngoài biển rộng.</p>
<p>Ảnh-hưởng to lớn đến ngành hàng-hải như vậy mà chỉ được người Âu-Châu biết đến và áp-dụng vào thế-kỷ thứ 12. Một số sử-gia cận-đại phát-biểu rằng chiếc bánh lái sau khi gắn vào đuôi Tàu Tây-phương đã đẩy mạnh thời-đại thám-hiểm cùng khám-phá đất lạ và dĩ-nhiên sau đó, bành-trướng chế-độ thuộc-địa. Văn-minh Tây-phương, thường được gọi là "Rise of the White" bắt đầu bộc-phát mạnh cũng từ đấy.</p>
<p align="center"><img height="179" src="http://www.vuhuusan.net/Image18.gif" width="336" /></p><i>
<p align="center">Hình Bánh lái trên thuyền Quảng-Châu với phần ghi chú "không phải của người Tàu " (China's Civilization, Arthur Cotterell &amp; David Morgan, New york, 1975.)</p></i>
<p align="center"><img height="101" src="http://www.vuhuusan.net/Image19.gif" width="336" /></p><i>
<p align="center">Hình Trang-cụ kiểu bánh lái được gắn nơi lái các thuyền Đông-Sơn (700 năm trước Tây-Lịch).</p></i>
<p align="justify">Theo những khám-phá kể trên, từ thời văn-minh Đông-Sơn, dân Việt chúng ta đã phát-minh ra cách-thức điều-chinh độ sâu của các bánh lái và cây xiếm. Đến nay, những trang-cụ độc-đáo này còn sử-dụng trên các loại bè vùng từ cửa sông Thái-Bình đến bờ biển miền Trung, trên các ghe bàu, ghe nang,... chạy khắp nơi trong nước.</p><b>
<p>  4.9 - Chế-tác buồm đi trước thời-đại</p></b>
<p align="justify">Một số khoa-học-gia, trong đó có Edwin Doran Jr., Christian J. Buys &amp; Sheli O. Smith đã nghiên-cứu và phát-hiện rằng cánh buồm đầu tiên xuất-hiện giữa vùng Biển Đông (Việt-Nam / Ðông-Dương) và New Guinea. Đồ gốm và đá mài tìm thấy trên các đảo trong vùng này chứng-minh những giao-tiếp bằng đường biển đã xảy ra trước khoảng thời-gian 1500 TTL. (Doran, 1973: trang 49.) Khuynh-hướng chung ngày nay đã xác-nhận rằng đồ gốm, đá mài và các tiến-triển văn-minh đầu-tiên đã khởi đi từ vùng bìa lục-địa tại Việt-Nam. </p>
<p align="justify">Khảo-cổ-học tuy xác-nhận buồm hình chữ-nhật đã có ở Ai-cập 4,000 năm TTL nhưng cũng cho biết dáng vẻ ấy ít thay đổi suốt mấy ngàn năm sau đó. Thuyền Ai-cập có thể rất to lớn nhưng thường thường di-chuyển được nhờ mái chèo và chỉ hải-hành cận-duyên. Qua đến ngày tàn của đế-quốc này (khoảng 1,200 TTL), loại thuyền buồm thực-sự của người đảo Crete cũng như dân xứ Phoenicia mới xuất-hiện.</p>
<p align="justify">Ở Á-Đông, người ta có thể thừa nhận trong khoảng thiên-kỷ thứ 4 hay thứ 3 TTL, người Đông-Dương (và những dân-cư Bách-Việt sống trên đất Tàu ngày nay) đã sử-dụng ghe thuyền đi biển. Theo lẽ đương nhiên, bè mảng chạy buồm có khả-năng đi biển đã xuất-hiện trước khi ấy một thời-gian (Doran, 1971.)</p>
<p align="center"><img height="180" src="http://www.vuhuusan.net/Image20.gif" width="258" /></p><i>
<p align="center">Hình Thuyền buồm Ai-cập.</p></i>
<p align="justify">Vì người Tàu thời đó còn đang sinh sống trên thượng nguồn sông Hoàng-hà, rất xa biển; những thành-tích này hẳn nhiên phải do người Việt, lúc đó đang cư-ngụ ở vùng duyên-hải, thực-hiện. Các tác-giả trên đồng-ý rằng kỹ-thuật chạy buồm Á-Đông đã ảnh-hưởng sang Tây-phương, ngược lại với chiều-hướng suy-tưởng thông-thường.</p>
<p align="center"><img height="172" src="http://www.vuhuusan.net/Image21.gif" width="288" /></p><i>
<p align="center">Hình Thuyền Việt-Nam trang bị các loại buồm tứ-giác tiến-bộ nhất</p></i>
<p align="justify">Nhà khảo-cổ Malcolm F. Farmer, trong khi đi tìm nguồn gốc thuyền bè, đã thấy rằng Vịnh Bắc-Việt là nơi có chứng-cớ nhiều truyền-thống liên-hệ nhất giữa những loại bè thời cổ với thuyền độc-mộc và với các ghe thuyền kiến-trúc có sườn, có khung sau này. Farmer cho rằng chính trên các loại bè, người ta đã phát-minh cánh buồm đầu tiên. Chắc chắn "Bè có trang-bị Buồm" là phương-tiện viễn-duyên đầu tiên của nhân-loại. </p>
<p align="justify">Theo Robert Temple, tác-giả cuốn sách "The Genius of China, 3,000 years of Science, Discovery and invention", sự tiến-triển vĩ-đại nhất về kỹ-thuật chạy buồm là ở chỗ người Á-Đông đã đi từ chiếc buồm đơn-độc, vuông-vức hình chữ-nhật chuyển sang loại buồm với những cây nẹp ngang, có thể trở mạn để đón gió ở cả mặt sau (fore and aft rig - lug sails) mà nhờ đó thuyền có thể chạy chếch ngược về hướng gió (to sail into the wind.) Ông cũng cho rằng :"Không ngoa khi nói rằng thế thượng-phong của Hải-quân Anh phần lớn nhờ ở tình-trạng sẵn sàng áp-dụng những phát-minh (Á-Đông) nhanh hơn các cường-quốc Âu-Châu khác".</p>
<p align="justify">Sách "Science and Civilization of China" quyển 4, mà tác-giả là 2 người Tàu (Wang Ling &amp; Lu Gwei Djen) và một người Anh (Joseph Needham) đã trích-dẫn cuốn sách Nam-Châu Dị-Vật-Chí của Wang Chen và cho rằng "vào thế-kỷ thứ 3, Tàu thuyền ở Bắc và Bắc Trung-phần Việt-Nam đã rất tiến-bộ, chở được tới 700 người và 260 tấn hàng-hoá, mang bốn buồm không đặt thẳng một hàng dọc nên đón được nhiều gió từ những hướng khác nhau." </p>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="center"><img height="514" src="http://www.vuhuusan.net/Image22.gif" width="381" /></p><i>
<p align="center">Hình So sánh khả-năng chạy ngược gió của các loại buồm. Lưu ý các thuyền Tây-phương thường chỉ chạy xuôi gió. Buồm Việt-Nam "fore and aft" giúp thuyền đi sát 45 độ so với hướng gió thổi tới.</p></i> <b>
<p>4.10 - Kiến-trúc Mềm Dẻo</p></b>
<p align="justify">Phát-minh của người Việt trong công-tác kiến-trúc tàu bè đáng kể là ở sự mềm dẻo.</p>
<p align="justify">Bà Fran<b>ç</b>oise Aubaile-Sallenave viết nguyên cả một cuốn sách đề-cập rất kỹ-lưỡng đến cách-thức đóng ghe rất tiến-bộ của Việt-Nam. Theo tác-giả này, hai đặc-tính tiên-quyết trong việc kiến-trúc là ghe Tàu phải nhẹ nhàng và có sức chịu đựng. Cả hai ưu-điểm này đều tìm thấy ở các loại thuyền Việt-Nam. Trong khi kỹ-thuật Tây-phương cố gắng cải-tiến làm sao cho sườn và vỏ Tàu được cứng cáp thì người Việt-Nam từ nhiều ngàn năm qua, vẫn tiếp-tục giữ truyền-thống đóng tàu cho mềm dẻo. Bà Sallenave cũng như những kỹ-thuật-gia kim-thời mới đây đã khám-phá ra rằng muốn kiến-trúc cứng cáp thì vật-liệu đóng thuyền phải nặng, quán-tính do đó cũng tăng theo, dễ bị bể vỡ vì sóng gió; thuyền nhẹ và mềm dẻo thì lực tác-dụng của sóng nước được phân-phối đều trên toàn thể thân thuyền nên sức chịu đựng gia-tăng và thuyền đươc bền bỉ hơn.</p>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="center"><img height="227" src="http://www.vuhuusan.net/Image23.gif" width="382" /></p><i>
<p align="center">Hình So sánh Kiến-trúc Tàu thuyền Việt-Nam và Âu-Châu.</p></i>
<p>- <b>Thuyền gỗ khâu</b>. Cũng trong quan niệm kiến-trúc cổ-truyền và độc-đáo như trên, người Việt đã phát-triển khả-năng vượt bực trong việc chế-tạo nhiều loại thuyền không có cả khung hay sườn mà chỉ với một cách đơn-giản là kết những mảnh ván gỗ vào nhau bằng giây.Những mối giây này được kết vào bên trong nên phiá ngoài vỏ thuyền vẫn phẳng phiu. </p>
<p align="justify">Pierre-Yves Manguin viết trong bài "Sewn-Plank Craft of South-East Asia - A Preliminary Survey" như sau: " Nhiều du-khách người Âu-Châu vào thế-kỷ thứ 17 và 18 đã đề-cập đến các thuyền của Việt-Nam bằng ván khâu lại với nhau. Thuyền này chạy biển hay cận-duyên, được gọi là Sinja (thuyền-gia), thường đi lại buôn bán với Thái-Lan và có nhiều tại Trung-phần Việt-Nam. Một vài chiếc chuyên chở tới 150 tấn hàng-hoá".</p>
<p align="justify">Manguin cho rằng kỹ-thuật đóng ghe loại này đã lan-truyền khắp các đảo Thái-Bình-Dương qua đường hàng-hải. Nơi trang 338 của cuốn sách trên, tác-giả còn ước đoán rằng vào thời-gian người Ai-cập đóng chiếc Tàu cho hoàng-gia Cheops (2,600 TTL), dân Đông-Nam-Á khởi-sự hải-hành ra các đảo ngoài Thái-Bình-Dương bằng thuyền, có thể phỏng-định là loại ván khâu rất đặc-biệt này.</p>
<p align="justify">Loại ghe này được sử-dụng vài nơi trên thế-giới kể cả Nam-Mỹ, nhưng không ở đâu ghe đạt kỹ-thuật cao và trọng-tải lớn như tại Việt-Nam.</p>
<p align="center"><img height="160" src="http://www.vuhuusan.net/Image24.gif" width="291" /></p><i>
<p align="center">Hình Kiến-trúc thuyền ván khâu Việt-Nam, có loại chuyên chở được 150 tấn hàng-hoá.</p></i>
<p align="justify">- <b>Thuyền đáy mê.</b> Theo cuốn sách "Thanh-thư về Tàu thuyền cận-duyên miền nam Việt-Nam", thuyền có đáy mê (nan tre) là loại thuyền thông-dụng nhất ở Việt-Nam. Hai lối kiến-trúc thường được dùng là đáy mê với mạn thuyền bằng ván be (thành gỗ) và vỏ thuyền hoàn toàn bằng mê. Loại thuyền có vỏ bằng tre đan này nhẹ hơn loại gỗ, dễ thấm dầu chai, chịu đựợc sóng cồn, sức dội khi ủi bãi và không bị mọt ăn. Hơn nữa tre rất dễ tìm và rẻ hơn loại gỗ tốt, còn đáy tre đan lại dễ thay, vừa nhanh lại vừa rẻ tiền. Đáy nan dùng được chừng 5 năm.Kiến-trúc đan bằng nan tre phổ-cập rất rộng rãi với các cỡ ghe thuyền lớn nhỏ, nhiều kiểu như canoes, dinghies, thuyền thúng, thuyền buôn và thuyền đánh cá các loại."</p>
<p align="justify">Jean Yves Claeys cho biết nhiều ghe thuyền ở vùng Nha-Trang có toàn thân làm bằng tre. Chỉ có phần trên làm bằng gỗ. Vỏ thuyền mê có thể bền bỉ tới 20 năm nếu được sử-dụng và bảo-trì đúng cách. </p>
<p>Người Việt-Nam là dân-tộc độc-nhất đã phát-triển và hoàn-thiện đủ mọi loại ghe thuyền bằng tre này.</p>
<p align="center"><img height="150" src="http://www.vuhuusan.net/Image25.gif" width="382" /></p><i>
<p align="center">Hình Thuyền làm bằng nan tre và gỗ. Loại này có lái và cây xiếm mũi (thường gọi là lui-hạ) điều-chỉnh được chiều sâu..</p></i><b>
<p align="justify">4.11 - Thuyền nhiều khoang kín nước</p></b>
<p align="justify">Theo Malcolm F. Farmer, không những bè mảng là thứ "phương-tiện nổi" đầu tiên được trang-bị buồm; bè mảng còn là tiền thân của các loại ghe thuyền có nhiều khoang kín nước ngày nay. Tất cả Tàu thuyền hiện-đại đều kiến trúc thành nhiều ngăn. Người Tàu đã cố-ý "nhận vơ" nhưng người Việt chúng ta mới thực-sự đúng là tác giả của phát-minh quan-trọng này. Lý-lẽ kể ra như sau:</p>
<p align="justify">- Bè tre tự nó, theo kiến-trúc là một loại phương-tiện nổi gồm nhiều ngăn kín nước là những lóng tre. Người Việt là giống dân độc-nhất sử-dụng đủ các loại tre, bương trong mọi kiến-trúc ghe thuyền. </p>
<p align="justify">- Bè là phương-tiện nổi đầu tiên xuất-hiện ở người Đông-Nam-Á. Người tiền-sử rất có thể đã dùng nó để vượt biển sang Úc-Châu từ 40,000- 50,000 năm trước. Người Việt phát-triển những kiểu bè mà kỹ-thuật tân-tiến nhất với nhiều buồm, nhiều xiếm và có khả-năng tự-động giữ hướng đi. </p>
<p align="justify">- Khoa khảo-cổ cho biết những thuyền có khoang kín đầu tiên tìm thấy tại Hoa-Nam, nơi người Việt cư-ngụ lúc xưa. Người Việt có loại thuyền rất cổ là Thuyền Ô vì kiến tạo bằng nhiều ô (khoang) kín nước.</p>
<p align="justify">- Người Việt-Nam khởi-sự việc đánh cá trước cả thời Băng Đá; trong khi người Trung-Hoa còn sinh-sống trong nội-địa. Ngư-phủ Việt-Nam thích bán cá tươi nên từ lâu hô chứa cá sống trong ngăn đựng nước, có lỗ thông ra ngoài. Đó là một loại khoang kín nước vậy.</p>
<p align="justify">- Thuyền của Việt-Nam không những đã được kiến trúc nhiều ngăn, người Việt còn thấu-triệt nguyên-lý cân-bằng Tàu thuyền. Chúng ta đựng các chất lỏng trong bình, chai, lọ tĩnh trước khi xếp vào khoang thuyền; chúng ta đã nắm được một kỹ-thuật còn cao hơn cả ngăn kín nước nữa. </p><b>
<p align="justify">4.12 - Cây Xiếm, Phát-minh Đảo lộn hàng-hải.</p></b>
<p align="justify">Sau khi người Bắc-Phi và Âu-Châu biết sử-dụng buồm tứ-giác, họ nhờ gió đẩy thuyền đi, nhưng cánh buồm thường thường trở thành vô-dụng vì không mấy khi thuyền hoàn toàn thuận gió xuôi. Người Địa-trung-hải vì đó, phát-triển tối-đa năng-lực chèo thuyền của những kẻ nô-lệ, có thuyền trang-bị tới 5, 6 hàng chèo và hàng trăm chiếc giầm. Cuộc đời người chèo thuyền thật nặng nhọc, quá khốn khổ và rất ngắn ngủi. Họ phải làm việc dưới roi vọt, miệng bị nút chặt, chân khoá trong xiềng-xích, thiếu thốn thực-phẩm; ít người sống quá 3 năm và khi kiệt lực rồi, chủ quăng xác xuống biển.</p>
<p align="justify">Cho đến thế-kỷ thứ 15, dù đã có nhiều cải-tiến trong kỹ-thuật kiến-trúc, ngoài khả-năng thông thường chạy xuôi gió, Tàu thuyền Âu-Châu cũng chỉ có thể lợi-dụng gió ngang và đành bỏ cuộc khi gió mạnh thổi ngược chiều.</p>
<p align="justify">Cùng trong sưu-tập "Man Across the Ocean" dẫn-chứng ở đoạn trên, Stephen C. Jett cho rằng: "các ghe Á-Đông, nếu nói đến vận-tốc chạy biển, vượt xa chiếc thuyền chạy nhanh nhất trên thế-giới mà còn đi ngược lại được gần với hướng gió hơn bất cứ một chiếc thuyền buồm nào khác". Ngoài hệ-thống buồm hữu-hiệu, cây xiếm đã góp công không nhỏ trong những thành-tích làm tăng-tiến khả-năng hải-hành.</p>
<p align="justify">Trở lại với các hình thuyền trên trống đồng Đông-Sơn, ta thấy tiền-thân của những cây xiếm cũng đã xuất-hiện. Vì trên những thuyền này không có người chèo, nên ta cũng có thể hiểu được là thuyền chạy bằng buồm. Ngoài mái chèo lái ở đuôi và mũi, cả đuôi thuyền lẫn mũi thuyền đều có những bộ-phận đưa ra như mảnh ván nhằm chống với sức giạt. Tổng-hợp tác-dụng của nước trên các trang cụ này đủ để giúp cho thuyền giữ một hướng cố-định, nhờ đó thuyền có thể chạy thẳng về phía trước. Hình-ảnh này không khác mấy với hình-ảnh những loại trang-cụ trên bè mảng hay thuyền buồm ngày nay: Bè ở Bắc và TrungViệt-Nam có tới 3 hay 4 cây xiếm, còn loại thuyền buồm tiêu-biểu ngày nay ở Trung-phần Việt-Nam có bánh lái cùng cây xiếm hình đoản-đao (dagger-board) đặt trong hai lỗ khoét ra ở cả mũi lẫn lái. Loại xiếm ấy không choán chỗ và tỏ ra rất hữu-hiệu trong việc vận-chuyển. Cũng như bánh lái, tầm sâu của xiếm có thể điều-chỉnh được dễ dàng nên thuyền có thể đi vào những nơi nông cạn.</p>
<p align="justify">Giả-thuyết về nguồn gốc cây xiếm này không trái ngược với giả-thuyết nguồn gốc bánh lái được nêu ở một đoạn trên, nó phát-biểu thêm rằng cả bánh lái và cây xiếm đều có thể đã được dân Việt phát-minh nhiều thế-kỷ trước công-nguyên. Cho đến nay, những nét khắc chìm trên trống đồng Đông-Sơn vẫn là chứng-tích cổ nhất và hiển-nhiên nhất về sự phát-minh lái và xiếm.</p>
<p align="justify">Những cây xiếm hình-dáng tương-tự, kể cả thứ xiếm như cây đoản-đao (dagger boards), cũng tìm thấy ở Mỹ-Châu. Các nhà khảo-cổ tin rằng đã có thời chúng được coi như vật thiêng-liêng, làm đồ thờ cúng trong những đền đài. </p>
<p align="justify">Cả một hệ-thống xiếm và buồm phức-tạp do thổ-dân Nam-Mỹ sử-dụng trên các bè Balsa trước thời Columbus làm nhiều khoa-học-gia kinh-ngạc và đồng-ý là đã có sự liên-hệ Á-Mỹ trong cổ-thời.</p>
<p align="center"><img height="212" src="http://www.vuhuusan.net/Image26.gif" width="350" /></p><i>
<p align="center">Hình <b>Trên</b>: Thuyền Đông-Sơn, ngoài 2 mái chèo để lái ra (1), còn có 2 trang-cụ như cây xiếm dùng chống giạt (2). Cột buồm nằm ở nửa phần thuyền phía trước (3).</p>
<p align="center"><b>Dưới</b>: Ghe Nang (nan?) ở Trung-phần Việt-Nam với giả-thuyết về sự tiến-hoá của bánh lái và cây xiếm, đi từ những trang-cụ đã có từ cổ-thời.</p></i><b>
<p align="justify">4.13 - Phát-triển đủ mọi loại Xiếm</p></b>
<p align="justify">Người Việt đã phát-triển đủ mọi loại xiếm. Ngoài loại "phù-bản" thời cổ được tả trong cổ-thư Trung-Hoa, loại "mũi, lái" nói trong đoạn trên người ta còn thấy những loại như sau:</p>
<p align="justify">Trên thế-giới, thuyền có xiếm thường được trang-bị một cây xiếm, nhưng ở xứ ta thuyền bè có thể được gắn nhiều cây xiếm:</p>
<p align="justify">a- Hệ-thống hai xiếm đồng thời ở mũi và ở lái. Cách này chỉ thấy trên các loại thuyền Việt-Nam.</p>
<p align="justify">b- Hệ thống "lái" phối-hợp nhiều tới 3, 4 cây xiếm, một chiếc bánh lái (hay chèo lái). Trên các bè mảng Trung và Bắc-phần Việt-Nam, cách thiết-trí này là một phát-kiến đặc-thù, giúp cho việc vận-chuyển trên biển thật dễ dàng.</p>
<p align="justify">Khi bánh lái gài thẳng lại, chiếc bè như được trang-bị bởi 4 cây xiếm và nhờ điều-chỉnh tầm sâu của xiếm, người ta có thể giữ cho chiếc bè chay buồm theo đúng hướng đi so với chiều gió, không cần người bẻ lái.</p>
<p align="center"><img height="203" src="http://www.vuhuusan.net/Image27.gif" width="384" /></p><i>
<p align="center">Hình Bè ở Nam-Mỹ-Châu với hệ-thống 9 cây xiếm và một buồm, có chiếc dùng hai buồm. So sánh với bè tre Việt-Nam</p></i>
<p align="justify">Nhìn sang Mỹ-Châu, người ta thấy Thor Hayerdahl đã bỏ nhiều công-lao và cũng tìm ra rằng bè Nam-Mỹ vốn có khả-năng không cần dùng mái chèo hay bánh lái, mà vẫn giữ hướng đi một cách tự-động so với chiều gió. Kỹ-thuật này có lẽ bị lãng quên hồi mới gần đây. Phương-thức vận-chuyển bằng cách điều-chỉnh tầm sâu những cây xiếm được Hayerdahl diễn-tả rõ ràng bằng hình vẽ.</p>
<p align="justify">Phát-hiện này rất quan-trọng dùng minh-chứng rằng các bè Á và Mỹ phải cùng một nguồn-gốc, suy rộng ra người Việt chắc chắn đã đến Mỹ-Châu trong cổ-thời.</p>
<p align="justify">Ngoài biển rộng, khi gió mùa thổi đều đặn, nhiều thuyền Việt-Nam giữ hướng đi khá tốt. Kỹ-thuật này được tạm gọi là lái tự-động (auto-pilot). Một ngư-phủ trong khi cho thuyền chạy vẩn rảnh chân tay để thả lưới hay bắt cá.</p>
<p align="justify">&nbsp;</p><b>
<p align="justify">4.14 - Tính-chất Liên-tục của Phát-minh cùng Công-trình Hoàn-bị Kỹ-thuật</p></b>
<p align="justify">Căn-cứ vào những phát-minh hàng-hải, các nhà nghiên-cứu thấy rằng không có nơi nào trên thế-giới hội-tụ đầy đủ mọi loại ghe thuyền to, nhỏ; thân đơn, kép; mọi loại xiếm mũi, lái, giữa; mọi loại bơi chêo mái chèo mũi, lái, giữa; mọi loại buồm vuông, tam-gác, đơn kép... như tại Việt-Nam. </p>
<p align="justify">Đủ mọi loại trang-cụ thuyền bè cùng nhau đã tồn tại ở Việt-Nam. Người ta thấy trang-cụ thô-sơ nhất là cách ôm một cây tre bơi bắng tay, đạp bằng chân ra khơi đâm cá. Người ta cũng thấy loại thuyền hoàn-bị nhất, phức-tạp nhất như thân gỗ vỏ mê tre, trang bị năm buồm, có lái, có xiếm, phao phụ bên hông thuyền và không cần người bẻ lái, thuyền tự-động giữ lấy hướng đi</p>
<p align="center"><img height="196" src="http://www.vuhuusan.net/Image28.gif" width="288" /></p><i>
<p align="center">Hình Bè Sầm Sơn Thanh-Hóa với trang-bị tối-đa 3 cánh buồm và 4 cây xiếm. </p></i><b>
<p align="justify">4.15 - Kỹ-thuật cao đi trước Tiến-bộ Ðiện-tử</p></b>
<p align="justify">Chúng tôi đã có ý tìm xem có cuốn sách nào bằng Việt-ngữ nói tới cách "lái thuyền bè tự-động" ở xứ ta nhưng không thấy. Nếu có người Việt-Nam nào viết trước đây thì tài-liệu đã mất mà nay thì có thể rằng kỹ-thuật ấy đã bị sao lãng và cũng không còn ai quan-tâm tới chăng!</p>
<p align="justify">Tuy sách Việt-ngữ không có hay bị mất mát, nhưng chúng tôi đã nhận ra nhiều tài-liệu rất lạ đến từ Tây-phương. Các tác-giả này là người Âu-Mỹ đã biết và viết ra nhiều điều về hoạt-động hàng-hải người Việt hơn là chính người Việt viết cho chúng ta.</p>
<p align="justify">Trong nhóm này, hai Ông Pierre Huard và Maurice Durand cho rằng thủy-thủ những ghe Mành ở Cửa Lò biết cách-thức điều-chỉnh các cánh buồm làm sao cho phù-hợp với sự điều-chỉnh cây xiếm để chiếc ghe có thể chạy mà không cần người lái trên những hải-lộ định trước. Thuyền tự nó lái lấy và giữ hướng đi trong nhiều ngày dài, không cần phải sửa đổi tay lái. </p>
<p align="justify">Hai ông này dẫn-chứng tài-liệu của Laurent: "Voyage de Pierre Poivre" (1749-1750), viết lại theo lời kể khá chi-tiết của nhà ngoại-giao Pierre Poivre về cách điều-khiển "thuyền có lái tự-động". Ông Poivre là người Pháp đến thăm viếng Việt-Nam với hy-vọng được Vua chúa ta mở cửa giao-thương. Ông đã quan-sát và báo-cáo các sinh-hoạt của dân Việt-Nam trong những năm vào giữa thế-kỷ 18. (1749-1750.)</p>
<p align="justify">Vào khoảng thập-niên 1930, nhà hàng-hải Pierre Paris cũng nghiên-cứu tới việc sử-dụng những cây xiếm trên thuyền Việt-Nam. Sau khi đã duyệt qua một số tài-liệu bàn về ghe thuyền quốc-tế, Paris tin tưởng rằng sự tương-đồng trong cách thức đi bè "không người lái" của người Việt-Nam và thổ-dân Nam-Mỹ là một trong nhiều cách chứng-minh xác-đáng nhất về sự giao-liên trực-tiếp giữa hai đại-châu Á và Mỹ. Qua cuốn sách "Phác-thảo dân-tộc-học Thuyền bè Việt-nam", Ông đề-nghị các khoa-học-gia nên nghiên-cứu sâu xa đặc-tính của những cây xiếm và bè Trung-phần Việt-Nam. </p><b></b><b>
<p align="justify">4.16 - Tính-cách Nhân-bản trong Sinh-hoạt Hàng-hải Việt-Nam</p></b>
<p align="justify">Dựa vào những tài-liệu khả-hữu, phương-tiện hạn hẹp, lại chỉ được nghiên-cứu sơ-sài, người viết xin tóm lược hai nhận xét sau đây có tính-cách "triết-lý" đặc-thù về phát-minh hàng-hải Việt trong cổ-thời :</p>
<p align="justify">- Tính-cách nhân-bản và thiên-nhiên. Trong khi tung-hoành trên biển cả kiểu "giang-sơn nào anh-hùng ấy" nhưng dân Việt không làm hải-tặc, không chứng-cớ nào buộc tội tổ-tiển ta về cướp bóc tài-sản hay bắt bớ nô-lệ dù chỉ là để chèo thuyền. Tinh-thần sáng tạo của dân ta hướng về nhân-bản và thuận theo thiên-nhiên. Phát-minh như buồm, xiếm... mục-đích là lợi-dung sức gió thay cho sức người khỏi phải lao-lực trên mái chèo. Kiến-trúc Tàu bè mềm dẻo để toàn thể thân thuyền hấp-thụ bạo-lực của sóng gió, nhờ đó thuyền được bền bỉ và cũng giúp thủy-thủ đỡ mệt mỏi vì sức dội.</p>
<p align="justify">- Tính-cách thảo-mộc. Người Việt yêu nước và cũng yêu cây cỏ. Phát-minh liên-hệ đến kiến-trúc Tàu bè dùng toàn nguyên-liệu thảo-mộc tại địa-phương. Dù là giống-dân tiên-phong trong lãnh-vực luyện-kim đồng và sắt, nhưng cho đến thời-đại gần đây người Việt-Nam vẫn hoàn-toàn không dùng đến kim-loại hay khoáng-chất, dù chỉ một chiếc đinh hay một lớp sơn xảm trong khi đóng ráp ghe thuyền.</p>
<p align="center"><img height="412" src="http://www.vuhuusan.net/Image29.gif" width="336" /></p>
<p align="center">&nbsp;</p><i>
<p align="center">Hình Các kiểu ghe thuyền Việt-Nam đầu thế-kỷ 20 theo Pierre Paris - Ông Pierre Paris và nhiều học-giả Âu-Mỹ như Ðô-Ðốc Paris, Joseph Needham&#133; biết nhiều về cổ Hàng-hải Việt-Nam hơn chúng ta ngày nay rất nhiều</p></i>
<p align="justify">Hải-sử phần Cổ Việt trong vùng Vịnh Bắc-Việt hoàn toàn còn là những vùng đất chưa được khai-thác nhưng đầy các điều hưũ-ích và thích-thú. Trên đường đi tìm về nguồn gốc, thiết-tưởng người dân Việt chúng ta nên dành ra một chút thì-giờ và tiền bạc nghiên-cứu rộng rãi hơn lãnh-vực này.</p>
<p align="justify">Trường-hợp những đoạn trên chưa đủ thuyết-phục, xin mời quý độc-giả theo-dõi thêm tài-liệu chi-tiết chúng tôi liệt-kê đầy-đủ mấy chục phát-minh hàng-hải của người Việ-Nam trong cuốn sách tới. </p><b>
<p align="justify">4.17 - Sự tiến-bộ của Hải-Quân thời Hùng-Vương</p></b>
<p align="justify">Khoa khảo-cổ Trung-Hoa từ đời Tống đã phát-triển, nhưng không có một ai chú-ý tới trống đồng với tư-cách một hiện-vật khảo-cổ. Lư Đại Lâm với tác-phẩm "Khảo-Cổ-Đồ" không hề nhắc tới trống đồng vì cho rằng không có minh-văn, không có giá-trị sử-liệu.. Sự lầm lẫn này quá lớn và đáng tiếc.Vì nhiều lầm lẫn khác cũng tương-tự như vậy, văn-hoá Tàu không coi trọng hàng-hải. Học-giả người Anh, G. R. Worcester, đã từng than rằng:</p>
<p align="justify">"... Và thế là chúng ta đành bỏ cuộc tìm kiếm với niềm tiếc rằng những tranh vẽ, văn-chương và sản-phẩm văn-hoá của người Tàu dưới mọi hình-thức, mặc dù có truyền-thống đáng kể liên-tục hơn 2,000 năm mà lại chứa đựng rất ít về tàu thuyền và thủy-thủ". (The Junks &amp; Sampans of the Yangtze, U.S. Naval Institute Press, 1971: 17.)</p>
<p align="justify">Ngày nay, ai ai cũng biết rằng nội-dung hình vẽ thường thường có khả-năng biểu-lộ tư-tưởng tương-đương với cả ngàn lời, ngàn chữ. Trong khoa khảo-cổ, các nét trạm-trổ hay họa-hình thời xưa có giá-trị vô cùng to lớn. Riêng Trống Đồng là những sử-liệu quan-trọng, tự nó nói lên được nhiều chi-tiết xác-thực hơn cả "minh-văn".</p>
<p align="justify">Tình-trạng quân thủy thời Hùng Vương đã được người xưa diễn-tả rõ ràng qua các hình khắc trên trống đồng của nền văn-minh Đông-Sơn.</p>
<p align="justify">Rất nhiều chi-tiết chứng-minh rằng Hái-Quân thời Hùng-Vương cách nay khoảng 3,000 năm đã tiến-bộ đến độ ít người ngờ tới. Các sách nghiên-cứu về Trống Đồng như cuốn "Trống Đông-Sơn", do Viện Khảo Cổ Học biên-soạn (Hà Nội, 1987), trình-bày rất nhiều chi-tiết lý-thú. Chúng tôi chỉ xin kể sơ-lược một số điểm chính-yếu trong đoạn sau đây:</p>
<p align="justify">- Chiến-thuyền lớn có bánh lái (Phạm-Cao-Dương, Lịch-sử dân-tộc-Việt-Nam, quyển 1, 1987, trang 45-46.) Chiến-thuyền Tây-phương chỉ trang-bị bánh lái vào thế-kỷ thứ XII (China's Civilization, Arthur Cotterell &amp; David Morgan, New York, 1975.)</p>
<p align="justify">- Chiến-thuyền đi biển chạy buồm. Loại này không có thủy-binh chèo chống, có trụ để dựng cột buồm. </p>
<p align="justify">- Vũ-khí trang bị rất hùng hậu, gồm nhiều loại :</p>
<p align="justify">* Tầm xa: nỏ thần thiết-trí trên thượng tầng kiến-trúc. Cánh nỏ và mũi tên lớn quá khổ (2-3m). Có lẽ dùng tác-xạ liên-hoàn loại tên bằng đồng hay tên lửa.</p>
<p align="justify">* Tầm trung: giáo dàì (2-2.5m)</p>
<p align="justify">* Cận-chiến: rìu chiến</p>
<p align="justify">* Nhiều thuyền có chó săn (quân-khuyển)</p>
<p align="justify">* Một số thủy-binh mang khiên, lá chắn.</p>
<p align="center"><img height="184" src="http://www.vuhuusan.net/Image30.gif" width="336" /></p><i></i><i>
<p align="center">Hình Nỏ thần trên chiến-thuyền đời Hùng-Vương. Pháo-tháp có lẽ được trang-bị cơ-quan máy móc để nạp pháo-tiễn liên-hoàn. Loại Nỏ thần này được ghi nhận trong sử Trung-Hoa.</p></i>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">- Kiến-trúc chiến-thuyền có những điểm khác nhau cho những nhiệm-vụ đặc-biệt </p>
<p align="justify">* có lầu cao, dùng như pháo-tháp cho vũ-khí tầm xa.</p>
<p align="justify">* thuyền thân cong dùng cho nhu-cầu vận-tốc cao.</p>
<p align="justify">* thuyền có phần mũi thấp hơn để đổ-bộ được dễ dàng.</p>
<p align="center"><img height="264" src="http://www.vuhuusan.net/Image31.gif" width="288" /></p><i>
<p align="center">Hình Chiến-thuyền có lầu (lâu-thuyền). Pháo-tiễn hướng về trước mũi hay sau lái tuỳ theo nhiệm-vụ tác-chiến.</p></i>
<p align="justify">- Tổ-chức Hải-Quân có lẽ đã khá chặt chẽ. Người ta quan-sát thấy những chi-tiết như: </p>
<p align="justify">* cách trang-phục của thủy-thủ khác nhau tùy theo nhiệm-vụ như thuyền-trưởng, thủy-binh cận-chiến, nhân-viên hải-pháo hay lái thuyền. Tuy nét vẽ không đủ chi-tiết nhưng khi phân-tích, người ta thấy dường như Hải-Quân thời Hùng-Vương đã có đồng-phục riêng cho từng chuyên-nghiệp.</p>
<p align="justify">* cách phân-nhiệm chiến-thuyền trong hạm-đội như: </p>
<p align="justify">(i) thuyền chuyên dùng tấn-công với tư-thế sẵn sàng của chiến-binh và pháo-tiễn hướng về phía trước. </p>
<p align="justify">(ii) thuyền hộ-tống hay giữ an-ninh hậu-tập có pháo-tiễn và chiến-binh quay về phía sau.</p>
<p align="justify">* phương-tiện truyền-tin và mệnh-lệnh: trồng đồng. </p>
<p align="justify">- Một điểm đáng kể ra nữa là nhiều chiến-thuyền được trang-bị ở phía mũi một trang cụ giống như cây xiếm. Trang cụ loại này giúp cho thuyền chạy buồm có thể thay đổi hướng đi hay giữ đúng hướng không cần người lái. Kỹ-thuật Việt-Nam kiểu "auto-pilot" này là một bước tiến vượt thời-gian mà phần lớn Tàu thuyền chỉ mới thực-hiện được ngày nay.</p><b></b><b>
<p align="justify">4.18 - Thử-nghiệm Thuyết Xuyên-dương</p></b>
<p align="justify">Robert Von Heine-Geldern trong suốt một phần tư thế-kỷ kể từ 1939, đã viết rất nhiều về giao-tiếp Á-Mỹ. Ông liệt-kê thành hệ-thống những điểm tương-đồng, lưu-tâm khá nhiều đến nền văn-minh Đông-Sơn. Ông cho rằng những dân đi biển ở Đông-Á tới Mỹ-Châu trước hết, người Ấn nhờ học hỏi kinh-nghiệm người đi trước, cũng vượt Thái-Bình-Dương đến sau. Tàu thuyền Đông-Nam-Á và Ấn-Độ có thể cũng hải-hành về hướng Tây, vượt cả Đại-Tây-Dương tới Mỹ một cách ngẫu-nhiên.</p>
<p align="justify">Người nước ngoài không những thích-thú trong việc khảo-cứu thuyền bè nước ta, còn quyết-tâm muốn thử-nghiệm lý-thuyết "người Việt cổ xuyên-dương" nữa. Những người can-đảm, không sợ hiểm-nguy làm bè Ðông-Sơn, đóng thuyền Cổ Việt để vượt đại-dương có lẽ đã xảy ra từ lâu. Chúng tôi được biết có chuyến đi như vậy được báo-cáo chính-thức qua sách vở kèm theo cả bản-đồ hải-hành cùng sơ-đồ kiến-trúc thuyền bè của họ. </p>
<p align="justify">- Kuno Knobl, một phóng-viên Đức làm cho Đài truyền-hình Úc, sau khi thấy "chùm giây buộc nút" (knotted cords - kết-thằng) trong viện Bảo-tàng ở Huế giống y hệt loại Quipu của Peru, nhìn nhận ra rằng đã có sự giao-tiếp trực-tiếp giữa hai nơi Việt-Mỹ. Để chứng-minh niềm tin của mình là đúng đắn, Knobl đứng ra quyên góp tiền bạc, đóng thuyền buồm theo kiểu cổ-thời Đế-quốc Nam-Việt để xuyên Thái-Bình-Dương. Knobl muốn khởi-hành chuyến thử-nghiệm từ Việt-Nam nhưng không được vì lúc đó chiến-tranh đang hồi ác-liệt. Knobt đành thực-hiện chuyến đi từ Hồng-Kông sang Mỹ-châu với thủy-thủ-đoàn 8 người từ Hồng-Kông đi Mỹ-Châu trên thuyền Taiki (Thái-Cực). Nếu biết cách trị con hà (teredo, một loại sâu gỗ thân mềm, đục thủng ván gỗ làm hư hỏng vỏ thuyền) thì họ đã tới bờ biển Mỹ-Châu. Cuối cùng, Kuno Knobl phải nhờ thương-thuyền cứu giúp. Sách viết bằng Đức-ngữ, nhan-đề "Thái-Cực", bản dịch Anh-ngữ: Tai-Ki, Journey to the Point of No Return. </p>
<p align="center"><img height="253" src="http://www.vuhuusan.net/Image32.gif" width="297" /></p><i>
<p align="center">Hình Hình thuyền Taiki đóng theo kiểu thuyền người cổ Việt với 2 cây-xiếm kiểu "phù-bản"</p>
<p align="center">&nbsp;</p></i>
<p align="justify">- Tim Severin, vì thán-phục học-thuyết "xuyên-dương" của Joseph Needham nên đã quyết-tâm minh-chứng rằng người Á-Ðông thuộc nền Văn-hoá Ðông-Sơn đã tới Mỹ nhiều ngàn năm trước đây.</p>
<div align="center">
<table id="table2" width="550" border="0">
<tbody>
<tr>
<td><img height="395" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Image33.gif" width="240" border="0" /></td>
<td>&nbsp; &nbsp; &nbsp; </td>
<td><b>Hình bìa sách in hình ảnh chiếc bè Sầm Sơn. Kuno Knobi muốn chứng minh rằng người Việt đã vượt Thái-Bình-Dương mấy ngàn năm trước đây.</b></td></tr></tbody></table></div>
<div align="center">
<table id="table3" width="550" border="0">
<tbody>
<tr>
<td><img height="301" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Image34.gif" width="300" border="0" /></td>
<td>&nbsp; &nbsp; &nbsp; </td>
<td><b>Hình thuyền buồm trên tiền đồng - 100 đồng - năm 1986</b></td></tr></tbody></table>&nbsp;</div>
<p>Severin là một nhà văn Ái-nhĩ-Lan rất ưa thích việc khảo-cứu về hàng-hải. Chiếc bè của Ông được đóng tại Sầm-Sơn (Thanh-Hoá, Việt-Nam) gồm có 220 cây luồng buộc lại với nhau bằng những giây leo trong rừng dài tới 46km. Ðặc-biệt để giữ nguyên kỹ-thuật xưa, thợ làm bè không dùng đến một chiếc đinh nào bằng kim-loại. Thủy-thủ đoàn gồm có 5 người, trong đó có một người Việt-Nam. Họ lái chiếc bè này bằng cách điều-chỉnh độ nông sâu của 10 chiếc xiếm, vào ra những nơi chật hẹp có nhiều tàu thuyền qua lại như hải-cảng Hồng-Kông và quần đảo Ryukyu. Ðoàn "thám-hiểm" đã hải hành phần lớn một cách tư-động, không người lái, vượt qua 5,500 hải-lý, tức là gần hết hải-trình xuyên Thái-Bình-Dương (chừng 6,500 hải-lý). Nếu Severin nắm vững được cách sơn kín nước thì những luồng đã không ngập nước và họ có thể đã thành-công</p>]]>
    </content>
</entry>

<entry>
    <title>Vịnh Bắc-Việt, Nhiều Huyền-Thoại</title>
    <link rel="alternate" type="text/html" href="http://www.dcvblogs.com/vuhuusan/2007/12/vnh-bcvit-nhiu-huynthoi.html" />
    <id>tag:www.dcvblogs.com,2007:/vuhuusan//28.483</id>

    <published>2007-12-09T15:27:03Z</published>
    <updated>2007-12-09T15:30:19Z</updated>

    <summary>Chương 1 Vịnh Bắc-Việt, Mở Ðề Một Danh-Từ - Nhiều Huyền-Thoại 1.1 -Vịnh Bắc-Việt Tổng-quát và Một Danh-từ Trong cuốn sách &amp;#8220;Vịnh Bắc-Việt&amp;#8221; này, chúng tôi luận-bàn về địa-lý vùng biển nằm ở phía Ðông của phần đất cực Bắc...</summary>
    <author>
        <name>dcvblogs</name>
        
    </author>
    
        <category term="Tài Liệu" scheme="http://www.sixapart.com/ns/types#category" />
    
        <category term="Vịnh Bắc Việt" scheme="http://www.sixapart.com/ns/types#category" />
    
    
    <content type="html" xml:lang="en-us" xml:base="http://www.dcvblogs.com/vuhuusan/">
        <![CDATA[<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><b><span style="FONT-SIZE: 14pt; COLOR: red"><font style="FONT-SIZE: 0.8em">Chương 1</font></span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><b><span style="FONT-SIZE: 16pt; COLOR: black"><font style="FONT-SIZE: 0.8em">Vịnh Bắc-Việt, Mở Ðề</font></span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><b><span style="FONT-SIZE: 14pt; COLOR: black"><font style="FONT-SIZE: 0.8em">Một Danh-Từ - Nhiều Huyền-Thoại</font></span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: red">1.1 -Vịnh Bắc-Việt Tổng-quát và Một Danh-từ</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Trong cuốn sách &#8220;Vịnh Bắc-Việt&#8221; này, chúng tôi luận-bàn về địa-lý vùng biển nằm ở phía Ðông của phần đất cực Bắc nước-Việt: Vịnh Bắc-Việt.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Phần đất Bắc-Việt-Nam (hay nói tắt là Bắc-Việt) dưới thời Pháp-thuộc được gọi là Bắc-Kỳ, sau đổi thành Bắc-Bộ dưới thời Chính-phủ Trần-Trọng-Kim và sau đổi ra Bắc-phần<a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn1" name="_ftnref1"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">[1]</span></span></a>. Trong những giai-đoạn nội-chiến Lê-Mạc, Trịnh-Nguyễn-Tây Sơn; đất Bắc thường được gọi là Ðàng Ngoài hay Bắc-Hà. Vịnh biển cạnh đó mang những tên như Vịnh Bắc-Kỳ, Vịnh Bắc-Phần, Vịnh Bắc-Bộ hay Biển Bắc, Biển Ðàng Ngoài hay Vịnh Bắc-Hà. Bản-đồ Hồng-Đức (thế kỷ XV), ghi tên Vịnh là Đại-Hải, phù-hợp với tên nôm-na mà dân-chúng thường dùng là Bể Lớn hay Bể Đông. </span></p>]]>
        <![CDATA[<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Chúng tôi chọn danh-từ &#8220;Vịnh Bắc-Việt&#8221; khi đề-cập tới vùng biển lớn hơn Vịnh của Bắc-phần hay Bắc-bộ. Ðó là khu-vực biển cả nằm cạnh vùng đất phía Bắc của Việt-Nam<a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn2" name="_ftnref2"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">[2]</span></span></a>, từ biên-giới Việt-Hoa tại Mũi Trà-Cổ, Móng-Cái tới Ðảo Cồn Cỏ thuộc tỉnh Quảng-Trị, Trung-phần Việt-nam.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Trên những bản-đồ hay hải-đồ quốc-tế, người ta đọc thấy những danh-từ chỉ Vịnh Bắc-Việt như sau: Grand Golfe, Golfe du Tonquin [Tonqeen], Golphe de Tunquin, Baye de Tonquin, Golfe de Cochinchine, Gulf of Tonkin [Tonking], Tonkin Gulf&#133;Trên các bản-đồ vẽ theo tài-liệu Ptolemy, Vịnh Bắc-Việt được ghi là Signus Magnus, Cinus Magnus (Vịnh Lớn - Grand Golfe). Còn người</span> Trung-Hoa gọi những tên như Chướng-Hải, Giao-Chỉ-Dương, Vịnh Bắc-Bộ (Beibu-Wan).<span style="FONT-SIZE: 10pt"> </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Nói tổng quát, Vịnh Bắc-Việt được bao bọc bởi Việt-Nam và Trung Hoa có diện-tích 126,250 km2<a name="_ftnref3"> </a><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn3"><span title=""><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[3]</span></span></span><span style="COLOR: black">.</span></a> Chiều ngang nơi rộng nhất (từ Diễn-Châu, Nghệ-An đến Ðông-Phương, Hải-Nam) khoảng 320 km (176 hải-lý) và chỗ hẹp nhất nơi cửa Vịnh (từ Ðảo Cồn Cỏ đến Mũi Oanh-Ca) khoảng 220 km (119 hải-lý).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="COLOR: black"><img height="455" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Chuong1/image001.jpg" width="346" border="0" /></span></p>
<p class="MsoHeading7" align="center"><i><font color="#0000ff">Hình 1. Tấm Bản-đồ đầu tiên</font><a title="" style="TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn4" name="_ftnref4"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">[4]</span></span></a><font color="#0000ff"> của nước ta có ghi Bể Lớn</font><a title="" style="TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn5" name="_ftnref5"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">[5]</span></span></a><font color="#0000ff"> tức Vịnh Bắc-Việt (trong tập Hồng-Ðức Bản-Ðồ -1490).Lưu-ý Ải Nam-Quan (phía Bắc) và Ðại-Hải (phía Ðông-Nam)</font></i></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Phần Vịnh phía Việt-Nam có khoảng 1,300 hòn đảo<a name="_ftnref4"></a><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn4"><span title=""><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[6]</span></span></span></a> ven bờ, đặc biệt có đảo Bạch-Long-Vĩ nằm cách đất liền Việt-Nam khoảng 110 km (59.4 hải-lý), cách đảo Hải-Nam (Trung Quốc) khoảng 130 km (70,2 hải-lý).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="COLOR: black"><img height="255" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Chuong1/image002.jpg" width="372" border="0" />&nbsp;</span></p>
<p class="MsoHeading7" align="center"><i><font color="#0000ff">Hình 2. Vịnh Bắc-Việt giáp-giới với 3 tỉnh Trung-Hoa </font></i></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Nếu lấy Vịnh Bắc-Việt làm trung-tâm nhìn ra thế-giới:</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">-Trong vòng bán-kính 1500 hải-lý, ta thấy các thành-phố, hải-cảng quan-trọng như Bangkok, Rangoon, Calcutta, Singapore, Djakarta, Manila, Taipei, Hongkong, Shanghai, Nagasaki. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">-Trong vòng bán-kính 2500 hải-lý, ta thấy các thành-phố, hải-cảng Madras, Colombo, Bombay, Bali, Darwin, Guam, Tokyo, Yokohama, Seoul, Beijing...&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Mang nhan-đề là &#8220;Vịnh Bắc-Việt, Ðịa-Lý &amp; Chủ-Quyền Hải-Phận &#8220;, cuốn sách này rõ rệt muốn bàn nhiều vấn-đề hơn là chỉ mô-tả địa-lý thuần-túy. Như khi viết cuốn sách &#8220;Ðịa-Lý Biển Ðông&#8221; (năm 1995), lần này chúng tôi cũng sẽ đi ra ngoài khuôn-khổ giáo-khoa để lạm-bàn thêm các diễn-biến cận-đại. Lại nhằm lúc không-khí sôi-động vì đồng-bào ta, trong cũng như ngoài nước, phẫn-nộ đứng lên tố-cáo Hà-Nội dâng đất dâng biển cho Trung-Cộng, chúng tôi xin ghi thêm một vài lý-lẽ về việc tranh-cãi chủ-quyền trên biển. Trong khả-năng riêng, chúng tôi ước-lượng và đề-nghị một số đường ranh-giới hải-phận thể theo luật-pháp quốc-tế hiện-hành.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="COLOR: black"><img height="364" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Chuong1/image003.jpg" width="360" border="0" /></span></p>
<p class="MsoHeading7" align="center"><i><font color="#0000ff">Hình 3. Vịnh Bắc-Việt - Hình-thể tổng-quát</font></i></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: red">1.2 - Miền Bắc Khai-Nguyên</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Trong giai-đoạn khai-nguyên dân-tộc, từ thời Văn-Lang qua đến thời Ðại-Việt, biển nước ta còn hẹp, gần như xấp-xỉ trùng hợp với vùng biển &#8220;Vịnh Bắc-Việt&#8221; này <a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn7" name="_ftnref7"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">[7]</span></span></a>.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Qua cuốn sách &#8220;Miền Bắc Khai-Nguyên&#8221;, các Ông Cửu-Long-Giang và Toan-Ánh đã mô-tả đầy đủ về đất-đai và một phần sơ-sài hơn về biển của Miền Bắc-Việt-Nam. Hai Ông-thường hợp-biên và là tác-giả những tập &#8220;Việt-Nam Chí-Lược&#8221; hồi các thập-niên 1960-1970<a name="_ftnref5"></a><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn5"><span title=""><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[8]</span></span></span></a>. Phần sơ-lược về Ðịa-lý Miền Bắc được giới-thiệu như sau: &#8220;Ở nơi trung-tâm khai-nguyên này của dân-tộc, tổ-tiên chúng ta đã phải luôn đấu-tranh để giữ cho giống nòi được tồn-tại, đất nước được vững bền, văn-hóa được mở mang&#133; Ðất nước chúng ta từ ngày lập-quốc chỉ vỏn vẹn gồm có Bắc-Việt và Miền Bắc Trung-Việt.&#8221; Về mục-đích viết và đọc sách địa-lý, các Ông Cửu-Long-Giang và Toan-Ánh viết rằng: &#8220;Biết xứ-sở để yêu xứ-sở, để hãnh-diện vì xứ-sở, nhất là vì những công-trình của Tổ-tiên đã xây-đắp nên xứ-sở&#8221;.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: red">1.3 - Văn-hóa Nước từ Sinh-hoạt Biển đi vào </span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Nói một cách chung khi trình-bày thêm những yếu-tố địa-lý về Vịnh Bắc-Việt, chúng tôi tiếp-tục đi theo sau các Ông Cửu-Long-Giang và Toan-Ánh cùng một số tác-giả khác đã viết về địa-lý Việt-Nam. Tuy vậy trong khía-cạnh riêng-biệt của chí-lược, chúng tôi có ý nghiêng việc nghiên-cứu về một quan-niệm địa-lý mới hơn. Lúc viết rằng &#8220;Miền Bắc Khai-Nguyên&#8221;, chúng tôi tự đặt câu hỏi &#8220;có gì đi trước sự khai-nguyên đó không?&#8221;. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Khi nghiên-cứu truyền-thuyết người ta có thể hiểu được tiến-trình hình-thành của một dân-tộc. Đó là ý-kiến của Keith Weller Taylor khi viết cuốn sách "The Birth of Vietnam". Trong chương đầu tiên (1- Lac Lords), Taylor bàn ngay đến những cách nhìn của ông về truyền-thống hàng-hải Việt-Nam qua những truyện thần-thoại đầu tiên của dân-tộc chúng ta. Theo đó những vua Hùng truyền đi từ Kinh-Dương-Vương, Lạc-Long-Quân. Ông vua Rồng Lạc-Long này quê từ ngoài biển cả đi vào, giúp dân trừ yêu-quái trên đất liền, dạy dân cách trồng lúa để ăn, may quần áo để mặc.<a name="_ftnref6"></a><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn6"><span title=""><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[9]</span></span></span></a></span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Nhân lúc nghiên-cứu về sinh-hoạt biển-cả Việt-Nam, có thể chúng tôi đã tìm ra câu trả lời. Ðó là ảnh-hưởng của một nền &#8220;Văn-hóa Nước&#8221; đến từ Vịnh Bắc-Việt sau Thời-đại Băng Ðá, trước khi dân ta quy-tụ lập-nghiệp tại vùng châu-thổ Sông Hồng. Giả-thuyết này đã được chúng tôi giới-thiệu trong cuốn &#8220;Ðịa-Lý Biển Ðông với Hoàng-Sa và Trường-Sa, nay được trình-bày thêm qua số chứng-liệu mới..</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: red">1.4 - Vịnh Bắc-Việt, Bể Ðông, Biển Tây và các Tên Gọi</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Truy-nguyên nguồn-gốc, chúng ta thấy rằng danh-từ &#8220;Vịnh Bắc-Việt&#8221; còn tương-đối rất mới. Bể Ðông hay Biển Ðông là chính-danh lâu đời tên gọi vùng biển nước ta. Tên gọi &#8220;Biển Ðông&#8221; rất có thể đã được Tổ-tiên chúng ta là cư-dân bản-địa sử-dụng từ hàng chục nghìn năm xưa, hiển-nhiên trước cả khi lập-quốc.&nbsp; </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Người Việt chúng ta chỉ mới khởi-sự nghĩ đến sự cần-thiết phải xác-định danh-từ &#8220;Vịnh Bắc-Việt&#8221; khi bắt đầu cuộc Nam-tiến, xuôi theo đồng-bằng Nam-Ngãi-Bình-Phú vào Nam. Rồi cuối cùng, lúc ngừng chân tại vùng đất màu mỡ Cửu-Long-Giang, cư-dân mới người Việt gọi Vịnh Phú-Quốc là Biển Tây vì vùng biển này nằm về phía Tây của họ. Tên Biển Tây mang tính-cách địa-phương, không có ý-nghĩa nhiều về địa-lý. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Nói một cách tổng-quát, tên biển Việt-Nam như sau:</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">- Tên Vịnh Bắc-Việt để chỉ vùng biển đoạn Móng-Cái - Ðảo Cồn Cỏ.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">- Tên Biển Tây hay Vịnh Phú-Quốc (đoạn Cà Mau - Hà-Tiên - Phú-Quốc - Thổ-Chu) xuất-hiện từ thế-kỷ 18.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">- Bể Ðông hay Biển Ðông là tên Biển bản-địa lâu đời của dân ta.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Ngày nay, Biển Ðông được hiểu là biển lớn bao gồm cả Vịnh Bắc-Việt và Vịnh Phú-Quốc. Hơn thế nữa, Biển Đông là vùng biển của Ðông-Nam-Á, bao quanh bởi các nước-Việt-Nam, Kampuchea, Thái-Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Brunei, Philippines, Taiwan và Trung-Hoa.<a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn10" name="_ftnref10"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">[10]</span></span></a> Trên bản-đồ toàn-cầu, người ta thường dùng "Biển Nam Trung Hoa", nhưng mọi người đều biết rằng tên đó lúc đầu đã được các nhà hàng-hải thời-kỳ cổ đại đặt ra là để chỉ vị-trí, hoàn toàn không phải là để chỉ chủ quyền<a name="_ftnref8"></a><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn8"><span title=""><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[11]</span></span></span></a>.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: red">1.5 - Hành-trình Dân-Tộc trước khi Nam-Tiến</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Từ &#8220;Miền Bắc Khai-Nguyên&#8221;, dân ta bắt đầu Nam-Tiến khoảng một ngàn năm qua. Ðã có nhiều tài-liệu viết về công-trình này và sử sách cũng ghi chép đầy đủ. Vì e-ngại đồng-bào đã vô-tình quên-lãng hai công-trình khác tiến-hành trước đó rất lâu, chúng tôi muốn trình-bày những giả-thuyết và đề-nghị ghi thêm hai danh-từ mới là Tây-Tiến và Ðông-Tiến vào cho được đầy đủ. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Từ xa xưa, người Việt đã cư-trú trên các đảo ven bờ và dần dần mở rộng các hoạt-động kinh-tế trên các quần-đảo ở xa trên biển Đông. Ngay trong truyền-thuyết Lạc-Long-Quân và bà Âu Cơ về nguồn gốc dân-tộc-Việt-Nam, cũng đã thấy nói rằng 50 người con theo cha (Lạc-Long-Quân) xuống biển và 50 người con theo mẹ (Âu Cơ) lên núi. Những người con này của hai ông bà về sau đã sinh thêm con đàn cháu đống và đã hợp sức khai-phá toàn lãnh-thổ Việt-Nam.<a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn12" name="_ftnref12"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">[12]</span></span></a> </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Mặc dù đấy chỉ là truyền-thuyết nhưng nó có một ý nghĩa nhất-định: những người Việt cổ ngay từ đầu đã làm ăn sinh sống ở ngoài biển, trên những đảo và quần-đảo tiếp cận. Hơn thế nữa lúc khởi-nguyên, rất có thể Tổ-tiên ta đã từ ngoài Vịnh biển Bắc-Việt di-cư vào. Huyền-thoại Lạc-Long-Quân chính là biểu-tượng truyền-kỳ của cuộc Tây-Tiến, cuộc hành-trình đầu-tiên của Dân-tộc. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="COLOR: black"><img height="576" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Chuong1/image004.jpg" width="330" border="0" /></span></p>
<p class="MsoHeading7" align="center"><i><font color="#0000ff">Hình 4. Bản-đồ Nam-tiến</font></i></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: red">1.6 - Tây-tiến và Ðông-Tiến</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Các tài-liệu khảo cổ của Madeleine Colani chứng minh rằng con người đã định-cư trên các đảo ven bờ Vịnh Bắc-Việt, trong khu-vực hai quần-đảo Hạ-Long và Bái-Tử-Long từ 10,000 năm nay. Bà Madeleine Colani xếp sinh-hoạt lúc ấy vào nền Văn-minh Bắc-Sơn. Theo giáo-sư Lê-Bá-Thảo, thời đó là giai-đoạn cuối của nền văn-hóa Hòa Bình, sinh-hoạt cư-dân còn được thể-hiện trong các di chỉ Soi Nhụ (cách đây khoảng trên 10 vạn năm) và nền văn-hóa Cái Bèo (khoảng 6 nghìn năm trước). Đến nền văn-hóa Hạ-Long (khoảng 4000-5000 năm trước) thì con người đã sinh cơ lập nghiệp trên đới ven biển, bao gồm cả các đảo và dải đất duyên-hải. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Nói chung, khi đi sâu từ phía biển cả vào phía núi rừng, người ta thấy chứng-tích sinh-hoạt loài người tại vùng núi ven biển sớm sủa hơn những vùng cao-nguyên nằm sâu trong nội-địa.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Các Khoa-học-gia cho biết sau thời-đại Băng-đá có một thời-kỳ biển tiến. Tất cả những vùng đồng-bằng bao-la Sunda (phía Nam Biển Đông), đồng-bằng Nanhai (trên nền Vịnh Bắc-Việt) bị chìm ngập dưới đại-dương. Nước biển tràn vào tới Việt-Trì. Con người thuộc nhiều sắc-tộc khác nhau phải cùng nhau dồn lên cư-trú dọc theo chân núi. Họ sống chủ-yếu bằng săn-bắt và hái lượm, trồng rau đậu với công-cụ đá thô sơ. Những điểm cư-trú của tiền-nhân được phân-bố khá gần nhau: dọc theo khu Thanh-Hóa, Ninh-Bình, Hòa-Bình, ở phía Tây-Nam; vùng Bắc-Ninh, Đông-Triều, Bắc-Sơn, Hạ-Long phía Đông-Bắc&#133; Cuộc hành-trình Tây-Tiến đã kết-hợp dân-tộc. Văn-minh Hòa-Bình bắt đầu tỏa sáng. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Thời-gian tồn-tại của họ cách nay khoảng trên mười nghìn năm...Rồi nước biển rút dần; vào thời-điểm cách nay khoảng bảy nghìn năm, con người rời núi non, tràn xuống chiếm-lĩnh đồng-bằng châu-thổ. Đây là cuộc hành-trình Đông-Tiến, tiền-nhân bành-trướng khu-vực sinh-hoạt ra khắp duyên-hải Vịnh Bắc-Việt. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Môi trường sống đã dễ chịu hơn trước; thức ăn khá dồi dào, ngoài dã thú và rau đậu, còn có cá tôm, nhất là sò hến nhiều không kể xiết. Công-cụ đá đựợc hoàn thiện một bước, đồ gốm làm bằng tay bên cạnh đồ gốm làm bằng bàn xoay. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Chester Norman cũng cho ta một sự mô-tả t</span><span lang="VI" style="COLOR: black">ươ</span><span style="COLOR: black">ng-tự về Tây-tiến và Đông-tiến nh</span><span lang="VI" style="COLOR: black">ư</span><span style="COLOR: black"> sau:</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Norman cho rằng nền Văn-minh Hòa-Bình được tạo-dựng trong thời-gian thềm lục-địa Sunda (và Nanhai) bị ngập nước. Khi đó vịnh Bắc-phần và vịnh Thái-Lan mà lúc trước là hai vùng đồng-bằng trũng, nay cũng thành-hình.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Từ nhiều ngàn năm trước, người dân thuộc nền văn-hóa Hoà-Bình ở miền Tây Biển Đông chỉ sống bằng cách săn-bắn, hái-lượm và trồng trọt ruộng khô trong những vùng thung-lũng. Bỗng nhiên mật-độ dân-cư tăng lên nhanh, con người phải có phương-pháp mới để sản-xuất thêm thực-phẩm. Loài trâu, loài heo được gia-súc-hóa.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="COLOR: black"><img height="441" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Chuong1/image005.jpg" width="346" border="0" /></span></p>
<p class="MsoHeading7" align="center"><i><font color="#0000ff">Hình 5. Bản-đồ ghi-nhận những đường di-dân &#8220;Tây-tiến&#8221; từ Nanhailand ngoài Biển Ðông vào đất liền trong thời Hậu Băng-Đá</font><a title="" style="TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn13" name="_ftnref13"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="VERTICAL-ALIGN: baseline"><b><span style="FONT-SIZE: 11pt; VERTICAL-ALIGN: baseline; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">[13]</span></b></span></span></a><font color="#0000ff"> 1-Dân di-cư đông-đảo nhất theo Hồng-Hà. 2-Theo sông Mekong. 3-Theo sông Chao Phraya. 4-Theo các dòng sông cổ xưa từ vùng biển Bali Sea. 5-Theo Tây-giang. 6-Theo Dương-Tử</font></i></p>
<p class="MsoNormal"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Người ta di-chuyển từ thung-lũng xuống khai-phá đồng-bằng. Yếu-tố quan-trọng nhất của đà phát-triển là sự ra đời của các giống cây cho hạt. Những loại ngũ-cốc thuần-hóa sau này thích-hợp cho ruộng nước. Khoảng 5,500 năm trước, cây lúa đã được trồng trọt.<a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn14" name="_ftnref14"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">[14]</span></span></a>&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="COLOR: black"><img height="224" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Chuong1/image006.jpg" width="336" border="0" /></span></p>
<p class="MsoHeading7" align="center"><em><span style="COLOR: #0000ff">&nbsp;</span><font color="#0000ff">Hình</font><span class="Heading7Char"><font color="#0000ff"> </font></span><font color="#0000ff">6. Việt-Nam nằm trong vùng phân-bố cây lúa dại. Lưu-ý địa-bàn Trung-Hoa thời cổ không có loại cây này</font></em></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Truyền-thuyết &#8220;Âu-Cơ - Lạc-Long-Quân với 50 con đi lên miền núi đồi, 50 con xuống miền sông biển&#8221; đã xác-nhận các công-trình Tây-tiến của tiền-nhân Việt-tộc từ Vịnh Bắc-Việt đi vào đất liền và Đông-tiến từ núi đồi, kéo nhau xuống khai-thác những vùng đất tân-bồi phía Đông. Truyền-thuyết cũng nhằm giải-thích sự có mặt của các bộ lạc khác nhau trước đây từ khắp các nơi thuộc đồng-bằng Biển Đông, nay cùng tạo-dựng nên cội nguồn thống-nhất, cao-quý của dân-tộc Việt-Nam.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="COLOR: black"><img height="572" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Chuong1/image007.jpg" width="384" border="0" /></span></p>
<p class="MsoHeading7" align="center"><i><font color="#0000ff">Hình 7. Các địa-điểm khai-quật thời Thạch-khí thường dọc theo chân núi. Vùng châu-thổ không có di-chỉ nào cổ</font><span style="COLOR: #0000ff">.</span></i></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: black">&nbsp;</span><span style="COLOR: red">1.6 - Khai-sinh của Biển Ðông</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Vịnh Bắc-Việt &#8220;tương-đối&#8221; còn trẻ và đã thay hình đổi dạng liên-tục trong quá-khứ.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">So-sánh với niên-đại của lục-địa Việt-Nam (thường gọi là Indosinias hay Indosinia), và cả Biển mẹ của nó là Biển Ðông, Vịnh Bắc-Việt có một số tuổi rất là khiêm-nhường. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Khi nói về sự bền vững của nền lục-địa xứ ta, Giáo-sư Phạm-Hoàng-Hộ đã viết rằng "Việt-Nam nằm trên khối Indosinias của vỏ Trái đất bền vững từ mấy trăm triệu năm nay<a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn15" name="_ftnref15"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">[15]</span></span></a>. Theo tiêu-chuẩn &#8220;bền vững&#8221; đó, Biển Ðông và nhất là Vịnh Bắc-Việt - nay hiện ra mai mất đi - đều không thể nào mang ra so-sánh được.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Theo các nhà địa-chất, lúc xưa trái đất<a name="_ftnref13"></a><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn13"><span title=""><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[16]</span></span></span><span style="COLOR: black"> </span></a>chỉ lớn bằng 4/5 thể-tích ngày nay. Các lục-địa dính chùm vào với nhau thành khối đại lục-địa Pangea. Cách nay 340 triệu năm, ở khu-vực phía Ðông gần xích-đạo (sau này thành vùng Ðông-Nam-Á) xuất-hiện một cái hồ chứa nước hình tam-giác đều mỗi cạnh chừng vài trăm cây số.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Vào khoảng 240 triệu năm trước, khi Pangea bắt đầu bành-trướng, các lục-địa tách rời nhau và trái đất lớn dần. Kích-thước &#8220;hồ nước&#8221; tam-giác đủ lớn và đủ sâu để làm cho lớp vỏ trái đất dưới đáy của nó mỏng dần và giãn nở theo với đà bành-trướng của các lục-địa. Do nhiều yếu-tố ngẫu-nhiên phù-hợp làm thay đổi cấu-trúc của lớp vỏ trái đất chỗ đó thành vỏ đại-dương mà sau này &#8220;hồ nước&#8221; trở thành Biển Ðông<a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn17" name="_ftnref17"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">[17]</span></span></a>.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Lúc mới thành-hình, biền này nằm ở phía Bắc khu đất hình chữ &#8220;S nằm ngang&#8221; của Việt-Nam. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="COLOR: black"><img height="517" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Chuong1/image008.jpg" width="384" border="0" /></span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span><i><font color="#0000ff">Hinh 8. Trước đây chỉ Trái đất chỉ có một Đại lục-địa Pangea duy nhất bao quanh bởi biển cả. Khoảng 220 triệu năm trước, Pangea bành-trướng, dần dần các lục-địa tách rời nhau. Lưu- ý vị-trí di-chuyển của Biển Ðông trong quá-khứ, đã thay đổi qua lại giữa Bắc và Nam Bán-Cầu.</font></i></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="COLOR: black"><img height="416" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Chuong1/image009.jpg" width="384" border="0" /></span></p>
<p class="MsoHeading7" align="center"><i><font color="#0000ff">Hình 9. Vỏ Trái Đất mở rộng, đáy đại-dương giãn nở&nbsp;</font></i></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Theo các họa-đồ và tài-liệu của Cục Ðịa-Chất Việt-Nam<a name="_ftnref16"></a><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn16"><span title=""><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[18]</span></span></span></a> chúng ta hình-dung sự diễn-tiến hình-thành của Biển Ðông như sau:</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">- Cách nay 240 triệu năm, từ hình tam-giác đều, hồ nước biến hình-thành một lá cờ đuôi nheo dài hàng ngàn cây-số. Phía cán cờ nối thẳng từ Ðài-Loan tới Hoàng-Sa. Cạnh đuôi nheo chạy rất gần bờ biển Miền Trung Việt-Nam kéo dài tới khu Cù-lao Thu.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">- Khoảng 220 triệu năm đến 80 triệu năm trước, hình-dạng cờ đuôi nheo biến-dạng thật nhanh. Biển Ðông đã kéo dài hơn hai ngàn cây-số, xuống tận ngoài khơi Singapore. Trong khi đó biển Malacca đang chiếm vùng Bangkok đến Singapore cứ nhỏ dần. </span></p>
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black">- Cách nay 37 triệu năm, Biển Ðông bành-trướng khá mạnh<a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn19" name="_ftnref19"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">[19]</span></span></a>. Diện-tích vào khoảng chừng 70% diện-tích hiện-thời. Sau đó mấy chục năm, Biển Ðông đã thu-hút luôn cả Biển Malacca để nhập vào một Biển lớn. Vẫn chưa thấy xuất-hiện hình-dạng của Vịnh Bắc-Việt vì đáy biển ở đó chưa giãn mỏng và nước chưa tràn vào. </span></p>
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="COLOR: black"><img height="427" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Chuong1/image010.jpg" width="384" border="0" /></span></p>
<p class="MsoHeading7" align="center"><i><font color="#0000ff">Hình </font><span style="COLOR: blue">10.</span><font color="#0000ff"> Biển Đông lúc mới thành hình</font></i></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Tiểu lục-địa Ấn-Ðộ, rồi tiểu lục-địa Úc-Ðại-Lợi sau khi tách ra, trôi về hướng Ðông-Bắc. Khi tiểu lục-địa Ấn-Ðộ đụng vào lục-địa Á-Âu tạo ra dãy núi &#8220;trẻ&#8221; Hi-Mã-Lạp-Sơn, nó cũng làm vùng đất Việt-Nam xoay chuyển dần sang hướng Bắc-Nam (chữ S đứng thẳng). Biển lúc này chuyển từ từ sang phía Ðông của Việt-Nam.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoHeading7" align="center"><span style="COLOR: black"><img height="290" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Chuong1/image011.jpg" width="384" border="0" /></span></p>
<p class="MsoHeading7" align="center"><i><font color="#0000ff">Hình 11.Hình-ảnh Biển Đông 220 triệu năm trước</font><span style="COLOR: #0000ff">&nbsp;</span></i></p>
<p class="MsoNormal">&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="COLOR: black"><img height="288" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Chuong1/image012.jpg" width="384" border="0" /></span></p>
<p class="MsoHeading7" align="center"><i><font color="#0000ff">Hình 12. Hình-ảnh Biển Đông 140 triệu năm trước</font></i></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><i><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></i></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: red">1.7 - Khai-sinh của Vịnh Bắc-Việt</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Ngày khai-sinh của Vịnh Bắc-Việt được Viện Ðịa-Chất và Khoáng-Sản thuộc Cục Ðịa-Chất Việt-Nam ước-lượng vào khoảng 11 triệu năm. Ðáy biển giãn mỏng, chìm xuống và vịnh có đôi khi ngập nước. Bờ Vịnh đạt tới hình-thể gần tương-tự như ta thấy ngày nay. Bản-đồ địa-chất có ý ghi cả chiều sâu đáy biển phía Tây của Hoàng-Sa (gần cửa Vịnh) là 200m. Cả Biển Ðông và Vịnh Bắc-Việt vẫn còn tiếp-tục bành-trướng.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Ta biết rằng mực nước đại-dương tăng giảm theo nhiệt-độ trái đất. Mực nước này cạn trong thời-đại Băng Đá<a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn20" name="_ftnref20"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">[20]</span></span></a> và dâng cao khi băng-đá trên núi cao và hai cực tan rã. Trong khoảng 11 triệu năm qua, Vịnh Bắc-Việt đã nhiều lần khô cạn như một cánh đồng-bằng trũng.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="COLOR: black"><img height="158" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Chuong1/image013.jpg" width="384" border="0" /></span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center"><i><span style="COLOR: #0000ff">&nbsp;</span><font color="#0000ff">Hình 13. Mực nước biền tăng giảm trong thời-gian qua</font></i></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Chính do sự trôi giạt phức-tạp của các lục-địa (kể cả lục-địa Á-Âu) mà khu-vực-Việt-Nam /Biển Ðông có lúc đã ở Bắc Bán-Cầu, lại chuyển dần xuống xích-đạo. Có giai-đoạn Việt-Nam trôi xuống Nam Bán-Cầu gần vị-trí Úc-Ðại-Lợi hiện thời, rồi chuyển-động ngược lại. Và ngày nay, người ta lại thấy nó hiện-diện trở lại tại Bắc Bán-Cầu.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Trong giai-đoạn hình-thành Biển Ðông, một vùng biển-hồ nữa cũng xuất-hiện tại khu-vực phía Tây của Tây-nguyên. Biển này nằm vắt qua cả Lào, Cambodge và Thái-Lan, dần dần xa rời trung-bộ Ðông-Dương di-chuyển về hướng Mã-Lai. Sau cùng biển này bị Biển Ðông thu-hút.thành Biển Malacca như ta thấy hiện nay.</span></p>
<p class="MsoHeading7" align="center"><span style="COLOR: black"><img height="225" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Chuong1/image014.jpg" width="345" border="0" />&nbsp;</span></p>
<p class="MsoHeading7" align="center"><i><font color="#0000ff">Hình 14. Hình-ảnh Biển Đông 80 triệu năm trước</font></i></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><i><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></i></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><i><span style="COLOR: black"><img height="405" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Chuong1/image015.jpg" width="346" border="0" /></span></i></p>
<p class="MsoHeading7" align="center"><i><font color="#0000ff">Hình 15. Sự hình-thành Vịnh Bấc-Việt</font></i></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: red">1.8 - Hình-thể Vịnh Bắc-Việt hôm nay</span></b><span style="COLOR: red"> </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Như đã trình-bày ở trên, Vịnh Bắc-Việt trong quá-khứ đã trải qua nhiều giai-đoạn địa-chất. Có khi Vịnh ngập nước biển, có khi lại bị khô cạn. Khi vịnh cạn nước, nó không còn mang danh-hiệu của một vịnh biển nữa. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Ngày nay xem bản-đồ, chúng ta có thể tưởng-tượng Vịnh Bắc-Việt như một phần hình vành khăn tương-tối đều-đặn, rộng trung-bình chừng 150 Hải-lý. Trung-tâm vành khăn này nằm trên đảo Hải-Nam. Bìa trong là bờ biển phía Tây của Ðảo Hải-Nam. Bìa ngoài vành khăn ấy là bờ biển vùng Bắc-Việt-Nam và một phần tỉnh Quảng-Tây của Trung-Hoa. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Tuy vậy trong khoảng 2,000 năm qua, nhân-loại đã hình-dung Vịnh này qua nhiều hình-dạng và định vị-trí của nó với nhiều sự dị-biệt. Nhiều bản-đồ được vẽ ra với những hình-thể không những kỳ-lạ mà vị-trí Vịnh Bắc-Việt được mô-tả cũng khác xa với thực-tế.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: red">1.9 - Signus Magnus-Vịnh Bắc-Việt - thuộc Ấn-Ðộ-Dương?</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Vào thời thượng-cổ sang trung-cổ, không có một vùng biển nào của Á-Ðông nổi tiếng trong giới thượng-lưu cũng như thương-mại Âu-Châu bằng Vịnh Bắc-Việt.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Một thế-kỷ sau Tây-lịch, học-giả uy-thế Ptolemy vẽ bản-đồ thế-giới, ghi-nhận những địa-danh của "bán-đảo Vàng" Mã-lai/ Đông-Dương, Biển Đông với Vịnh Bắc-Việt. Tận cùng về phía Đông của Ấn-Ðộ-Dương, Ông chú-giải chi-tiết và vẽ hải-đồ hàng-hải giao-thương với một Hải-cảng thuộc Giao-Chỉ, được ghi rõ rệt là Cattigara<a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn21" name="_ftnref21"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">[21]</span></span></a>. toạ-độ 177 độ Đông kinh-tuyến, 8 độ 30' Nam vĩ-tuyến<a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn22" name="_ftnref22"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">[22]</span></span></a>. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Một chuyện hãn-hữu mang tính-chất lịch-sử đã xảy ra. Ðó là chuyện những bản-đồ Ptolemy được các học-giả Ả-Rập sử-dụng và nỗ-lực phổ-biến khắp nơi suốt thời-gian hơn 1,200 năm. Người ta tin-tưởng vào công-trình của Ptolemy đến độ một số sai-lầm trong tác-phẩm của Ông còn tồn-tại cho đến cuối thế-kỷ thứ 18.<a name="_ftnref19"></a><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn19"><span title=""><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[23]</span></span></span><span style="COLOR: black"> </span></a>Trong những sai lầm đó, quan-trọng nhất là những yếu-tố địa-lý căn-bản của Vịnh Bắc-Việt bị nhiều nhà hàng-hải và cả một sổ nhà địa-lý lừng danh lập lại một cách lệch lạc đến 1700 năm sau.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><i><span style="COLOR: black"><img height="216" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Chuong1/image016.jpg" width="334" border="0" /></span></i></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><i><span style="COLOR: black">&nbsp;</span><font color="#0000ff">Hình 16. Biển Đông với hải-cảng chính Cattigara vẽ theo bản-đồ Ptolemy.</font><a title="" style="TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn24" name="_ftnref24"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="VERTICAL-ALIGN: baseline"><b><span style="FONT-SIZE: 11pt; VERTICAL-ALIGN: baseline; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">[24]</span></b></span></span></a></i></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Theo Ptolemy, Vịnh Biển Lớn (Signus Magnus - chỉ Vịnh Bắc-Việt) là một phần của biển Ấn-Ðộ. Hải-cảng chính của Vịnh này là Cattigara nằm bên bờ phía Ðông của Ấn-Ðộ-Dương cạnh hai con sông lớn. Tài-liệu của Trường Viễn-Ðông Bác-Cổ phỏng-định vị-trí hải-cảng Cattigara nằm trong khu-vực Quảng-Yên, Hồng-Gai<a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn25" name="_ftnref25"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">[25]</span></span></a>.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Vì nhận ra rằng Vịnh Bắc-Việt không thể nằm về phía Tây của Việt-Nam, một nhà họa-đồ Pháp vào thế-kỷ 17 đã phân-giải sự sai-nhầm về hình-thể và vị-trí khu-vực Ðông-Dương bằng một bản-đồ chính-xác hơn mà chúng tôi xin trình-bày nơi đây. Đặc-biệt tác-giả vô-danh này còn ghi rất chính-xác là Vịnh Bắc-Việt (Grand Golfe/Cignus Magnus) không nằm trong Ấn-Độ-Dương mà thuộc vào Biển Đông ( Ocean Oriental<a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn26" name="_ftnref26"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">[26]</span></span></a>) </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="COLOR: black"><img height="547" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Chuong1/image017.jpg" width="384" border="0" /></span></p>
<p class="MsoHeading7" align="center"><i><font color="#0000ff">Hình </font><span style="COLOR: blue">17. </span><font color="#0000ff">Họa-đồ Pháp phân-giải sự nhầm-lẫn về vị-trí và hình-thể Vịnh Bắc-Việt của các bản-đồ cổ Ptolemy.</font></i></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: red">1.10 - Vịnh Bắc-Việt hình Tam-giác?</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Vào giai-đoạn kỹ-thuật hàng-hải phát-triển, các nước Âu-Châu giương buồm đi buôn bán và đưa quân đi chiếm đất khắp nơi. Một số bản-đồ liên-hệ với Vịnh Bắc-Việt căn-cứ vào những quan-trắc mới được vẽ lại. Rất nhiều hải-đồ khác lại sao đi, chép lại lẫn nhau. Nói chung, họ vẽ Vịnh Bắc-Việt như một cái hình tam-giác hay hình lá cờ đuôi nheo. Mũi nhọn của Vịnh hướng về kinh-đô Thăng-Long, mà họ ghi bằng những chữ phiên-âm từ địa-danh Kẻ-Chợ, Ðông-Kinh. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="COLOR: black"><img height="300" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Chuong1/image018.jpg" width="384" border="0" /></span></p>
<p class="MsoHeading7" align="center"><i><font color="#0000ff">Hình </font><span style="COLOR: blue">18.</span><font color="#0000ff"> Vịnh Bắc-Việt hình Tam-giác trên một bản-đồ Tây-ph<span lang="VI">ương</span> vào thế-kỷ 17 </font></i><a title="" style="TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn27" name="_ftnref27"><span class="MsoFootnoteReference"><span lang="VI" style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-STYLE: italic; FONT-FAMILY: Times New Roman">[27]</span></span></a><i><font color="#0000ff"> Hải-Nam được vẽ rất nhỏ.</font></i></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Trong những tấm bản-đồ thế-kỷ 17 quen-thuộc, người Việt-Nam nhận thấy trong sách của Linh-Mục Alexandre de Rhodes có vẽ rô ràng Vịnh Bắc-Việt, nhưng bờ biển lõm sâu vào tới gần Kẻ Chợ hay Đông-Kinh (Kecho/Kecio, Tumkin) t</span><span lang="VI" style="COLOR: black">ứ</span><span style="COLOR: black">c Hà-Nội.<a name="_ftnref24"></a><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn24"><span title=""><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[28]</span></span></span></a> Đảo Hải-Nam đ</span><span lang="VI" style="COLOR: black">ượ</span><span style="COLOR: black">c mô-tả rất nhỏ.</span></p>
<p class="MsoHeading7" align="center"><span class="Heading7Char"><span style="FONT-STYLE: normal"><img height="539" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Chuong1/image019.jpg" width="344" border="0" /></span></span></p>
<p class="MsoHeading7" align="center"><em><span class="Heading7Char"><font color="#0000ff">Hình</font><font color="#0000ff"> </font></span><font color="#0000ff">19.</font><span class="Heading7Char"><font color="#0000ff">&nbsp; Trong Bản-đồ &#8220; Ðàng Trong và Ðàng Ngoài&#8221; của Linh-Mục Alexander de Rhodes, Vịnh Bắc-Việt được vẽ nhọn như một lưỡi kiếm thọc sâu vào gần thủ-đô Hà-Nội.</font></span></em></p>
<p class="MsoHeading7" align="center">&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="COLOR: black"><img height="497" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Chuong1/image020.jpg" width="375" border="0" /></span><b><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></b></p>
<p class="MsoHeading7" align="center"><i><font color="#0000ff">Hình 20. Vịnh Bắc-Việt với một hình-dạng lạ lùng thấy trên hải-đồ Francisco Rodrigues</font><a title="" style="TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn29" name="_ftnref29"><span class="MsoFootnoteReference"><b><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">[29]</span></b></span></a><font color="#0000ff">. Tác-giả lại còn cung-cấp đầy đủ phương-vị-độ cho việc hải-hành !?.</font></i></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Lại có cả những bàn-đồ vẽ Vịnh Bắc-Việt như một hình bình-hành, chiều dài gấp hai ba lần chiều ngang. Còn hơn thế nữa, có hải-đồ mô-tả hình-thể Vịnh một cách thật là kỳ-quặc, có khi giống như củ khoai hay khúc sắn. Sưu-tầm những bản-đồ cổ loại này là một thích-thú lớn đáng kể.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: red">&nbsp;1.11 - Vịnh Bắc-Việt trên Bản-đồ Nhật-Bản</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Nhật-Bản là nước đầu-tiên ở Á-Ðông vẽ bản-đồ theo lối Tây-phương. Năm 1645, một tấm bản-đồ loại mới đó được ấn-hành mang tên Bankoku Sozu (Bản-đồ Thế-giới Tổng-Quát). Một tấm nữa mang tên Shoho, tuy có lời chú-giải bằng Nhật-ngữ, nhưng nó chính là bản sao của địa-đồ Matteo Ricci thực-hiện tại Trung-Hoa vào cuối thế-kỷ 16.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="COLOR: black"><img height="268" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Chuong1/image021.jpg" width="374" border="0" />&nbsp;</span></p>
<p class="MsoHeading7" align="center"><i><font color="#0000ff">Hình 21. - Vịnh Bắc-Việt với hình-thể tam-giác được vẽ trên một tấm bình-phong ở Nhật-Bản </font></i><a title="" style="TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn30" name="_ftnref30"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-STYLE: italic; FONT-FAMILY: Times New Roman">[30]</span></span></a><i><font color="#0000ff"> (thế-kỷ 17)</font></i></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Bản-đồ Nhật-Bản thời đó thường căn cứ vào tài-liệu của những người Ðức và người Hòa-Lan như Ortelius, Mercator v.v&#133; Do đó, Vịnh Bắc-Việt đồng loạt, được họ mô-tả bằng hình một tam-giác. Sang đến đầu thế-kỷ 19, việc sao chép bản-đồ cổ như vậy còn tiếp-tục cho đến khi những bản-đồ này được thay-thế bởi các bản-đồ mang danh &#8220;Thế-giới Phật-tử và Tam-giáo&#8221;. Hình-thể mới của Vịnh Bắc-Việt dần-dần được điều-chỉnh cho thêm phần chính-xác, đạt được tiêu-chuẩn hải-hành. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Chúng tôi xin trích-sao một góc nhỏ của tấm bản-đồ lớn &#8220;Emboudai Zu Tsuketari Knee&#8221;, lấy trong tập &#8220;Buddhist Maps of the World&#8221; (with an Illustration of the Sun), Zont, ấn-hành bằng mộc-bản năm 1828. Theo đó, ta thấy kỹ-thuật họa-đồ của người Nhật-Bản đã tiến-bộ vượt bực. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="COLOR: black"><img height="384" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Chuong1/image022.jpg" width="384" border="0" />&nbsp;</span></p>
<p class="MsoHeading7" align="center"><i><font color="#0000ff">Hình 22. Bản-đồ Nhật-Bản &#8220;Emboudai Zu Tsuketari Knee&#8221; được vẽ khá chính-xác</font></i></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="COLOR: red">1.12 - Huyền-thoại về hải-cảng Vịnh Bắc-Việt</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Trước khi Trung-Hoa phát-triển hàng-hải vào thế-kỷ thứ 5, hải-cảng sầm-uất nhất của Biển Đông nằm trong Vịnh Bắc-Việt vùng Vân-Ðồn, Hòn-gay, Hải-phòng mà các nhà hàng-hải quốc-tế thường gọi là Cattigara. Tên này có thể là phiên-âm của một trong các địa-danh thời cổ của nước ta như Giao-Chỉ-Cauchi, Kẻ Chợ-Kesho hay Cửa Gay-Hòn Gay/Hồng Gai.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Sau cuộc viễn-chinh của Alexandre Đại-đế (336-323 Trước Tây-lịch- TTL.) sang Ấn-Độ, nhiều giao-tiếp đã xảy ra giữa Âu-Châu và Á-Châu. T</span><span lang="VI" style="COLOR: black">ừ</span><span style="COLOR: black"> đó, người Hy-Lạp biết thêm nhiều sinh-hoạt của người Á-Châu. Eratosthene (275-195 TTL) viết sách Geographia, Ptolemy (khoảng 100-170) phát-triển môn địa-lý, viết sách và hình-dung ra một bản-đồ thế-giới<a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn31" name="_ftnref31"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">[31]</span></span></a> mà tận-cùng về phía Đông-Đông-Nam là bán-đảo Vàng Chersonese và hải-cảng Kattigara (kinh-độ 117 độ Đông, vĩ-độ 8 độ Nam). Kinh-tuyến gốc được lấy từ đảo Ferro - (Islands of the Blest- quần-đảo Canary). Nhiều người cho rằng bán-đảo Vàng là Đông-Dương và Kattigara (hay Cattigara) chỉ Kẻ Chợ (Kesho), Long-Biên (Lugin) hay Hà-Nội ngày nay. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Riêng về từ-ngữ hàng-hải, ta có thể hiểu ch</span><span lang="VI" style="COLOR: black">ữ Cattigara </span><span style="COLOR: black">theo như nghĩa người Bắc-Âu: Kati là Tàu thuyền, Gata là hải-đạo.? Như vậy Kattigara có nghĩa là chỗ hải-cảng mà tàu thuyền hải-hành tới.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Ông Bình-Nguyên-Lộc không thỏa-mãn với vị-trí ước-đoán cho rằng Kattigara nằm trong vùng Kẻ Chợ Hà-Nội, mà nghĩ rằng Kattigara có thể là Kẻ Thị Gay, tức thành-phố Ghe thuyền. Ông suy ra tên Kattigara chính là địa-danh của thương-cảng Hòn-Gay như ta vẫn gọi ngày nay?</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Việc xác-định xem thương-cảng Kattigara ở đâu vẫn chưa thực-hiện được. Theo ý một vài nhà nghiên-cứu, khi biết đúng vị-trí, những cuộc khai-quật chắc chắn sẽ mang lại thêm nhiều hiểu biết mới và giúp chúng ta trả lời được nhiều câu hỏi chưa có giải-đáp về thành-quả hàng-hải và thương-mại của người cổ Việt. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Tác-giả cuốn sách "Ancient India as Described by Ptolemy" là J.W.MacGrindle, cũng đồng-ý Kattigara là Hà-nội. Nơi trang 9, lời tác-giả ghi-chú: "Trung-Hoa trong gần 1,000 năm đã được biết như là quốc-gia nằm trong nội-địa Á-Châu (inner Asia)". Tại trang 26, ông viết: "...với lý-thuyết rằng Kattigara, điểm xa nhất về phía Đông tới được bằng đường biển, phải nằm gần hay trên cùng kinh-tuyến với nước Tàu, điểm xa nhất đi đến được qua đất liền<a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn32" name="_ftnref32"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">[32]</span></span></a>."</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Người Âu-Châu thời đó, khi nghĩ đến Đông-phương hàng-hải là nghĩ đến vùng đất quê-hương chúng ta nhiều của cải, đầy vàng bạc châu báu, và cửa biển chính thông-thương ở Vịnh Bắc-Việt. Từ trước thời Bắc-thuộc, lưu-vực sông Hồng, sông Mã đã là những trung-tâm hàng-hải cùng thương-mại phồn-thịnh, hàng-hoá đi khắp nơi và có nhiều mối liên-lạc với Tây-phương. Sự giao-thương này chắc chắn sâu-đậm đến mức-độ tất cả những bản-đồ thế-giới do Tây-phương ấn-hành suốt mười mấy thế-kỷ sau đó, đều cố ghi địa-danh Kattigara. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Thật lạ lùng là sau chuyến đi của Marco Polo sang Á-Ðông vào thế-kỷ 13, các nhà địa-lý đã không sửa được bản-đồ cho đúng, mà cả sau khi Magellan mất mạng trên đường đi vòng quanh thế-giới (năm 1521), tọa-độ địa-dư của Kittigara (Thăng-Long hay một hải-cảng nào trên bờ Vịnh Bắc-Việt cũng vậy) vẫn giữ nguyên như cũ. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Khi tìm được Tân Thế-giới, người Âu-Châu tưởng rằng mình đã khám-phá ra được con đường hàng-hải sang Á-Châu và đinh-ninh sẽ tìm ra được cảng Kattigara của Vịnh Lớn Bắc-Việt. Địa-danh hải-cảng này do đó được tiếp-tục ghi trên lục-địa Mỹ-Châu trong nhiều thế-kỷ. Anh em nhà Columbus<a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn33" name="_ftnref33"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">[33]</span></span></a> cũng như Amerigo Vespucci và Ferdinand Magellan<a name="_ftnref28"></a><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn28"><span title=""><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[34]</span></span></span></a> cùng chép trong Sổ Hải-hành sự mong đợi được ghé tàu cặp bến xứ ta. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Tên America, chỉ-danh của toàn-thể lục-địa Mỹ-Châu, được đặt theo tên của nhà hàng-hải Amerigo Vespucci. Ông là người đầu tiên xác-định được &#8220;tân-thế-giới&#8221; không phải là lục-địa Á-Châu. Tuy vậy, Vespucci vẫn không giám quả-quyết hướng đi nào dẫn tới Kattigara và rất có thể, giống những người đồng-thời, Ông phỏng-đoán &#8220;Giao-chỉ&#8221; ở đâu đó rất gần vùng đất mới. Hình-ảnh hải-cảng huyền-thoại đó không nh</span><span lang="VI" style="COLOR: black">ữ</span><span style="COLOR: black">ng đã đeo đuổi Ông mà còn đeo đuổi tiếp-tục nh</span><span lang="VI" style="COLOR: black">ững </span><span style="COLOR: black">nhà hàng-hải và họa-đồ thế-giới theo sau nghề-nghiệp của Ông hàng thế-kỷ.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="COLOR: black"><img height="287" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Chuong1/image023.jpg" width="378" border="0" />&nbsp;</span></p>
<p class="MsoHeading7" align="center"><i><font color="#0000ff">Hình 23. Bản-đồ Sebastian Múnster (1540) &#8220;định-vị&#8221; hải-cảng Bắc-Việt Cattigara trên Nam-Mỹ-Châu</font></i></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Trở lại quá-kh</span><span lang="VI" style="COLOR: black">ứ để t</span><span style="COLOR: black">ì</span><span lang="VI" style="COLOR: black">m hiể</span><span style="COLOR: black">u, một nhà nghiên-c</span><span lang="VI" style="COLOR: black">ứ</span><span style="COLOR: black">u hàng-hải thế-kỷ 20 đã đặt các hải-đồ thông-dụng thời đó lên trên cầu-đồ thì thấy rằng:</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">- Những hải-đồ vẽ theo tài-liệu Ptolemy (hải-đồ Behaim (1492) trong trắc-nghiệm này) cho vị-trí Vịnh Bắc-Việt (và hải-cảng Cattigara) quá xa về hướng Đông, tức gần sát với Nam Mỹ-Châu.<a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftn35" name="_ftnref35"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">[35]</span></span></a></span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">- Những hải-đồ họa hình Tân Thế-giới cũng sai-lệch (hải-đồ La Cosa (1500) trong trắc-nghiệm này) cho thấy bờ biển Trung và Nam-Mỹ nh</span><span lang="VI" style="COLOR: black">ư</span><span style="COLOR: black"> &#8220;muốn vươn dài&#8221; qua phía Á-Châu.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Phần lớn sự lầm-lẫn là vì các nhà hàng-hải quá tin vào kiến-thức thời Ptolemy, do đó &#8220;vẽ phỏng chừng&#8221; Vịnh Bắc-Việt mà thôi. Có một s</span><span lang="VI" style="COLOR: black">ự tr</span><span style="COLOR: black">ùng-h</span><span lang="VI" style="COLOR: black">ợp </span><span style="COLOR: black">ở đây: khi xưa (thời Ptolemy) có nhiều ng</span><span lang="VI" style="COLOR: black">ười tin </span><span style="COLOR: black">là vịnh biển nước ta quay ra Ấn-Độ-Dương thì nay những nhà hàng-hải &#8220;hậu Columbus&#8221; cũng lại cho rằng &#8220;Vịnh Bắc-Việt&#8221; phải nằm đâu đó ở &#8220;Nam Mỹ&#8221; và quay ra biển Thái-Bình-Dương.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" align="center"><span style="COLOR: black"><img height="268" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Chuong1/image024.jpg" width="383" border="0" />&nbsp;</span></p>
<p class="MsoHeading7" align="center"><font color="#0000ff">Hình 24. </font><span class="Heading7Char"><em><font color="#0000ff">Khi</font><font color="#0000ff"> đặt hai hải-đồ Behaim và La Cosa lên trên cầu-đồ người ta hiểu tại sao Vịnh Bắc-Việt đã nhiều lần được vẽ trên bờ biển Nam Mỹ-Châu (vởi hải-cảng Cattigara) trông ra Thái-Bình-Dương. </font></em></span></p><br />
<div align="center"><em><img height="233" src="http://www.vuhuusan.net/images/VinhBacViet/Image006.jpg" width="350" border="0" /></em> <br /><font color="#0000ff"><i><span lang="en-us">Địa bàn lúa dại</span></i></font> </div>
<hr width="33%" size="1">

<div id="ftn1">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref1" name="_ftn1"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[1]</span></span></a><span style="COLOR: black"> Miền Bắc Khai Nguyên, Cửu-Long-Giang Toan-Ánh, Sài-Gòn, 1969, trang 13 </span></p></div>
<div id="ftn2">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref2" name="_ftn2"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[2]</span></span></a><span style="COLOR: black"> Bờ biển Vịnh Bắc-Việt trong sách này bao gồm toàn-thể bờ biển Bắc-Bộ và một phần bờ biểnTrung-Bộ tới Ðảo Cồn Cỏ, vùng Bắc Quảng-Trị.</span></p></div>
<div id="ftn3">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref3" name="_ftn3"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[3]</span></span></a><span style="COLOR: black"> Thứ-Trưởng Ngoại-giao Cộng-Sản Viêt-Nam (CSVN) Lê Công Phụng nói diện-tích Vịnh là 123,700 km2, tức nhỏ hơn một chút. Viện Nghiên-Cứu Ðông-Tây ở Hawai ước-lượng một con số lớn hơn: 46,961 hải-lý vuông, tức là 46,961x1,852x1,852 = 161,072 km2.</span></p></div>
<div id="ftn4">
<p class="MsoFootnoteText"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref4" name="_ftn4"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">[4]</span></span></a> Theo Lịch triều hiến chương của Phan Huy Chú, sách Nam Bắc phiên giới địa đồ của Lý Anh Tông (TK 11, nay không truyền, là đầu-tiên).</p></div>
<div id="ftn5">
<p class="MsoFootnoteText"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref5" name="_ftn5"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">[5]</span></span></a> Các bản đồ trước đó có lẽ đã bị quân Minh cướp hoặc tiêu hủy khi chiếm Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ 15</p></div>
<div id="ftn6">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref6" name="_ftn6"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[6]</span></span></a><span style="COLOR: black"> Số lượng đảo này do Thứ-Trưởng CSVN Lê Công Phụng đưa ra khi thương-thảo với Trung-Cộng. Chúng tôi đọc được những con số thống-kê lớn hơn rất nhiều:</span></p>
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">- Chỉ nguyên trong một khu-vực nhỏ hẹp của Vịnh Hạ-Long, CSVN đã chính-thức đưa ra con số là 1,969 đảo trong Quyết định Số 313/VH-VP của Bộ Văn-hóa Thông tin ngày 28/4/1962 (Tài-liệu Ngân-Hàng Á-Châu ADB 1999). Các đảo Vịnh Hạ Long cũng có trong danh sách các khu rừng đặc dụng theo Quyết định Số 194/CT,ngày 9/8/1986 của Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính Phủ). </span></p>
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">- Con số 1,969 đảo Hạ Long này cũng được CSVN đưa vào danh sách khu di sản thiên-nhiên thế-giới (World Heritage Site). Năm 1994, đã được Uỷ ban UNESCO công nhận nguyên khu-vực danh-thắng có dìện tích 43,400 ha (chưa bằng 1% Vịnh Bắc-Việt) đã bao gồm 700 hòn đảo (ADB1999). Khắp thế-giới đều biết tiếng. </span></p>
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">- Một con số còn lớn h</span><span lang="VI" style="COLOR: black">ơn nữa </span><span style="COLOR: black">do Bộ Kinh-Tế CSVN (đề-tài KT-03-12, Hà-Nội, 1995) đưa ra là 2,321 đảo khu Quảng-Ninh-Hải-Phòng&#133; </span></p></div>
<div id="ftn7">
<p class="MsoFootnoteText"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref7" name="_ftn7"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">[7]</span></span></a> Về phía Bắc, Hải-giới của Giao-Châu, của nước Vạn-Xuân (Tiền-Lý) tới Hợp-phố, Bắc-Hải. Hải-giới thời Ðinh-Lê-Lý, Trần tới Vịnh Khâm-Châu. </p></div>
<div id="ftn8">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref8" name="_ftn8"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[8]</span></span></a><span style="COLOR: black"> Một số tác-phẩm như: Người Việt- Ðất Việt, Miền Bắc Khai-Nguyên, Miền Thượng Cao-Nguyên, Miền Trung Kiên Dũng, Miền Nam Phú-Cường&#133;</span></p></div>
<div id="ftn9">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref9" name="_ftn9"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[9]</span></span></a><span style="COLOR: black"> Keith Weller Taylor. The Birth of Vietnam, University of California Press, 1983.</span></p></div>
<div id="ftn10">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref10" name="_ftn10"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[10]</span></span></a><span style="COLOR: black"> Trong đó phần bờ biển dài nhất là của Việt-Nam (2,828 hải-lý). Chỉ có 10% chu-vi của biển này (perimeter= 8192 nautical miles) thông-thương được ra các biển Thái-Bình-Dương và Ấn- Ðộ-Dương. </span></p>
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Theo tài-liệu của văn-phòng International Hydrographic Bureau, diện-tích Biển Đông vào khoảng 1,091,642 hải-lý vuông, bao gồm cả hai vịnh biển khá lớn là vịnh Bắc-Việt (46,961 hải-lý vuông) và vịnh Thái-Lan (85,521 hải-lý vuông). Chiều dài nhất của Biển Ðông tới 1,901 hải-lý.</span></p>
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">Theo tài-liệu nghiên-cứu của Viện Nghiên-Cứu Ðông-Tây ở Hawaii, bờ biển Việt-Nam chiếm tới 35% chu-vi Biển Đông.</span></p></div>
<div id="ftn11">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref11" name="_ftn11"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[11]</span></span></a><span style="COLOR: black"> Không phải ngẫu nhiên mà để chấm dứt sự hiểu lầm, có ý-kiến của một số nước ở Đông Nam Á cho rằng nên đổi tên biển Nam Trung Hoa thành biển Đông Nam Á. (Lê Bá Thảo. Việt-Nam - Lãnh-thổ và các Vùng Ðịa-Lý. Nhà Xuất-bản (NXB) Thế-giới, Hà-Nội, 1995. Trang 53-54)</span></p></div>
<div id="ftn12">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref12" name="_ftn12"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[12]</span></span></a><span style="COLOR: black"> Lê Bá Thảo. Việt-Nam - Lãnh-thổ và các Vùng Ðịa-Lý. Nhà Xuất-bản Thế-giới, Hà-Nội, 1995. Trang 551-552.</span></p></div>
<div id="ftn13">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref13" name="_ftn13"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[13]</span></span></a><span style="COLOR: black"> Sumet Jumsai. Naga: Cultural Origins in Siam and the West Pacific. Singapore, Oxford University Press, 1988.</span></p></div>
<div id="ftn14">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref14" name="_ftn14"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[14]</span></span></a><span style="COLOR: black"> Chester Norman. The Hoabinhian and After: Subsistence Patterns in Southeast Asia during the Late Pleistocene and Early Periods. Báo World Archaeology 2, No. 3, 1971: 300-320 </span></p></div>
<div id="ftn15">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref15" name="_ftn15"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[15]</span></span></a><span style="COLOR: black"> Phạm-Hoàng-Hộ. Cây cỏ Việt-Nam, 1993</span></p></div>
<div id="ftn16">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref16" name="_ftn16"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[16]</span></span></a><span style="COLOR: black"> TuổiTrái Ðất nằm trong khoảng từ 4.5 đến 4.6 tỷ năm. Ðá già tuổi nhất chừng 4 tỷ năm. Vì sự xáo trộn địa-chất, ít khi ta tìm thấy đất đá già hơn 3 tỷ năm. Tuy vậy có những vi-sinh hóa-thạch già tới 3.9 tỷ năm. Vì thế, trong khi thời-gian các sinh-vật khởi đầu cuộc sống không thể biết chính-xác vào lúc nào nhưng rõ ràng không quá mới như ngưới ta ước-lượng trước đây. 71 phần trăm bề mặt Trái Ðất bao-phủ bởi nước. Trái Ðất là hành-tinh độc-nhất có nước trong thể lỏng bao bọc bên ngoài.</span></p></div>
<div id="ftn17">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref17" name="_ftn17"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[17]</span></span></a><span style="COLOR: black"> Việt-Nam lúc đó có hình chữ S nằm ngang theo hướng Tây- Ðông.</span></p></div>
<div id="ftn18">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref18" name="_ftn18"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[18]</span></span></a><span style="COLOR: black"> Bản-đồ Thành-Hệ Kiến-Trúc-Việt-Nam (Phần Ðất Liền và Một Phần Biển). Chủ-biên: Nguyễn-Xuân-Tùng, Trần-Văn-Trị. Hoàn-thành tại Viện Ðịa-Chất và Khoáng-Sản, Hà-Nội, 1992.</span></p></div>
<div id="ftn19">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref19" name="_ftn19"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[19]</span></span></a><span style="COLOR: black"> Dựa theo bản-đồ của Viện Ðịa-Chất và Khoáng-Sản, Hà-Nội, 1992; chúng tôi ước-lượng: Diện-tích Biển Ðông lúc đó khoảng chừng 75% diện-tích hiện-thời</span></p></div>
<div id="ftn20">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref20" name="_ftn20"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[20]</span></span></a><span style="COLOR: black"> hay còn gọi là Thời-kỳ Băng-Giá</span></p></div>
<div id="ftn21">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref21" name="_ftn21"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[21]</span></span></a><span style="COLOR: black">&nbsp; Có sách và bản-đồ ghi Catigara hay Kattigara hay Katigara.</span></p></div>
<div id="ftn22">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref22" name="_ftn22"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[22]</span></span></a><span style="COLOR: black"> Sách Researches on Ptolemy's Geography of Eastern Asia, Colonel G.E. Gerini, M.R.A.S., London 1909.</span></p></div>
<div id="ftn23">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref23" name="_ftn23"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[23]</span></span></a><span style="COLOR: black"> Ocean Almanac, Robert Hendrickson, Doubleday &amp; Company, Inc., New York, 1984, p. 126</span></p></div>
<div id="ftn24">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref24" name="_ftn24"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[24]</span></span></a><span style="COLOR: black"> Phỏng theo "Ancient History Atlas" Michael Grant, Cartograph by Arthur Bank, Mcmillan Publishing Co., Inc., New York, 1971: 75.</span></p></div>
<div id="ftn25">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref25" name="_ftn25"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[25]</span></span></a><span style="COLOR: black"> le Grand Golfe baigne à I'Est la côte du pays des Sinai, dont le dernier point accessible est le port de Kattigara. Le pays des Sinai correspond au Tonkin et a la partie meridionale de la Chine; quant au port de Kattigara, il faut très probablement le placer sur la côte aux environs de Quangyen et de Hongay. ( Bulletin de l'Ecole Française d'Extrême Orient, Tome XXI, Hanoi 1921, p. 197.)</span></p></div>
<div id="ftn26">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref26" name="_ftn26"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[26]</span></span></a><span style="COLOR: black"> Thông-thường hải-đồ của người Pháp thời đó ghi biển này là Biển Trung-Hoa (Mer de Chine).</span></p></div>
<div id="ftn27">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref27" name="_ftn27"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[27]</span></span></a><span style="COLOR: black"> Hàng trăm bản-đồ cổ của Âu-Châu vẽ Vịnh Bắc-Việt có hình-dạng tương-tự có thể tìm thấy trên các Websites về bản-đồ cổ. Ðiển-hình như: http://www.cosmography.com/emsa.htm</span></p></div>
<div id="ftn28">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref28" name="_ftn28"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[28]</span></span></a><span style="COLOR: black"> Rhodes Of Vietnam - The Travels and Missions of Father Alexandre de Rhodes in China and Other Kingdoms of the Orient. Translated by Solange Hertz. The Newman Press - Westminster, Maryland, 1966.</span></p></div>
<div id="ftn29">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref29" name="_ftn29"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[29]</span></span></a><span style="COLOR: black"> Giáo-Sư Nguyễn-Khác-Ngữ dùng bản đồ này để chứng-minh người Bồ-Ðào-Nha đã đến xứ ta rất sớm, từ năm 1512. Trong khi đó, Khâm-Ðịnh Việt-Sử Thông-Giám Cương-Mục ghi người Tây-Phương đến năm 1533. (Bồ-đào-Nha, Tây-ban-Nha và Hoà-Lan giao-tiếp với Đại-Việt; Nguyễn-khắc-Ngữ, Montréal, 1988: trang 39-40)</span></p></div>
<div id="ftn30">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref30" name="_ftn30"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[30]</span></span></a><span style="COLOR: black"> Một Collection về Bản-đồ do người Nhật-Bản vẽ được phổ-biến trên: http://www.cc.columbia.edu/itc/ealac/moerman/japanmaps/thumbs.html</span></p></div>
<div id="ftn31">
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref31" name="_ftn31"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[31]</span></span></a><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black"> Có thể kể đến: Ératosthène , Hipparque (năm&nbsp;190-125 TTL.), Polybe (200-118 TTL.), Poseidonios d&#8217;Apamée (135-50 TTL.), Marin de Tyr (Cuối thế-kỷ thứ 1 sang đầu thế-kỷ thứ&nbsp; 2), Marin, de &nbsp;Tyr được coi như cha đẻ của ngành hải-đồ (fondateur de la cartographie marine,)</span></p></div>
<div id="ftn32">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref32" name="_ftn32"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[32]</span></span></a><span style="COLOR: black"> &#8220;MacCrindle's Ancient India as described by Ptolemy&#8221; (first printed 1884), revised by Ramchandra Jain, New Delhi, 1984.</span></p></div>
<div id="ftn33">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref33" name="_ftn33"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[33]</span></span></a><span style="COLOR: black"> Truy-cứu lại tài-liệu hải-hành, các nhà nghiên-cứu tìm ra rằng Columbus chưa nắm vững kỹ-thuật thiên-văn. Hàng-hải phỏng-định bị sai lệch vì tác-dụng gió nước rất phức-tạp, không tính-toán được. </span></p></div>
<div id="ftn34">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref34" name="_ftn34"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[34]</span></span></a><span style="COLOR: black"> Magellan cũng lưu-tâm đến vị-trí Cattigara rất nhiều. Sau khi từ Đại-Tây-Dương vào được Thái-Bình-Dương, ông dẫn hải-đội dọc theo bờ biển Chí-Lợi, viên thư-ký giữ tài-liệu hải-hành của ông là Pigafetta có vẻ bi-quan khi nói rằng :"Cái mũi đất Cattigara mà ngay cả những nhà "Vũ-trụ-học" (!) cũng chưa nhìn thấy thì lúc này không những chẳng thể nào tìm ra mà (chúng ta) cũng không thể tưởng-tượng được là nó ở vào chỗ nào!"?</span></p></div>
<div id="ftn35">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none" href="http://www.vuhuusan.net/vinhbacviet-HuyenThoai.htm#_ftnref35" name="_ftn35"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[35]</span></span></a><span style="COLOR: black"> V</span><span lang="VI" style="COLOR: black">ới phương-tiện thô-s</span><span style="COLOR: black">ơ, chúng tôi phỏng-định vị-trí hải-cảng nước ta trên bản-đồ Ptolemy nằm tại tọa-độ quá xa về hướng Đông, sai-lệch tới 55 độ kinh-tuyến (hay 60 X 55 = 3,300 hải-lý, tức 61.12 grade hay 6112 Km)và cũng quá xa về hướng Nam sai tới 30 độ vĩ-tuyến (hay 60x30 = 1,800 hải-lý , t</span><span lang="VI" style="COLOR: black">ức </span><span style="COLOR: black">33.334 grade hay 3,334 km)</span></p></div>]]>
    </content>
</entry>

<entry>
    <title>Bản-đồ phân chia Vịnh Bắc-Việt</title>
    <link rel="alternate" type="text/html" href="http://www.dcvblogs.com/vuhuusan/2007/12/bnd-phan-chia-vnh-bcvit.html" />
    <id>tag:www.dcvblogs.com,2007:/vuhuusan//28.482</id>

    <published>2007-12-09T14:59:16Z</published>
    <updated>2007-12-09T15:26:50Z</updated>

    <summary><![CDATA[Vũ Hữu San &nbsp; Bản-đồ trong Văn-bản Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ Ngoài biền không có núi, sông, làng xóm, cao-độ&#133; như thấy trong Hiệp Ước Biên Giới Trên Đất Liền [3]. Tọa-độ địa-dư (kinh-độ, vĩ-độ) kèm theo...]]></summary>
    <author>
        <name>dcvblogs</name>
        
    </author>
    
        <category term="Tài Liệu" scheme="http://www.sixapart.com/ns/types#category" />
    
        <category term="Vịnh Bắc Việt" scheme="http://www.sixapart.com/ns/types#category" />
    
    
    <content type="html" xml:lang="en-us" xml:base="http://www.dcvblogs.com/vuhuusan/">
        <![CDATA[<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: left" align="left"><font face="Times New Roman"><b><i><span style="COLOR: black">Vũ Hữu San</span></i></b></font></p>

<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><b>&nbsp;</b></font></p>

<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><b>Bản-đồ trong Văn-bản Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ</b></font></p>

<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">Ngoài biền không có núi, sông, làng xóm, cao-độ&#133; như thấy trong <span style="COLOR: #001020">Hiệp Ước Biên Giới Trên Đất Liền </span></font><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftn3" name="_ftnref3"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 12pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[3]</span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="COLOR: #001020">.</span> Tọa-độ địa-dư (kinh-độ, vĩ-độ) kèm theo đã xác-định vị-trí của sự phân-định.</font></p>
]]>
        <![CDATA[<form class="mt-enclosure mt-enclosure-image" mt:asset-id="304">
<p align="center"></form>
<form class="mt-enclosure mt-enclosure-image" mt:asset-id="304"><img class="mt-image-center" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 20px; TEXT-ALIGN: center" height="534" alt="bandophanchia01.jpg" src="http://www.dcvblogs.com/vuhuusan/2007/12/09/bandophanchia01.jpg" width="385" /></form>
<form class="mt-enclosure mt-enclosure-image" mt:asset-id="304">
<p><font style="FONT-SIZE: 0.8em">Sơ đồ đường phân định Vịnh Bắc Bộ theo Hiệp định 25.12.2000 (BĐNNG). Đường này là tập hợp những đoạn thẳng tuần tự nối liền 21 điểm phân định.</font></p></p>
<p></form>
<form class="mt-enclosure mt-enclosure-image" mt:asset-id="305"><img class="mt-image-center" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 20px; TEXT-ALIGN: center" height="332" alt="bandophanchia02.jpg" src="http://www.dcvblogs.com/vuhuusan/2007/12/09/bandophanchia02.jpg" width="317" /></form>
<form class="mt-enclosure mt-enclosure-image" mt:asset-id="304">
<p align="center"><font style="FONT-SIZE: 0.8em">Bảng liệt-kê toạ-độ các điểm phân-định.</font></p></p>
<p align="center"><font style="FONT-SIZE: 0.8em">Điểm 1 (21o28"12.5" Bắc - 108o06"04.3" Đông) nằm ở cửa sông Bắc Luân.</font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><font style="FONT-SIZE: 0.8em">&nbsp;</font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><?xml:namespace prefix = v ns = "urn:schemas-microsoft-com:vml" /><v:shape id=_x0000_s1038 style="WIDTH: 239.25pt; HEIGHT: 255.75pt" coordsize="21600,21600" type="#_x0000_t75"><v:imagedata src="bandophanchia_files/image003.jpg" o:title="image004"><font style="FONT-SIZE: 0.8em"></font></v:imagedata></v:shape></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><font face="Times New Roman"><i><span style="COLOR: blue">Bảng liệt-kê toạ-độ các điểm phân-định.</span></i></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><font face="Times New Roman"><i><span style="COLOR: blue">Điểm 1 (21<sup>o</sup>28"12.5" Bắc - 108<sup>o</sup>06"04.3" Đông) nằm ở cửa sông Bắc Luân.</span></i></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><font face="Times New Roman"><i><span style="COLOR: blue">Điểm 21 (17<sup>o</sup>47"00" Bắc - 107<sup>o</sup>58"00" Đông) nằm ở giữa Đảo Cồn Cỏ (Việt Nam) và Mũi Oanh Ca (Đảo Hải Nam,Trung Quốc). Đường chéo nối liền hai địa điểm này là đường đóng Vịnh Bắc Bộ</span></i>.</font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center"><font face="Times New Roman"><b><span style="COLOR: red">&nbsp;<img height="497" src="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia_files/image014a.jpg" width="390" border="0" /></span></b></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span lang="en-us"><b><font face="Times New Roman">Đ</font></b></span><b><font face="Times New Roman">ư</font></b><span lang="en-us"><b><font face="Times New Roman">ờ</font></b></span><font face="Times New Roman"><b>n<span lang="en-us">g phân-chia trong b</span>ản-đồ phân-chia như trên <span lang="en-us">(dấu </span>trong Hồ Sơ Mật của Hà-Nội<span lang="en-us"> khá lâu</span>)<span lang="en-us"> - đã được Hà-Nội Và Bắc-Kinh công-bố năm 2004 -</span><span style="COLOR: red"> cho ta thấy sự bất-bình-đẳng của "hiệp định phân định Vịnh Bắc-Bộ". Bất cứ một ai nhìn bản-đồ trên, lập-tức thấy rõ-ràng. Giới-chức CS nào nói lời "chia cắt công-bình" chỉ là kẻ ngụy-biện, vô lương-tâm, hay xin lỗi, ...mù mà thôi.</span></b></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">Trừ điểm khởi-hành tồi biên-giới Móng-cái / Quảng-Tây, tất cả các điểm mốc từ số 2 đến số 21 đều lấn sâu vào bờ biển Việt-Nam. Sự sai-biệt khoảng cách "ưu-đãi" đến bờ biển Trung-Hoa quá lớn, có nơi vượt trội tới gần 30 hải-lý (tại điểm số 17), 25 hải-lý (tại điểm số 14).&nbsp; Quái gở nhất là từ điểm 13, đường phân-định thọc sâu vào phía lãnh-thổ Việt Nam thêm 9 Hải-lý (#17 Km) nữa (đến điểm 14) để TC chiếm sao cho hết vùng thủy-tra-thạch cửa Sông Hồng. Như vậy khu-vực giữa Vịnh có tiềm-năng dầu khí đã hoàn-toàn mất cả rồi! Ý-kiến hay tài-liệu xin gửi<i><span style="COLOR: #0000a0"> &nbsp;</span><a style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="mailto:vuhuusan@homepage.com"><span style="COLOR: #0000a0">vuhuusan@yahoo.com</span></a><span style="COLOR: #0000a0">, </span></i>Chúng tôi chân-thành cảm tạ.</font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify">&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><b>Hải-giới và Hải-phận theo Lịch-Sử</b></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">BĐNNG trên là tấm bản-đồ có đầy-đủ tọa-độ đầu-tiên để mọi người có thể phân-tích nhiều vấn-đề về hải-phận trong Vịnh Bắc-Việt. </font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">Xưa kia, Sử Việt-Nam đã từng ghi chép chữ &#8220;hải-giới&#8221;, nhưng dĩ-nhiên là không có tọa-độ, vì thời đó chưa có phương-pháp định-vị như ngày nay. </font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">Trong "Hành Lục Tập", sứ-giả Tống-Cảo đã viết: "Cuối Thu năm ngoái, bọn Cảo chúng tôi đi đến <u>hải-giới Giao-Chỉ</u>, Nha Nội đô chỉ-huy-sứ của Hoàn là Đinh-Thừa-Chính đem chín chiến-thuyền và 300 quân đến Thái-Bình-Trường (Liêm-Châu) để đón. Từ cửa sông đi ra biển lớn, xông-pha sóng gió, trải bao nguy-hiểm, đi nửa tháng trời đến sông Bạch-Đằng... Đến Trường-Châu thì đã gần đến kinh-đô nước ấy. (Lê) Hoàn đem hết thủy-quân và chiến-cụ ra để thị-uy. Từ đó đi đêm đến bờ biển, cách Giao-Châu chừng 10 dậm về kinh-đô Hoa-Lư... </font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black"><font face="Times New Roman">Khi tiếp sứ, ý nhà Vua (Lê Hoàn tức Lê Đại Hành, 980 - 1005) ) còn muốn nhấn mạnh một lần nữa, xác-nhận biên giới Đại-Việt. Vua bảo Cảo rằng: "Sau này có quốc thư thì cho giao nhận ở đầu địa giới, khỏi phiền sứ thần đến tận đây nữa". Cảo về tâu, vua Tống bằng lòng.</font><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftn4" name="_ftnref4"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 12pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[4]</span></span></a><font face="Times New Roman"> </font></span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><span style="COLOR: black">&#8220;Hải-giới </span>Thái-Bình-Trường </font><span style="COLOR: black"><font face="Times New Roman">Liêm-Châu&#8221; sau 9 thế-kỷ bị lùi lại</font><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftn5" name="_ftnref5"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 12pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[5]</span></span></a><font face="Times New Roman">, theo </font></span><font face="Times New Roman">Công ước ngày 26.6.1887 (thường được gọi là Công ước Constans</font><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftn6" name="_ftnref6"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 12pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[6]</span></span></a><font face="Times New Roman">) ký giữa Pháp và<span style="COLOR: black"> Trung-Hoa).</span></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><span style="COLOR: black">Trong bài nghiên-cứu Ðường Biên-Giới Trên Biển của Việt-Nam, Pierre-Bernard Lafont có ghi: &#8220;&#133;đã được nhập vào với sự thương-thuyết về biên-giới giữa Pháp và Trung-Hoa, để đưa đến việc ký kết vào ngày 26 tháng 6 năm 1887 một Công-Ước, được biết dưới tên công-Ước Constans mà</span> </font><span style="COLOR: black"><font face="Times New Roman">điều 2 của công-Ước nầy ghi rằng <b>đường kinh-tuyến Ðông 105 độ 45 phút Paris, tương-ứng với đường kinh-tuyến Ðông 108 độ 03 phút 18 giây Greenwich, <u>là đường biên-giới giữa hai nước trong Vịnh Bắc-Bộ</u></b>."</font><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftn7" name="_ftnref7"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 12pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[7]</span></span></a></span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">Văn kiện duy nhất được thoả thuận giữa Paris và Bắc Kinh bắt đầu đề-cập tới tọa-độ địa-dư<span style="COLOR: black"> </span>với <span style="COLOR: black">đường kinh-tuyến Ðông Paris 105 độ 45 phút </span>là biên-giới biển. Trong suốt thời-gian hiện-diện tại Việt-Nam, Hải-Quân Pháp đã tuyệt-đối tuân-thủ hải-phận này. Chiến-hạm chiến-đĩnh Pháp tuần-tiễn chận bắt giặc cướp từ đất liền ra, bọn hải-tặc xâm-nhập vào, bọn buôn-bán hàng lậu, ma-túy; giữ vững an-ninh thủy-lộ vịnh Bắc-Việt phần phía Tây của Kinh-tuyến đã ký-kết.</font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">Ông Nguyễn Ngọc Giao cho rằng Công ước Constans hoàn toàn không đề cập tới lãnh hải, thềm lục địa hay vùng đặc quyền kinh tế</font><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftn8" name="_ftnref8"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 12pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[8]</span></span></a><font face="Times New Roman">. Đúng là lúc đó chưa có &#8220;vùng đặc quyền kinh tế&#8221; thật, nhưng thực-tế việc phân-định hải-phận trong Vịnh Bắc-Việt vì nhu-cầu khẩn-thiết thật rõ-ràng. </font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">Vào cuối thế-kỷ 19, vấn-đề an-ninh liên-hệ đến hải-phận như mật-thiết đến như thế nào, tài-liệu giấy tờ sách sử Việt-Pháp-Trung Hoa ghi rất chi-tiết. Tình-hình Vịnh Bắc-Việt hồi 1887 thúc đẩy người Pháp phải xác-định rõ ràng biên-giới trên biển để họ dễ kiểm-soát và bình-định xứ Bắc-kỳ. Khu-vực Vịnh Bắc-Việt là vòng đai nước &#8220;nhỏ hẹp&#8221;, gần như nội-hải chẳng phải rộng lớn như những vùng đặc quyền kinh tế 250-350 hải-lý chạy ra đại-dương mà ta thấy ngày nay. Ngoài khơi Vịnh Bắc-Việt, một chiếc Khu-Trục-Hạm Pháp chỉ cần 3 giờ là bao hết khu-vực đường bán kính 65 hải-lý, cho dù khi truy-kích, chạy tới Kinh-Tuyến <span style="COLOR: black">Ðông 108 độ 03 phút 18 giây Greenwich cũng dễ-dàng nhanh chóng. Một trong những nguyên-nhân người Pháp phải ký-kết để xác-nhân hải-phận theo <b>kinh-tuyến Ðông 105 độ 45 phút </b></span><b><span style="COLOR: black">Paris </span></b><span style="COLOR: black">chính là lẽ đó!</span></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><span style="COLOR: black">Còn người Trung-Hoa thì sao?</span> Rõ ràng là họ cũng muốn hải-phận trong Vịnh Bắc-Việt được chia cắt một cách rõ-ràng để giữ an-ninh cho chính nước Trung-Hoa. Chính-phủ họ đã nhiều khi, phải nhờ cả các chiến-hạm Hải-Quân Tây-phương như Anh, Pháp tiễu-trừ giúp hải-khấu trong Vịnh Bắc-Việt đó sao?! </font><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftn9" name="_ftnref9"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 12pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[9]</span></span></a><font face="Times New Roman"> </font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><b><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></b></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><b><span style="COLOR: black">Sự Rõ-ràng và Chính-xác của Công-ước 1887</span></b></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><span style="COLOR: black">Việt Nam Có Cần Phải Phân Ðịnh Lãnh Hải Trong Vịnh Bắc Việt Với Trung-Hoa?<b> </b></span></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><span style="COLOR: black">Tiến-Sĩ </span>Trương Nhân Tuấn trả lời câu hỏi trên trong bài: &#8220;Phân Ðịnh Lãnh Hải Việt Nam Và Trung Hoa Trong Vịnh Bắc Việt&#8221; như sau.</font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><span style="COLOR: black">Công-Ước Constans ký tại Bắc-Kinh ngày 16-6-1887 liên-quan về Biên-Giới vẫn còn hiệu-lực đến ngày hôm nay. Có nghĩa là đường kinh-tuyến Ðông Paris 105 độ 45 phút, tức là đường kinh-tuyến Ðông Greenwich 108 độ 03 phút 18 giây, vẫn còn là đường biên-giới giữa hai nước Việt-Hoa. Việt-Nam và Trung-Hoa vì thế không cần phải phân-định lãnh-hải trong Vịnh Bắc-Bộ thêm lần nữa.</span></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><span style="COLOR: black">Nhưng ta có thể đặt câu hỏi nên hay không nên <b>Xét Lại</b>&nbsp;đường biên-giới này? Vấn-đề đặt ra, đương-nhiên, là đường biên-giới trong Vịnh Bắc-Bộ đã được Công-Ước Constans 26-6-2003 xác-định có rõ-ràng và chính-xác hay không? </span></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><span lang="FR" style="COLOR: black">Rõ-ràng? Chắc-chắn là rất rõ-ràng, bởi vì những ghi-chú ở bản-đồ đính kèm Công-Ước đã quá cụ-thể:<u> Le méridien de Paris 105° 43&#8217; qui passe par la pointe orientale de l&#8217;ile Tra-Co, forme la frontière à partir du point où s&#8217;est arrêté le traité de la convention. Tạm dịch: Ðường kinh-tuyến Paris 105 độ 43 phút đi qua đông-điểm của đảo Trà-Cổ, làm thành đường biên-giới bắt đầu tại điểm mà điều-ước của Công-Ước chấm dứt</u>. Không thể viết rõ-ràng hơn nữa.</span></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><span lang="FR" style="COLOR: black">Chính-xác? Tuyệt-đối chính-xác, vì đường kinh-tuyến Ðông Paris 105° 43&#8217; sẽ bất-biến theo thời-gian.</span></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span lang="FR" style="COLOR: black"><font face="Times New Roman">Như thế không bên nào, Việt-Nam hay Trung-Hoa, có thể vịn vào việc thiếu chính-xác hay không rõ-ràng của Công-Ước Constans 26-6-1887 để mà yêu-cầu phân-giới lại.</font><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftn10" name="_ftnref10"><span class="MsoFootnoteReference"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 12pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[10]</span></span></a></span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span lang="FR" style="COLOR: black"><font face="Times New Roman">Ông Pierre-Bernard Lafont cũng từng viết rằng: <i>"</i>&nbsp;Đó là sự <i><u>xác-định đường biên-giới trên biển<b>. </b></u></i>Từ thỏa-ước đó, không một thỏa-ước nào khác cần&nbsp; ký-kết về vấn-đề biên-giới trên biển nữa.</font><i><font face="Times New Roman">" </font><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftn11" name="_ftnref11"><span class="MsoFootnoteReference"><b><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 12pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[11]</span></b></span></a></i></span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><span lang="FR">Ngay chính Hà-Nội, trong nhiều thập-niên vừa qua, cũng đã giữ những quan-điểm và lập-trường như vậy. </span>Đặc-biệt là vào năm 1982, Nhà nước CSVN nghiêm-chỉnh xác định rằng biên giới lãnh hải của Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ phải theo Công ước 1887 tức là 63% diện tích vịnh. Họ thường xuyên tuyên bố đường biên giới trong vịnh giữa VN và TQ đã được phân định rõ ràng theo Công ước 1887.&nbsp;&nbsp; </font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><span lang="FR">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; <span style="COLOR: black">Ông </span>Nguyễn Trúc Giang đưa lý-luận như sau: <span style="COLOR: black">Hiệp định 1887 đã phân chia lãnh hải trong vịnh Bắc Việt một cách hợp lý, với cách nhìn của thế giới vào cuối thế kỷ thứ 19. </span></span><span style="COLOR: black">Trên mặt lý thuyết thì sự phân chia không thật sự phù hợp với những quy ước mới ghi trong Luật về Biển do Liên Hiệp Quốc đề xướng mà Việt </span></font><span style="COLOR: black"><font face="Times New Roman">Nam lẫn Trung Hoa đều ký kết. Nhưng Luật về Biển cũng nhắc rằng các quốc gia cũng phải dựa vào các sự kiện lịch sử để phân chia các lãnh hải một cách công bằng. Vị trí của đảo Bạch Long Vĩ cũng phải được chú trọng vì tầm quan trọng của đảo này đối với đời sống của những người dân Việt trong vịnh sống bằng nghề đánh cá. Nhưng rốt cuộc, các điểm quan trọng này không được thấy thể hiện qua hiệp định vừa ký kết </font><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftn12" name="_ftnref12"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 12pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[12]</span></span></a></span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify">&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><b>Nguyên-tắc phân chia Hải-phận theo Luật hiện-hành</b></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Công-tâm mà nói Công-Ước <span style="COLOR: black">Constans đúng như một thứ &#8220;luật&#8221; mà hai bên Việt-Nam và Trung-Hoa đáng lẽ phải thi-hành nghiêm-chỉnh. Diễn-biến thực-tế hiện nay đã thay đổi, Trung-Hoa không thi-hành Công-Ước, bắt buộc Việt-Nam phải phân-định lại hải-phận. Nếu đành phải tái chia-cắt Vịnh Bắc-Việt theo Luật Biển mà hai phe đều ký nhận, Vịnh biển phải được phân-định như thế nào cho đúng luật lệ?&nbsp;&nbsp;&nbsp; </span></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">Trong Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển, "United Nations Convention on the Law of Sea&#8221;, 1982</font><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftn13" name="_ftnref13"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 12pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[13]</span></span></a><font face="Times New Roman"> (Viết tắt là UNCLOS hay Luật Biển LHQ) có một trong những mục quan-trọng nhất là phần &#8220;Nguyên-tắc Phân chia Hải-phận&#8221; cho các quốc-gia duyên-hải. Vì sự tranh-chấp chủ-quyền trên biển dễ-dàng dưa tới những hành-động võ-lực giữa những quốc-gia láng giềng, Luật Biển LHQ trình bày cách-thức phân chia hải-phận rất chính-xác, rõ-ràng và rất dễ hiểu. </font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">Ngay trong Thoả-ước Geneva 1958 về Lãnh-Hải và Vùng Phụ-cận (mà sau này Luật Biển có tham-chiếu), cũng đã đề-cập đến việc phân-chia hải-phận theo các trung-điểm và các đường trung-tuyến chạy giữa hai đường bờ biển. Đó là nguyên-tắc sử-dụng để ấn-định vị-trí biên-giới biển giữa hai quốc-gia.</font><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftn14" name="_ftnref14"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 12pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[14]</span></span></a><font face="Times New Roman"> </font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">Sau nhiều lần sửa chữa, nội-dung những điều này đã được diễn-tả bằng những lời văn ngắn gọn, chính-xác. Trong trường-hợp hai quốc-gia láng giềng như Trung-Hoa và Việt-Nam không đi đến thỏa-thuận cùng nhau chia-cắt hải-phận theo những cách riêng, thì UNCLOS áp-dụng Đoạn 12 Điều 15:&nbsp; phân chia theo trung-tuyến &#8220;median line&#8221; mà từ mọi điểm trên đó phải có cùng khoảng cách đến các điểm gần nhất của đường cơ sở lãnh-hải hai quốc-gia. Nguyên văn như sau:&nbsp;&nbsp; &nbsp;</font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><font face="Times New Roman">SECTION 2. LIMITS OF THE TERRITORIAL SEA</font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><b><font face="Times New Roman">Article 15<br />Delimitation of the territorial sea &nbsp;between States with opposite or adjacent coasts Where the coasts of two States are opposite or adjacent to each other, neither of the two States is entitled, failing agreement between them to the contrary, to extend its territorial sea beyond the median line every point of which is equidistant from the nearest points on the baselines from which the breadth of the territorial seas of each of the two States is measured.</font><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftn15" name="_ftnref15"><span style="FONT-SIZE: 12pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[15]</span></a></b></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify">&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><b>Những hình vẽ mẫu căn-bản</b></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Để việc trình-bày được rõ-ràng, các cơ-quan LHQ cũng như nhiều luật-gia đưa ra các hình vẽ mẫu có thể dùng làm căn-bản. Họa-viên cũng thường sử-dụng những bản-đồ chia cắt đã thành án-lệ để đề-nghị những đường phân-chia hải-phận cho những quốc-gia đang tranh cãi.&nbsp; </font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">(1) Cách vẽ Vành đai Lãnh-hải 12 Hải-lý </font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Trước hết là mẫu vẽ đường vành đai lãnh-hải 12 Hải-lý dọc bờ biển khi nước ròng sát</font><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftn16" name="_ftnref16"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 12pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[16]</span></span></a><font face="Times New Roman">. Dưới đây là hai mẫu họa đồ với phần phụ-chú (nguyên-văn Anh-ngữ) được ghi phía dưới trang.</font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify">&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><font face="Times New Roman"><v:shape id=_x0000_s1037 style="WIDTH: 150.75pt; HEIGHT: 102.75pt" coordsize="21600,21600" type="#_x0000_t75"><v:imagedata src="bandophanchia_files/image005.gif" o:title="image005"></v:imagedata></v:shape>&nbsp;<v:shape id=_x0000_s1036 style="WIDTH: 150.75pt; HEIGHT: 101.25pt" coordsize="21600,21600" type="#_x0000_t75"> <v:imagedata src="bandophanchia_files/image006.gif" o:title="image007"></v:imagedata></v:shape></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><font face="Times New Roman"><strong>Figure 1&nbsp; </strong></font><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftn17" name="_ftnref17"><span class="MsoFootnoteReference"><b><span style="FONT-SIZE: 12pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[17]</span></b></span></a><font face="Times New Roman"><strong>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Figure 2&nbsp; </strong></font><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftn18" name="_ftnref18"><span class="MsoFootnoteReference"><b><span style="FONT-SIZE: 12pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[18]</span></b></span></a></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><b>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </b></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">(2) Cách vẽ đường phân-chia hải-phận </font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">Sau khi có đường vành đai lãnh-hải 12 Hải-lý làm căn-bản, họa-viên tiếp-tục vẽ đường phân-chia hải-phận hai quốc-gia láng giềng bằng cách định các trung-điểm, sau đó nối các trung-điểm lại với nhau thành trung-tuyến. Các mẫu vẽ tương-tự như trình-bày ở đây. Phần phụ-chú (nguyên-văn) được ghi phía dưới trang. </font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify">&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><font face="Times New Roman"><v:shape id=_x0000_s1035 style="WIDTH: 141.75pt; HEIGHT: 107.25pt" coordsize="21600,21600" type="#_x0000_t75"><v:imagedata src="bandophanchia_files/image007.gif" o:title="image009"></v:imagedata></v:shape>&nbsp; <v:shape id=_x0000_s1034 style="WIDTH: 141.75pt; HEIGHT: 107.25pt" coordsize="21600,21600" type="#_x0000_t75"><v:imagedata src="bandophanchia_files/image008.gif" o:title="image011"></v:imagedata></v:shape></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><font face="Times New Roman"><strong>Figure 3&nbsp;&nbsp; </strong></font><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftn19" name="_ftnref19"><span class="MsoFootnoteReference"><b><span style="FONT-SIZE: 12pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[19]</span></b></span></a><font face="Times New Roman"><strong> &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Figure 4&nbsp;&nbsp; </strong></font><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftn20" name="_ftnref20"><span class="MsoFootnoteReference"><b><span style="FONT-SIZE: 12pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[20]</span></b></span></a></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><br />(3) Một số đường phân-định hải-phận hiện hành</font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">Dưới đây là những bản-đồ được tìm thấy trong các hồ-sơ về tranh-chấp hay thỏa-hiệp hải-phận. Nhờ theo đúng tinh-thần UNCLOS mà trong thời-gian những thập-niên gần đây, những vụ tranh-chấp về hải-phận đã được phân-xử thỏa-đáng giữa các quốc-gia láng giềng, không có chiến-tranh xảy ra. &nbsp;</font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify">&nbsp;</p>
<div style="BORDER-RIGHT: red 1pt solid; PADDING-RIGHT: 4pt; BORDER-TOP: red 1pt solid; PADDING-LEFT: 4pt; PADDING-BOTTOM: 1pt; BORDER-LEFT: red 1pt solid; PADDING-TOP: 1pt; BORDER-BOTTOM: red 1pt solid; mso-border-alt: solid red .5pt">
<p class="MsoNormal" style="BORDER-RIGHT: medium none; PADDING-RIGHT: 0in; BORDER-TOP: medium none; PADDING-LEFT: 0in; PADDING-BOTTOM: 0in; BORDER-LEFT: medium none; PADDING-TOP: 0in; BORDER-BOTTOM: medium none; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><v:shape id=_x0000_s1033 style="WIDTH: 260.25pt; HEIGHT: 183pt" coordsize="21600,21600" type="#_x0000_t75"><v:imagedata src="bandophanchia_files/image009.png" o:title="image013"></v:imagedata></v:shape><v:shape id=_x0000_s1032 style="WIDTH: 253.5pt; HEIGHT: 174.75pt" coordsize="21600,21600" type="#_x0000_t75"><v:imagedata src="bandophanchia_files/image011.jpg" o:title="image016"></v:imagedata></v:shape></font></p>
<p class="MsoNormal" style="BORDER-RIGHT: medium none; PADDING-RIGHT: 0in; BORDER-TOP: medium none; PADDING-LEFT: 0in; PADDING-BOTTOM: 0in; BORDER-LEFT: medium none; PADDING-TOP: 0in; BORDER-BOTTOM: medium none; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">Hình A- Phân-chia hải-phận giữa Yemen và Eritrea.&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Hình B- Hải-phận giữa Hoa-Kỳ và Canada.</font></p>
<p class="MsoNormal" style="BORDER-RIGHT: medium none; PADDING-RIGHT: 0in; BORDER-TOP: medium none; PADDING-LEFT: 0in; PADDING-BOTTOM: 0in; BORDER-LEFT: medium none; PADDING-TOP: 0in; BORDER-BOTTOM: medium none; TEXT-ALIGN: justify">&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="BORDER-RIGHT: medium none; PADDING-RIGHT: 0in; BORDER-TOP: medium none; PADDING-LEFT: 0in; PADDING-BOTTOM: 0in; BORDER-LEFT: medium none; PADDING-TOP: 0in; BORDER-BOTTOM: medium none; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><v:shape id=_x0000_s1031 style="WIDTH: 181.5pt; HEIGHT: 330pt" coordsize="21600,21600" type="#_x0000_t75"><v:imagedata src="bandophanchia_files/image012.jpg" o:title="image017"></v:imagedata></v:shape><v:shape id=_x0000_s1030 style="WIDTH: 342pt; HEIGHT: 330pt" coordsize="21600,21600" type="#_x0000_t75"><v:imagedata src="bandophanchia_files/image013.png" o:title="image019"></v:imagedata></v:shape></font></p>
<p class="MsoNormal" style="BORDER-RIGHT: medium none; PADDING-RIGHT: 0in; BORDER-TOP: medium none; PADDING-LEFT: 0in; PADDING-BOTTOM: 0in; BORDER-LEFT: medium none; PADDING-TOP: 0in; BORDER-BOTTOM: medium none; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">Hình C- Đường phân-chia biển Caspian.&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Hình D- Phân-chia hải-phận giữa Bahrian, Qatar, Saudi Arabi</font></p></div>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify">&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">Quan-sát những đường phân-định trên, ta thấy rằng cách phân-chia hải-phận rõ-rệt độc-nhất là theo đường trung-tuyến với những ưu-đãi hơn một chút cho quốc-gia nào có nhiều đảo nhỏ (hình a: hải-phận Yemen nhiều hơn Eritrea). Giữa Hoa-Kỳ và Canada, các đảo nhỏ bé cũng được tôn-trọng như bờ biển (hình b). Phương-cách họa-hình là thiết-lập những đường phân chia giản-dị, cho dù phải chia phần cho nhiều nước (hình c: việc phân-định có liên-hệ tới 5 quốc-gia duyên-hải quanh Biển Caspian) hay phải bao quanh ba mặt cho một quốc-gia (hình d: hải-phận của Bahrian lọt thỏm giữa Qatar và Saudi Arabia).</font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; <span style="COLOR: black">Có những nước chưa ký-nhận thi-hành thỏa-ước như Hoa-Kỳ, cũng chấp-nhận nguyên-tắc phân-chia hải-phận theo trung-tuyến &#8220;đồng khoảng cách&#8221; này</span></font></p><font face="Times New Roman"><span style="COLOR: black">
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><b>Luật Biển LHQ và Trường-hợp Vịnh Bắc-Việt</b></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Hai chính-phủ Bắc-Kinh và Hà-Nội đã chính-thức công-bố cùng tôn-trọng, thi-hành Luật Biển LHQ. Việc phân-chia Hải-phận đáng lẽ cứ đúng điều-lệ LHQ mà làm, khỏi cần thương-thuyết cũng xong. Thế-giới loài người luôn-luôn hoan-nghênh tinh-thần &#8220;thượng-tôn luật-pháp&#8221; như vậy. &nbsp;&nbsp;&nbsp;</font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Một số bản-đồ đề-nghị phân-chia Vịnh Bắc-Việt theo tinh-thần Luật Biển LHQ đã được vẽ ra một cách vô-tư bởi những người ngoại-quốc. Chúng tôi xin đơn-cử hai bản-đồ tiêu-biểu sau đây:</font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><b>(1) Bản-đồ của Viện Đại-học Texas</b></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">Trong giai-đoạn Việt-Nam và Trung-Hoa đụng-độ và tranh-chấp biên-giới, Viện Đại-học Texas đưa ra tấm bản-đồ về biên-gìới trên đất cũng như ngoài biển. Đường phân-định năm 1887 và đường trung-tuyến Median Line theo Luật Biển LHQ được biểu-thị chính-xác. Ðịa-chỉ internet:</font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><a style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.lib.utexas.edu/maps/middle_east_and_asia/china_vietnam_border_88.jpg">http://www.lib.utexas.edu/maps/middle_east_and_asia/china_vietnam_border_88.jpg</a></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify">&nbsp;<font face="Times New Roman"><i><span style="COLOR: #3366ff">&nbsp;</span></i></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><font face="Times New Roman"><i><span style="COLOR: blue">Tấm bản-đồ của Viện Đại-học Texas về biên-gìới trên đất cũng như ngoài biển. Đường phân-định năm 1887 và đường trung-tuyến Median Line vẽ theo Luật Biển LHQ </span></i></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center">&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><b><span lang="FR">(2) Bản-Đồ của Luật-Sư Valencia</span></b></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><span lang="FR">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Luật-Sư Valencia thuộc Viện Đông Tây ở Hawaii từng công-bố nhiều bản-đồ phân-chia hải-phận Biển Đông. Vịnh Bắc-Việt được Viện này lưu-tâm ngay từ thập-niên 1970, tấm bản-đồ sau đây từng được nhiều người biết đến, làm mẫu-mực cho nhiều trường Đại-học, đặc-biệt các phân-khoa Luật khắp nơi sử-dụng làm tài-liệu mỗi khi đề cập đến Vịnh Bắc-Việt. </span></font></p><font face="Times New Roman"><span lang="FR"></span></font>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><span lang="FR"><v:shape id=_x0000_s1028 style="WIDTH: 525pt; HEIGHT: 586.5pt" coordsize="21600,21600" type="#_x0000_t75"><v:imagedata src="bandophanchia_files/image016.png" o:title="image023"></v:imagedata></v:shape></span></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify" align="center"><font face="Times New Roman"><i><span lang="FR" style="COLOR: blue">Sơ-lược sự hình-thành Đường Phân-định theo Bản-Đồ của Luật-Sư Valencia:</span></i></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><font face="Times New Roman"><i><span lang="FR" style="COLOR: blue">Nối tâm của những vòng tròn nội-tiếp giữa hai đường bờ biển (một số vòng tượng-trưng như trong hình trên) người ta vẽ ra được đường phân-chia hải-phận. Càng vẽ nhiều vòng tròn thì họa-viên càng có nhiều tâm-điểm (tức trung-điểm), và đường trung-tuyến phân-định hải-phận (bằng cách nối các trung-điểm) sẽ thêm phần chính-xác.</span></i></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><b><span lang="FR" style="COLOR: red">&nbsp;</span></b></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><b><span lang="FR" style="COLOR: black">Có thực là 53% không?</span></b></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><span lang="FR" style="COLOR: black">Trong lịch-sử nhân-loại, chưa thấy nước nào khi bị quốc-gia láng giềng chiếm-đoạt lãnh-thổ và hải-</span><span lang="FR">phận mà lại hoan-hỉ <span style="COLOR: black">như Việt-Nam</span>. </span>Tinh-thần tự-trọng, sĩ-khí danh-dự ở chỗ nào? Hy-vọng những nhân-vật liên-hệ đến sự kiện nhơ-nhớp này hãy suy-nghĩ lại trước khi lịch-sử ghi tên tuổi các anh. Sau này lúc con cháu xem đến những trang này, ắt sẽ phải cúi mặt xuống, xấu-hổ thay cho cha ông dòng họ mà thôi!</font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">Như trên đã trình-bày, Luật Biển LHQ rất rõ-ràng, Bất cứ ai theo đó mà họa thì cũng vẽ ra ranh-giới trong Vịnh Bắc-Việt. Với những phương-tiện định-vị hiện-thời sai-số rất nhỏ trong vòng năm mười thước &nbsp;</font><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftn21" name="_ftnref21"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 12pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[21]</span></span></a><font face="Times New Roman">, bản-đồ hay hải-đồ vô-cùng chính-xác! Trong khi chờ-đợi những bản-đồ có tính-cách chuyên-nghiệp, với phương-tiện gia-đình thô-sơ, chúng tôi xin tạm trình ra tấm bản-đồ dưới đây. <b><span style="COLOR: red">&nbsp;</span></b></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify">&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><img height="545" src="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia_files/image254.jpg" width="405" border="0" /></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><font face="Times New Roman"><i><span style="COLOR: blue">Hải-phận Kinh-tế Việt-Nam (vùng trắng) nằm ngoài vùng lãnh-hải 12 HL (lãnh-hải được coi như lãnh-thổ) thực-sự nhỏ hơn Trung Hoa rất nhiều. Ước-lượng Trung-Hoa 55%, Việt-Nam 45% là tối-đa!!! Xin lưu-ý những khoảng cách &#8220;bất bình-đẳng&#8221;</span></i></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><font face="Times New Roman"><i><span style="COLOR: blue">Vùng hải-phân VN bị mất đi rất lớn, ước-lượng vào khoảng 15,000 Km2, chưa kể ưu-thế về (1) lục-địa Việt-Nam/đảo Hải Nam. (2)&nbsp; đáy biển VN chạy xuôi ra khơi, (3) chiều dài bờ biển,(4) dân-cư VN duyên-hải đông-đảo vv... Cứ giả-thuyết các ưu-thế được Luật Biển LHQ cho phép diện-tích gia-tăng là 5%, VN mất nhiều quá!</span></i></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify">&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><b>Thâm-ý của Trung-Hoa</b></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Người Trung-Hoa đương-nhiên thấu-triệt Luật Biển. Không thể họ không biết cách vẽ trung-tuyến (tức đường chia hải-phận) theo lẽ công-bằng và đúng Luật Biển LHQ. Vậy tại sao Trung-Hoa ép Việt-Nam chấp-nhận BĐNNG như vậy? Chúng ta chỉ có thể nghĩ rằng <span lang="en-us">Hà Nội</span> bị lòng tham quyền cố vị, sợ-hài ngoại-bang&#133;làm mất lương-tri. Còn những ai bênh-vực bản-đồ này cũng mờ mắt, ngụy-biện theo Trung-Hoa hay sau?!</font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">Xin mời tất cả quý-vị tìm xem những bản-đồ trong các hồ-sơ khai-thác dầu khí thì thấy rõ ngay vấn-đề. Chúng tôi trình-bày dưới đây một trong hàng trăm tấm bản-đồ loại này của dự-án &#8220;Wengchang Oilfields Project&#8221;. Nguồn lợi của tài-nguyên rõ-ràng đã thúc-đẩy Trung-Hoa lấn hải-phận Việt-Nam.</font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><span style="COLOR: black">Sự gian-dối của Trung-Cộng tồi-te đến độ &#8220;ăn cắp&#8221; ngay tại điểm 21, chỗ cửa Vịnh.</span></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><span style="COLOR: black">Điểm 21 đúng ra là trung-điểm giữa bìa đảo Cồn Cỏ </span></font><span class="grey1"><span style="FONT-SIZE: 8.5pt; COLOR: black"><font face="Times New Roman">17:09:53N (17.1647), 107:20:50E (107.3471)</font></span></span><font face="Times New Roman"><span style="COLOR: black">và bìa đảo Hải-Nam (Mũi Oanh Ca) </span></font><span class="grey1"><span style="FONT-SIZE: 8.5pt; COLOR: black"><font face="Times New Roman">18:30:38N (18.5106), 108:41:20E (108.6889), chính-xác phải là&nbsp; 17:50:15N (17.8377), 108:01:05E (108.0180)</font></span></span><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftn22" name="_ftnref22"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="COLOR: black"><span style="FONT-SIZE: 12pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[22]</span></span></span></a><span class="grey1"><span style="FONT-SIZE: 8.5pt; COLOR: black"><font face="Times New Roman">. Năm ba hải-lý</font></span></span><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftn23" name="_ftnref23"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="COLOR: black"><span style="FONT-SIZE: 12pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[23]</span></span></span></a><span class="grey1"><span style="FONT-SIZE: 8.5pt; COLOR: black"><font face="Times New Roman"> mà sao đàn anh cũng muốn ngoạm luôn! </font></span></span><font face="Times New Roman">&nbsp;</font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><font face="Times New Roman"><v:shape id=_x0000_s1026 style="WIDTH: 424.5pt; HEIGHT: 279.75pt" coordsize="21600,21600" type="#_x0000_t75"><v:imagedata src="bandophanchia_files/image019.gif" o:title="image029"></v:imagedata></v:shape></font></p>
<p class="MsoHeading7"><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 12pt; COLOR: blue">Bản-đồ này trình-bày những khu-vực Trung-Hoa đang khai-thác dầu khí. Lưu-ý hầu hết hai vùng lòng chảo </span><span style="FONT-SIZE: 12pt; COLOR: blue">Quỳnh-Hải</span><span style="FONT-SIZE: 12pt; COLOR: blue"> </span><span style="FONT-SIZE: 12pt; COLOR: blue">Yinggehai Basin và Bắc-Bộ Beibu Gulf Basin đều nằm trên triền dốc của thềm lục-địa VN.</span></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify">&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><b>Các tiêu chí phân chia theo Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển,1982.</b></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Luật Biển LHQ và các các án-lệ đưa ra những tiêu-chí nhường ưu-tiên cho những quốc-gia duyên-hải có một số các đặc-điểm, tạm kể ra như sau:</font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">(1) đảo (như Hải-Nam) không thể đồng-hóa với lục-địa (Việt-Nam)</font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">(2) địa-hình đáy biển chạy dài thoai-thoải ra khơi, </font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">(3) dân-chúng sống tại duyên-hải đông hơn, </font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">(4) bờ biển dài hay nhiều đảo hơn, </font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">(5) quá-trình lịch-sử...&nbsp; </font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><b><span style="COLOR: red">&nbsp;</span></b></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><b><span style="COLOR: black">Quy-chế đảo</span></b></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><span style="COLOR: black">Như trên thực-tế, Việt-Nam đã không đòi được quy-chế xứng-đáng cho Bạch-Long-Vĩ cũng như mấy ngàn đảo trong vịnh Bắc-Việt. Tại sao sự vô-lý này không áp-dụng cho đảo Hải-Nam?</span></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">Trong án lệ Lybia/Malta (l985) Tòa án Quốc-Tế về Luật Biển cho rang hải-đảo dù lớn cũng không thể nào bình-đẳng với đất liền lục-địa. Án-lệnh &#8220;Libya v. Malta (Continental Shelf) (1985) ICJR 13&#8221; không đồng hóa đảo Malta với lục địa Phi-châu.</font><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftn24" name="_ftnref24"><span style="FONT-SIZE: 12pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[24]</span></a><font face="Times New Roman">&nbsp; .</font></p>
<p class="MsoNormal">&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><b><span style="COLOR: black">Mới chi 40% bờ Đảo mà đã lấn chiếm được nhiều đến vậy sao?</span></b></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">Nước Trung-Hoa là một nước không những lớn nhất về diện-tích, về dân-số; mà về mặt văn-hóa lễ-nghĩa cũng đáng kể là đứng đầu. Nhân-loại có lẽ ít ai thấu-hiểu được lòng tham không đáy của chính-quyền Cong-Sản đương-thời Beijing.</font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black"><font face="Times New Roman">Ðối với người Việt-Nam muốn tìm-hiểu đảo Hải-Nam lấn-lướt áp-chế Việt-Nam như thế nào, chúng ta nên đọc tài-liệu ngắn ngủi</font><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftn74"><span title=""><span class="MsoFootnoteReference"><span style="COLOR: black; TEXT-DECORATION: none"><span style="FONT-SIZE: 12pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[25]</span></span></span></span></a><font face="Times New Roman"> sau đây. Thống-kê diện-tích biển được các hãng dầu lửa ghi-nhận, thực-sự là một kiến-thức quan-trọng làm chóng mặt mọi người: &#8220;Hải-Nam là tỉnh nhỏ nhất của Trung-Hoa, nhưng sở-hữu tới 2.2000,000 km2 hải-phận đặc-quyền kinh-tế.&#8221; Chúng tôi cũng trích-đăng nguyên một đoạn nhỏ trong bài viết của Nhân-Dân Nhật-Báo Bắc-Kinh ngày 09/28/2000 như sau:</font></span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black"><font face="Times New Roman">Facing the South China Sea, China's largest tropical island, Hainan Province, has been newly designated to create a comprehensive strategy to tackle its marine resources&#133; In term of its land, Hainan is the smallest province in China, but taking into consideration its 2.2 million square kilometer of sea territory, it is the largest.</font><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftn26" name="_ftnref26"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 12pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[26]</span></span></a></span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><span style="COLOR: black">Thật là &#8220;lòng tham không đáy&#8221;!</span></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black"><font face="Times New Roman">Chỉ một hòn đảo thôi, Trung-Hoa đã chiếm hết phần lớn Biển Đông. Diện-tích biển này gấp 7 lần diện-địa Việt-Nam (339,000 km2). So sánh khác đi, hải-phận của riêng Hải-Nam gấp gần 4 lần hải-phận kinh-tế của toàn-thể nước Việt-Nam chúng ta.</font><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftn27" name="_ftnref27"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 12pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[27]</span></span></a></span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><font face="Times New Roman"><span style="COLOR: black"><v:shape id=_x0000_s1025 style="WIDTH: 295.5pt; HEIGHT: 343.5pt" coordsize="21600,21600" type="#_x0000_t75"><v:imagedata src="bandophanchia_files/image020.jpg" o:title="image031"></v:imagedata></v:shape></span></font></p>
<p class="MsoHeading7"><font face="Times New Roman" color="#3366ff"><span class="captionCharCharChar"><span style="FONT-SIZE: 12pt"><em>&nbsp;Theo Trung-Cộng, Vùng Hải-phận bao&nbsp; quanh đảo Hải-Nam quá sức rộng lớn </em></span></span></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><font face="Times New Roman"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><b><span style="COLOR: black">Thế cũng gọi là thương-thảo sao?</span></b></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><span style="COLOR: black">Vào thương-thuyết, sau khi đã đặt trên bàn: 40 triệu dân-cư và gần một nửa duyên-hải toàn-quốc; Việt-Nam không khác chi một tay chơi non kém, dại dột "tố xả láng" và phung-phí tiền bạc trong một canh bạc khơi mào... </span></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><span style="COLOR: black">Phân-tích Hiệp-định, chính-quyền Hà-Nội phải nhận thấy rằng Việt-Nam chẳng thu lại được bao nhiêu quyền-lợi mà vốn liếng đã kiệt. Làm sao Việt-Nam còn đầy đủ sức-lực cho một cuộc thương-thảo nhiều lần quan-trọng hơn, về Hoàng-Sa, Trường-Sa cũng như toàn-thể chủ-quyền Biển Đông sau này.</span></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><span style="COLOR: black">Phía Trung-Cộng vẫn chưa chính-thức bước vào cuộc thương-thảo lớn trên Biển Đông. Thế mà họ thực-sự đã thắng một hiệp quyết-định. Trung-Cộng mới chỉ đưa ra một đoạn bờ biển ngắn Liễu-Châu và 40% Hải-Nam lên bàn mà gặt hái ngay được một khu-vực chủ-quyền lớn lao ngoài biển như vậy sao? Lý ra, ai cũng phải biết rằng duyên-hải còn lại của Trung-Cộng dài gấp ít nhất là 5, 7 lần đoạn Bắc-Luân - Mũi Oanh-Ca chứ!</span></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman">Sỉ-nhục phong-thể Quốc-gia, sĩ-khí ở chỗ nào thế, các đồng chí Cộng-Sản Việt-Nam?</font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><b><span style="COLOR: black">Quan-niệm Tài-sản chung của Nhân-loại trong Luật Biển LHQ</span></b></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><span style="COLOR: black">Dù biết rằng Trung-Cộng không thèm nói chuyện luật-lệ với đàn em Hà-Nội, nhưng toàn-thể thế-giới văn-minh tiến-bộ đều muốn đổi thay bộ mặt thiên-hạ thuộc "Đấng Con Trời" ngày xưa. Hôm nay đâu còn là thời-đại Thuộc-quốc quỳ-lạy Thiên-triều như khi xưa nữa. Ngày 10-12-1982, một Thỏa-ước của Liên-Hiệp-Quốc "United Nations Convention on the Law of Sea", viết tắt là UNCLOS, đã ra đời. Nội-dung của thỏa-ước rất lý-tưởng như cho rằng Biển cả là tài-sản chung của Nhân-Loại".</span></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><font face="Times New Roman"><span style="COLOR: black">Vì là tài-sản chung nên yếu-tố dân-số sinh-sống tại duyên-hải rất quan-trọng. Nhiều yếu-tố khác cũng được Luật Biển đề-cập đến như: hình-thể đáy biển nối dài ra khơi, tổng-số đảo, diện-tích lãnh-thổ cận-duyên, chiều dài bờ biển, tỷ-lệ bờ biển/ đất liền v.v... Những con số này được dùng để tính-toán trong việc quy-định vùng hải-phận theo Luật Biển LHQ ngày nay.</span></font></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify">&nbsp;</p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-ALIGN: justify"><b><span style="FONT-SIZE: 12pt; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">Việt </span><span style="FONT-SIZE: 12pt; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">Nam</span><span style="FONT-SIZE: 12pt; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'"> phải làm gì</span></b></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-SIZE: 12pt; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Chắc-chắn là có nhiều việc phải-làm. Chính-quyền Hà-Nội biết chắc-chắn những điều đó, phải làm đi!</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-SIZE: 12pt; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">Trong tinh-thần thượng tôn luật-pháp, người Việt-Nam phải dựa vào Luật Biển LHQ &#8220;thực-sự&#8221; để&nbsp; nói chuyện với Trung-Hoa. Nếu còn kém ta phải học hay nhờ người hiểu-biết Luật Biển giúp đỡ. Có nhiều luật gia và chuyên gia quốc tế sẵn lòng bênh-vực cho lẽ phải Việt-Nam. Họ vẽ ranh giới rõ-ràng lắm!</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-SIZE: 12pt; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Trên thực-tế cuộc điều giải đã coi như bất thành vì Trung-Hoa tự đặt luật-lệ, điều-kiện ép buộc Việt-Nam quá đáng. Có họp nữa cũng vậy thôi. Đã đến lúc phải đưa những vụ tranh chấp hải-phận ra Tòa Án Quốc Tế mà thôi!</span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-SIZE: 12pt; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'"></span></p>
<p class="MsoPlainText" style="TEXT-ALIGN: right" align="right"><b><i><span style="FONT-SIZE: 12pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'">Vũ Hữu San</span></i></b></p>
<div style="mso-element: footnote-list"><font face="Times New Roman">
<hr align="left" width="33%" size="1">
 
<div id="ftn1" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoNormal"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref1" name="_ftn1"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[1]</span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt"> Chúng tôi dùng chữ Vịnh Bắc Việt (hay Vịnh Bắc Việt-Nam) vì vùng biển này không phải chỉ bao quanh Bắc-Bộ. Phần bờ biển lớn hơn của Vịnh này (chừng 55%) kéo dài từ Thanh-Hóa đến tận Ðảo Cồn Cỏ thuộc tỉnh Quảng-Trị, Trung-phần Việt-Nam</span></font></p></div>
<div id="ftn2" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoNormal"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref2" name="_ftn2"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[2]</span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt"> Hiệp định biên giới Việt-Trung (3)Phân định vùng biển Vịnh Bắc Bộ.</span></font></p></div>
<div id="ftn3" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoNormal"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref3" name="_ftn3"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[3]</span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt"> Nghị Quyết 36/2000/QH10 ngày 09/6/2000 về việc phê chuẩn Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Nông Đức Mạnh ký)</span></font></p></div>
<div id="ftn4" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoNormal"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref4" name="_ftn4"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[4]</span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt"> Đại-Việt Sử-Ký, Bản Kỷ Toàn Thư 1: Nhà Đinh. Nhà Tiền Lê (968 - 1009)</span></font></p></div>
<div id="ftn5" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoFootnoteText"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref5" name="_ftn5"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[5]</span></span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt"> </span><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black">Thua thiệt phía Việt-Nam, lùi biên-giới tới Trà-Cổ, là do sự nhượng-bộ của phái-đoàn Pháp. </span><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black">Xem bài của Pierre-Bernard Lafont. <u>La Frontière maritime du Vietnam. </u></span></font></p></div>
<div id="ftn6" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoNormal"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref6" name="_ftn6"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[6]</span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt"> Gọi theo tên người đại diện cho chính phủ Pháp là Ernest Constants </span></font></p></div>
<div id="ftn7" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoFootnoteText"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref7" name="_ftn7"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[7]</span></span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt"> </span><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black">Pierre-Bernard Lafont. <u>La Frontière maritime du Vietnam</u>, từ trang 235 đến trang 243, trong quyển&nbsp;<u>Les Frontières du Vietnam</u>, do chính ông làm chủ-biên, nxb Harmattan, Paris 1989. Trang 236-237 </span></font></p></div>
<div id="ftn8" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoFootnoteText"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref8" name="_ftn8"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[8]</span></span></span></a><font face="Times New Roman"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt"> Nguyên vẹn câu viết của Ông Nguyễn-Ngọc-Giao&nbsp;như sau: Công ước Constans hoàn toàn không đề cập tới lãnh hải, thềm lục địa hay vùng đặc quyền kinh tế , vì một lí do đơn giản: lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế là những khái niệm chưa có ở cuối thế kỉ 19. </span><span style="FONT-SIZE: 11pt">Mãi tới giữa thế kỉ 20, chúng mới xuất hiện và tới năm 1982, chúng mới được quy định trong Công ước quốc tế về Luật Biển.&#8221; </span></font></p></div>
<div id="ftn9" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoFootnoteText"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref9" name="_ftn9"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[9]</span></span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt"> Dian H. Murray. <span style="COLOR: black">Pirates of the </span></span><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black">South</span><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black"> </span><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black">China Coast, 1790-1810. Stanford University Press, 1987.</span></font></p></div>
<div id="ftn10" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoNormal"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref10" name="_ftn10"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[10]</span></span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt"> Trương Nhân Tuấn. Phân Ðịnh Lãnh Hải Việt Nam Và Trung Hoa Trong Vịnh Bắc Việt.</span></font></p>
<p class="MsoNormal"><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><a style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.daiviet.org/">www.daiviet.org</a> và nhiều Websites khác </span></font></p></div>
<div id="ftn11" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref11" name="_ftn11"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[11]</span></span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt"> Câu văn đó như sau: &#8220;&#133;sự việc nhượng-bộ (của Phái-đoàn Pháp) có tầm quan-trọng bội-phần: lấy đi một phần lãnh-thổ của Việt-Nam<b>,</b>&nbsp; <b><u>xác-định đường biên-giới trên biển</u></b>, và chủ-quyền của các đảo ven bờ: "Các đảo ở về phía Ðông của đường kinh-tuyến Ðông 105 độ 43 phút Paris, có nghĩa là đường thẳng Bắc-Nam đi ngang qua đông-điểm của đào Trà-Cổ và tạo thành đường biên-giới thì chúng thuộc về Trung-Hoa...&nbsp;". Từ đó không một thỏa-ước nào khác phải&nbsp; ký-kết về vấn-đề biên-giới trên biển giữa Trung-Hoa và Pháp."</span></font></p></div>
<div id="ftn12" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoNormal"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref12" name="_ftn12"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[12]</span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt"> Nguyễn Trúc Giang. Quốc Hội CSVN và Những Hiệp Ðịnh Ký Trong Bóng Tối (LÊN&nbsp;MẠNG MARDI 23 AVRIL 2002) </span></font></p></div>
<div id="ftn13" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoNormal"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref13" name="_ftn13"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[13]</span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt"> Thỏa-ước "United Nations Convention on the Law of Sea", viết tắt là UNCLOS hay LOS Convention, công-bố ngày 10-12-1982 tại Montego Bay</span><span style="FONT-SIZE: 11pt">, </span><span style="FONT-SIZE: 11pt">Jamaica. Kể từ ngày 16-11-1994, Thỏa-ước (hay Công-ước) UNCLOS trở thành luật và được mang ra thi-hành.</span></font></p></div>
<div id="ftn14" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoNormal"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref14" name="_ftn14"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[14]</span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt"> In accordance with the internationally accepted 1958 Geneva Convention on the Territorial Sea and</span></font></p>
<p class="MsoNormal"><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt">the Contiguous Zone, the principle of equidistant points or median lines was used to determine</span></font></p>
<p class="MsoNormal"><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt">the position of the maritime boundary between the two countries.</span></font></p></div>
<div id="ftn15" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoFootnoteText"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref15" name="_ftn15"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[15]</span></span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt"> <a style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.unclos.com/">http://www.unclos.com/</a></span></font></p></div>
<div id="ftn16" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoNormal"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref16" name="_ftn16"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[16]</span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt"> Tất cả các Hải-đồ từ xưa đến nay đều vẽ theo nguyên-tắc này, bờ biển, bờ đảo có hình-thể và vị-trí khi nước thủy-triều xuống thấp. </span></font></p></div>
<div id="ftn17" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoNormal"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref17" name="_ftn17"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[17]</span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt"> Figure 1. Establishing the territorial belt by the parallel trace method. The boundary line is traced parallel to the coast at a constant distance (a=3 to 12 miles) </span></font></p></div>
<div id="ftn18" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoNormal"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref18" name="_ftn18"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[18]</span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt"> Figure 2. Establishing the territorial belt by the arc tangent method.Arcs are traced with a fixed radius with a fixed radius from many points along the coastline, the radius being 3 to 12 miles as required. The tangent along these arcs is the boundary line of the territorial belt</span></font></p></div>
<div id="ftn19" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoNormal"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref19" name="_ftn19"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[19]</span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt"> Figure 3. Determining the median boundary line between two countries.Every point on the line is equidistant from the coast of each country. The method by which the territorial belt is shared between the two is obvious.</span></font></p></div>
<div id="ftn20" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoNormal"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref20" name="_ftn20"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[20]</span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt"> Figure 4. Dererming the median boundary line between two countries (mainland or island) when the coast of one lies opposite the coast of the other. The method by which the territorial belt is shared between the two is obvious when the distance between the two coasts is less than the width of the territorial belt (a=3 to 12 miles) .The median boundary line is always the same and does not depend on the width of the territorial belt.</span></font></p></div>
<div id="ftn21" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoFootnoteText"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref21" name="_ftn21"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[21]</span></span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt"> Ngay đến dụng-cụ định-vị nhỏ bé trên xe hơi cũng cho chúng ta biết khi đi sai lane để đổi lane sao cho đúng lộ-trình.</span></font></p></div>
<div id="ftn22" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref22" name="_ftn22"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[22]</span></span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt"> Bây giờ là thế-kỷ 21, ai ai cũng có thể tìm ra các Tọa-độ này một cách chính-xác. Dễ-dàng nhất là vào ngay http://multimap.com.</span></font></p></div>
<div id="ftn23" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoFootnoteText"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref23" name="_ftn23"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[23]</span></span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt"> Theo BĐNNG, Điểm 21 có tọa-độ&nbsp; 17:47.00N, 107:58.00E </span></font></p></div>
<div id="ftn24" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoFootnoteText"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref24" name="_ftn24"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[24]</span></span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt"> Xin mời xem chi-tiết các án-lệ được LHQ chính-thức công-bố, keywords: UNCLOS, Malta Case&#133; </span></font></p>
<p class="MsoFootnoteText"><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Trong bài viết vào tháng 1, 2002 &#8220;Khi Ký Các Hiệp Ước Nhượng Ðất Bán Nước Cho Ngoại Bang Ðảng Cộng Sản Ðã Vi Phạm Nhân Quyền và Vi Phạm Luật Quốc Tế&#8221; L.S. Nguyễn Hữu Thống &nbsp;cho rằng: "Từ thập niên 1960, Tòa Án Quốc Tế đã căn cứ vào những yếu tố và tiêu chuẩn trên đây để phân ranh hải phận và thềm lục địa tại các quốc gia duyên hải. Thông thường Tòa Án không đồng hóa hải đảo (Hải Nam) với lục địa (Bắc Việt)".</span></font></p></div>
<div id="ftn25" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoFootnoteText" style="TEXT-ALIGN: justify"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref25" name="_ftn25"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[25]</span></span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black"> Đây cũng là ước-lượng chính-thức của chính-quyền Bắc-Kinh (Source: Xinhua via Newspage)</span></font></p></div>
<div id="ftn26" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoNormal"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref26" name="_ftn26"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[26]</span></span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt"> </span><b><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black">Hainan</span><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black"> Looks to South China Sea Resources </span></b><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black">(People's Daily 09/28/2000)</span></font></p>
<p class="MsoNormal"><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt">http://www.china.org.cn/e-15/15-3-b/15-3-b-62.htm </span></font></p></div>
<div id="ftn27" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoFootnoteText"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single" href="http://www.vuhuusan.net/bandophanchia.htm#_ftnref27" name="_ftn27"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[27]</span></span></span></a><font face="Times New Roman"><span style="FONT-SIZE: 11pt"> Hà-Nội từng công-bố Việt-Nam có tới 1 triệu km2 hải-phận kinh-tế, nhưng trên thực-tế theo với những điều-kiện hiện nay, Việt-Nam có lẽ chỉ kiểm-soát đươc khoảng 600,000 km2 mặt biển mà thôi</span></font><br clear="all" />&nbsp;</font></p></div></div></span></font></form>]]>
    </content>
</entry>

<entry>
    <title>Bản-đồ Biên-Giới Phía Bắc</title>
    <link rel="alternate" type="text/html" href="http://www.dcvblogs.com/vuhuusan/2007/12/bnd-biengii-phia-bc.html" />
    <id>tag:www.dcvblogs.com,2007:/vuhuusan//28.481</id>

    <published>2007-12-09T14:57:22Z</published>
    <updated>2007-12-09T14:57:43Z</updated>

    <summary></summary>
    <author>
        <name>dcvblogs</name>
        
    </author>
    
    
    <content type="html" xml:lang="en-us" xml:base="http://www.dcvblogs.com/vuhuusan/">
        
        
    </content>
</entry>

<entry>
    <title>Chủ-quyền Việt-Nam trên Biển Đông &amp; Họa-đồ Hải-phận</title>
    <link rel="alternate" type="text/html" href="http://www.dcvblogs.com/vuhuusan/2007/12/chquyn-vitnam-tren-bin-dong-ha.html" />
    <id>tag:www.dcvblogs.com,2007:/vuhuusan//28.476</id>

    <published>2007-12-09T08:57:20Z</published>
    <updated>2007-12-09T09:00:57Z</updated>

    <summary><![CDATA[Tài-liệu sau năm 1974 - Chủ-quyền Việt-Nam trên Biển Đông &amp; Họa-đồ Hải-phận Vũ-Hữu-San &nbsp; Dù Hoàng-Sa hay một số đảo Trường-Sa bị chiếm-đóng bằng võ-lực, Chủ-quyền và Pháp-lý vẫn thuộc về ta Ngày 19 tháng 1 năm 1974, Hải-Quân...]]></summary>
    <author>
        <name>dcvblogs</name>
        
    </author>
    
        <category term="Hải Giới Việt Hoa" scheme="http://www.sixapart.com/ns/types#category" />
    
        <category term="Tài Liệu" scheme="http://www.sixapart.com/ns/types#category" />
    
    
    <content type="html" xml:lang="en-us" xml:base="http://www.dcvblogs.com/vuhuusan/">
        <![CDATA[<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 14pt; COLOR: blue">Tài-liệu sau năm 1974 -</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 18pt; COLOR: red">Chủ-quyền Việt-Nam trên Biển Đông &amp; Họa-đồ Hải-phận </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-ALIGN: right" align="right"><i><span style="COLOR: blue">Vũ-Hữu-San</span></i></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt">&nbsp;</p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Dù Hoàng-Sa hay một số đảo Trường-Sa bị chiếm-đóng bằng võ-lực, Chủ-quyền và Pháp-lý vẫn thuộc về ta</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Ngày 19 tháng 1 năm 1974, Hải-Quân Việt-Nam Cộng-Hoà đã anh-dũng chiến-đấu bảo-vệ quần-đảo Hoàng-Sa. Với lực-lượng hùng-hậu và quân-số đông-đảo hơn gấp bội quân ta, bọn xâm-lăng Trung-Cộng chiếm-đóng Hoàng-Sa kể từ ngày đó.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Tuy vậy, những hành-động võ-lực tương-tự chưa bao giờ được Công-pháp Quốc-tế cũng như lương-tâm nhân-loại chấp-nhận. Đảo chỉ tạm thời lọt vào tay kẻ xâm-lăng. Trong khi người Việt chúng ta và cả thế-giới luật-gia vẫn quyết-tâm tiếp-tục tranh-đấu cho lẽ phải, chủ-quyền của Việt-Nam trên hai quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa vẫn không thể bị mất! </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Trong bài viết ngắn gọn này, chúng tôi xin điểm qua những tài-liệu liên-hệ đến Pháp-lý về "Chủ-quyền Việt-Nam trên các quần-đảo Hoàng-Sa Trường-Sa" sau năm 1974.</span></p>]]>
        <![CDATA[<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Bạch-Thư Việt-Nam Cộng-Hòa, 1975</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Ngay sau khi các chiến-sĩ Hoàng-Sa của ta lăn mình hy-sinh trong khói lửa để bảo-vệ Hoàng-Sa, nhiều nhà trí-thức Việt-Nam đã hợp-biên một tài-liệu minh-chứng chủ-quyền nước ta. Sau đó cuốn "Bạch-Thư về Hoàng-Sa và Trường-Sa" đã ra đời tại Sài-Gòn. Bộ Ngoại-Giao phổ-biến khắp thế-giới dưới nhan-đề Anh-ngữ là "White Paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands" - cơ-sở xuất-bản: Republic of Vietnam, Ministry of Foreign Affairs, Saigon, 1975). Bạch-thư này tuy chỉ là một tập tài-liệu ngắn gọn 105 trang, nhưng thực-sự là một tài-liệu căn-bản khá đầy-đủ và hơn nữa, trình-bày rất rõ-ràng các yếu-tố pháp-lý, lịch-sử về chủ-quyền Việt-Nam trên hai quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Chúng ta tiếc rằng "Bạch-Thư về Hoàng-Sa và Trường-Sa" đã sinh ra đời dưới một ngôi sao xấu. Ảnh-hưởng cuốn sách không được mạnh mẽ như các Tác-giả của nó từng hy-vọng khi cùng nhau đóng góp phần tim, óc. Cũng không may cho Việt-Nam lúc đó, ảo-giác của màn khói mù tuyên-truyền ngụy-tạo chủ-quyền Trung-Cộng đang lúc phát-triển tối-đa, đủ hiệu-năng che lấp hoàn-toàn sự thật. Dồn dập tiếp theo những hành-động ám muội của kẻ thù, chút ánh-sáng công-lý đang le lói lại gặp phải cơn cuồng-phong dứt điểm: Miền Nam bị Hà-Nội cưỡng-chiếm vào tháng 4 năm 1975. Mất hẳn nội-lực, cuốn sách bị lắng chìm và đi dần vào quên-lãng.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Hiểu được giá-trị của cuốn Bạch-thư Việt-Nam Cộng-Hòa, chúng tôi đang nỗ-lực cho tái-bản để làm sống lại tinh-thần cuốn sách. Người Việt-Nam khắp nơi hãy giúp sức phổ-biến nó như một tài-liệu tra-cứu căn-bản. Tại Hải-Ngoại, bản Anh-ngữ "White Paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands" không những sẽ trợ-giúp phần tài-liệu pháp-lý cho những nhà Nghiên-cứu thông-hiểu Anh-Ngữ, nó cũng cần-thiết để thế-hệ trẻ hiểu-biết chính-nghĩa của Việt-Nam và tiếp nối con đường tranh-đấu dang dở của chúng ta. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Tập san Sử Địa 29: "Đặc Khảo Về Hoàng Sa và Trường Sa"</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Cùng một niềm đau trong khi chính-quyền ra mắt cuốn Bạch-Thư, ngoài nhóm của Bộ Ngoại-Giao kể trên, những nhà trí-thức Việt-Nam khác cũng thực-hiện được những công-trình nghiên-cứu nghiêm-túc rất đáng khâm-phục. Tập san Sử Địa 29: "Đặc Khảo Về Hoàng Sa và Trường Sa" của Nhà Xuất-bản Khai-Trí ra đời tại Sài Gòn. Tập san Sử Địa 29 (Số tháng 1 đến tháng 3-1975) bao gồm nhiều bài nghiên-cứu giá-trị của các học-giả trong và ngoài nước. Những chuyên-gia các ngành Văn-học, Sử, Địa, Địa-Chất, Luật-pháp... như Hoàng-Xuân-Hãn, Lãng-Hồ, Thái-Văn-Kiểm, Lam-Giang, Hãn-Nguyên, Võ-Long-Tê, Sơn-Hồng-Đức, Quốc-Tuấn, Trần-Đăng-Đại, Nguyễn-Huy, Trịnh-Tuấn-Anh, Trần-Hữu-Châu, Trần-Thế-Đức... hội-tụ lại để đóng góp cho cuốn đặc-khảo này. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Nội-dung các bài viết rất phong-phú, lý-luận vững chắc. Tùy theo từng chủ-đề, các bài viết giới-thiệu về lịch-sử, địa-lý, địa-chất, sinh-vật trên Hoàng-Sa với đầy đủ các nguồn tài-liệu Đông Tây. Tất cả cuốn sách như đanh thép, minh-chứng chủ-quyền của Việt Nam và quần-đảo Hoàng Sa và Trường Sa suốt dòng lịch-sử.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Một Học-giả uyên-thâm, Ông Thái Văn Kiểm đã nhận-xét một cách quả-quyết như sau: </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">"... Như vậy là chúng ta hội đủ những bằng-chứng cụ-thể tỏ rõ rằng các quần-đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của mình (animus) và mình đang khai thác (corpus) các hải-sản, hải-sâm, phân chim, ốc, xà cừ, phốt phát, đồi mồi, cát trắng, cát vàng,v.v... chứ không phải là hoang đảo (res derelicta) mặc cho ai muốn chiếm thì chiếm.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Trải mấy ngàn năm lịch sử, tổ tiên chúng ta tranh giành từng tấc đất ngọn rau trong cuộc bành trướng lãnh thổ khắp ba mặt: Nam tiến, Tây tiến và Đông tiến, lấy Trường Sơn, sông Cửu Long và Nam-Hải làm địa bàn sinh hoạt, như muốn thi gan đấu sức với núi cao bể cả, nói lên chí quật cường của một dân tộc chưa bao giờ chịu lùi bước trước nguy nan. Ngày nay, đương đầu với những thử thách lớn lao, chúng ta chỉ có một con đường là trường kỳ chiến đấu trên mọi mặt: quân sự, chính trị, ngoại-giao, để bảo-vệ chủ-quyền và sự vẹn-toàn lãnh-thổ, lãnh-hải quốc-gia Việt-Nam..." (Trích: Tập san Sử Địa 29: "Đặc-Khảo Về Hoàng Sa và Trường Sa", số tháng 1 đến tháng 3-1975, Sài Gòn).</span></p><span style="FONT-SIZE: 11pt">
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Hoả Mù trên Đấu-trường Tuyên-truyền</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">30 năm trôi qua, vấn đề chủ-quyền của "Hoàng-Sa và Trường-Sa thuộc về ai" vẫn tiếp-tục được tranh cãi. Các cơ-quan tuyên-truyền Trung-Cộng hoạt-động rất mạnh mẽ. Tài-liệu Trung-Cộng thật nhiều, được viết dưới mọi hình-thức như thơ, văn, hoạ, kịch... Tác giả là những người Trung-Hoa lục-địa, có cả một số nhỏ người Đài-Loan, gồm người trong quốc-nội lẫn người ở ngoại-quốc. Họ xuất-bản sách lớn, sách nhỏ viết bằng nhiều ngoại-ngữ.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Ảnh-hưởng những tác-phẩm này rất lớn, không những nhờ ở số lượng lớn lao mà lại còn được viết bởi những cây viết tài-ba và nhiều tay khoa-bảng. Đặc-biệt những bài viết đăng trên báo các trường luật danh-tiếng như Harvard, Yale, Princeton, Stanford... đã có tác hại kinh-khủng. Đằng sau những giáo-sư luật-khoa gốc Trung-Hoa, nhiều thế-hệ luật-gia học-trò của họ có nhiều người Tàu và cả một số người "bản-xứ" Mỹ, Anh, Pháp... cũng đua nhau theo đường "sư-phụ" tiếp-tục tung ra thêm các bài viết và sách vở làm bức màn hoả-mù che lấp hoàn-toàn sự thật.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Trong hai thập-niên 70, 80; Trung-Cộng luôn luôn nắm được thế áp-đảo trong các cuộc tranh cãi. Là đàn em, Việt-Cộng giỏi nghề bắt chước, học hỏi được chiến-thuật "biển người" của đàn anh Trung-Cộng. Nhờ đó, chúng lần lượt đoạt xong Miền Bắc Việt-Nam năm 1954, rồi đổ người vào cưỡng chiếm Miền Nam năm 1975. Tuy vậy, Việt-Cộng xem ra kém cỏi, không đủ khả-năng bắt chước Trung-Cộng trong chiến-thuật tuyên-truyền "biển sách" nơi hải-ngoại. Tiếng nói của Chính-quyền Hà-Nội về chủ-quyền Việt-Nam trên hai quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa khi đó rất yếu kém, không có chút tiếng vang nào trên trường quốc-tế. Khi nói đến Hoàng-Sa Trường-Sa, một người Âu Mỹ bình-thường nghĩ rằng chính Trung-Cộng, chứ không phải Việt-Nam, có chủ-quyền trên toàn-thể "Biển Hoa-Nam". </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Hỏa-mù Quân-Sự gây rối loạn, bất ổn</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Trung-Cộng đã áp-dụng nhiều hình-thức và chiến-thuật hỏa-mù khác nhau. Theo Luật-sư Nguyễn-Hữu-Thống, người Tàu đã gây rối loạn, bất ổn, tranh chấp lung tung khắp vùng. Quân-đội Trung-Cộng, tuần-tiễu, phóng hỏa-tiễn, thao-dượt quân-sự, lấn chiếm bừa bãi các nơi, càng gần bờ biển các nước Đông-Nam-Á càng có tiếng vang. Mục đích của họ là làm cản trở giao thông trên mặt biển, gây áp lực quốc tế buộc các quốc-gia liên-hệ hãy tạm gác vấn đề chủ-quyền lại để cùng khai thác thềm lục- địa theo kiểu Đại Hàn, Nhật Bản.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Trên mặt trận tuyên-truyền, thanh-thế người Tàu có mãnh-lực như đã nói ở trên. Còn ngoài chiến-trường, sau khi xâm-lược Hoàng-Sa, Trung-Cộng đã chiếm thêm hàng chục hải-đảo thuộc Trường-Sa vào năm 1989. Hải-Quân của họ cũng đánh chìm 3 chiến-hạm Việt-Cộng, 75 thủy-thủ bị chết và mất tích. Đứng đằng sau vùng hoả mù tuyên-truyền, Trung-Cộng có nhiều lợi-thế, càng thêm lấn lướt, cố thực-hiện mộng xâm-lăng toàn cõi Biển Đông.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Coi thường dư-luận quốc-tế, người Tàu khai-thác dầu khí tại khu-vực Hoàng-Sa ngay từ thập-niên 1970. Bất-chấp lẽ phải, mấy năm vừa qua, họ mang dàn khoan dầu vào thám-sát cả trong hải-phận Việt-Nam, chỉ cách Thái-Bình có 38 hải-lý (hl). Trong các hãng ngoại-quốc làm ăn với họ, một số công-ty dầu khí Hoa-Kỳ đã ký kết hợp-đồng và mang dụng-cụ nhân-viên đến Biển Đông. Dưới sự bảo-vệ của Hải-quân Trung-Cộng, các tàu ngoại-quốc đến thăm dò hay khai-thác dầu khí trong hải-phận Việt-Nam. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Tinh-thần người Việt Quốc-gia</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Đang khi Việt-Cộng thất-bại trong việc tuyên-truyền, người Việt-Nam quốc-gia vẫn không nản lòng, cương-quyết tranh đấu, tin-tưởng rồi ra tiếng nói của chính-nghiã sẽ thắng cường-quyền. Bạch-thư của Việt-Nam Cộng-Hoà công bố năm 1974 đã nêu ra đầy đủ những lý-lẽ về chủ-quyền dân ta trên hai quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa. Những lý lẽ này được người hải-ngoại chúng ta làm sáng tỏ hơn nữa trong các tài-liệu pháp-lý đã nhiều lần công-bố mà chúng tôi chỉ xin lược-kê một số tiêu-biểu sau đây:</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">(1) Thạc-sĩ Trần-Minh-Tiết phát-hành sách "L'agression Sino-Communiste des iles Paracel Viêtnamiennes (La Guerre pour la Paix)," in tại Paris, tháng 5/ 1975. Tác-phẩm này luận-bàn về công-pháp quốc-tế, trình-bày nhiều lý-lẽ vững-chắc xác-định chủ-quyền Việt-Nam trên Hoàng-Sa và Trường-Sa.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Vị luật-gia tăm tiếng này lên án gắt gao Trung-Hoa Cộng-Sản đã bất-chấp luật lệ, xâm-lăng Hoàng-Sa của Việt-Nam năm 1974.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">(2) Ủy-Ban Bảo-Vệ sự Vẹn-toàn Lãnh-thổ Việt-Nam do Tiến-sĩ Nguyễn Văn Canh đại-diện phổ-biến</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">"Tuyên-cáo của Trí-thức Việt-Nam tại Hoa-Kỳ về chủ-quyền Việt-Nam trên các vùng quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa" ngày 22 tháng 7 năm 1994. Dưới sự bảo-trợ của Ủy-Ban này, sách "Địa-lý Biển Đông với Hoàng-Sa và Trường-Sa" của một cựu quân-nhân HQVNCH, ông Vũ-Hữu-San đã được ấn-hành. Có 2,500 cuốn sách, in thành hai ấn-bản năm 1995 và 1996, do œy-Ban mang đi phổ-biến rộng rãi cả Mỹ-Châu, Âu-Châu lẫn Úc-Châu. Ngoài những lý-lẽ căn-bản về pháp-lý, các bản tuyên-cáo, tài-liệu và sách vở của tổ-chức này cũng nối-kết các dữ-kiện địa-lý, lịch-sử, hải-dương, địa-chất, sinh-vật, thảo-mộc, văn-minh... giữa các Hải-đảo với đất liền của Việt-Nam để chứng-minh Hoàng-Sa và Trường-Sa là phần lãnh-thổ của Việt-Nam.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">(3) Các giáo-sư Nguyễn Dư-Phủ và Hà Mai-Phương phổ-biến bài khảo-cứu "Biển Đông hay Nam-Hải có phải là của riêng Trung-Hoa như họ thường nhận ?" năm 1995. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Đây là phần "Lời Bạt" trong sách "Địa-lý Biển Đông với Hoàng-Sa và Trường-Sa" của Vũ-Hữu-San, sau đó toàn bài được đăng lại trên một số tạp-chí như báo Ngày Nay, Houston, Texas ngày 1/5/1995. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Như tên gọi cho thấy sách "Địa-lý Biển Đông ..." chủ ý bàn về các yếu-tố địa-lý, thế nên Lời Bạt đã mang ý-nghiã sâu xa hơn nội-dung cuốn sách, ít nhất là trong việc trình-bày các lý-lẽ về chủ-quyền lãnh-thổ. Hai giáo-sư họ Nguyễn và họ Hà dùng ngay các tài-liệu căn-bản nhất của từ-điển Trung-Hoa như Từ-Hải, Từ-Nguyên, Từ-Nguyên cải biên, Tối-tân thực-dụng Hán-Anh Từ-điển ... để tìm ra một trả lời dứt khoát cho câu hỏi mà nhan-đề nêu ra. Đó là Biển Đông hay Nam-Hải không phải là của riêng Trung-Hoa. Rõ ràng hơn, bài khảo-cứu xác-quyết rằng: giới-hạn Nam-Hải của Trung-Quốc xưa chỉ đến ngang đảo Hải-Nam là cùng.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">(4) Luật-Sư Nguyễn-Hữu-Thống, căn-cứ trên Luật Biển Liên-Hiệp-Quốc (LB/LHQ), đã khuyến-cáo khối ASEAN vào năm 1995 nên đưa vụ Hoàng-Sa Trường-Sa ra Toà-Án Quốc-tế. Nhân-danh chủ-tịch Hội "Luật-gia Việt-Nam tại California" Luật-sư Thống cũng chính-thức gửi thư cho các vị Nguyên-thủ Quốc-gia vùng Đông-Nam-Á đề-nghị đổi tên biển Nam-Hoa thành biển Đông-Nam-Á.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Trong hồ-sơ pháp-lý Hoàng-Sa Trường-Sa lưu-trữ ở Hội Luật-gia, chúng tôi được biết các Luật-sư Việt-Nam đã ghi chép rằng: Cho đến nay, các bản tường-trình về Hoàng-Sa Trường-Sa đều không tham-chiếu vào Công-Ước LB/LHQ (LOS Convention). Các học-giả Trung-Hoa và Đài-Loan nêu ra thuyết "biển Nam-Hải là biển lịch-sử của Trung-Hoa" vì họ không am-tường pháp-luật.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Luật-Sư Nguyễn-Hữu-Thống tuyên-bố tại California năm 1997 rằng theo đúng LOS Convention của LHQ, các đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa thuộc chủ-quyền Việt-Nam vì 4 lý-do chính-yếu sau đây:</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">- Các đảo này toạ-lạc trên thềm lục-địa Việt-Nam (rộng 200 hải-lý, tiếp nối đường lãnh-hải 12 hải-lý, chạy ra biển). </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">- Chủ-quyền tuyệt-đối của quốc-gia duyên-hải đối với thềm lục-địa, mặc dù có sự chiếm đóng của quân-lực ngoại-bang (như việc Trung-Hoa chiếm đóng Hoàng-Sa, Trường-Sa).</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">- Các khu dầu khí tại đáy biển Việt-Nam là do các thủy-tra- thạch tích-luỹ từ cả triệu năm nay do sông Hồng-Hà và sông Cửu-Long đổ ra biển.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">- Địa-hình đáy biển Việt-Nam tại vùng Hoàng-Sa Trường-Sa là sự tiếp nối tự-nhiên của thềm lục-địa từ đất liền chạy xa ra ngoài biển. Có thể nói các đảo Hoàng-Sa Trường-Sa là những cao-nguyên của thềm lục-địa Việt-Nam trên mặt biển.</span></p><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Gậy Ông khổng-lồ tự đập lưng Ông khổng lồ</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Những nhà quan-sát thời-cuộc trong hai, ba thập-niên trước đây đồng-ý một câu trả lời mà họ cho là hiển-nhiên: "tại sao lý-luận của người Trung-Hoa lại ào ạt và mạnh mẽ như vậy?" Đó là vì: "Trung-Hoa không những là một nước lớn, người nhiều mà học-giả của họ ở hải-ngoại lại đông-đảo, số lượng bài khảo-cứu về chủ-quyền nhiều vô-cùng". </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Hình-ảnh về chủ-quyền Trung-Hoa đã được người Tàu liên-tục vẽ vời với cùng một kiểu cách mờ ảo như nhau. Những hình ảnh đó vô-cùng to lớn trong không-gian và cũng được những "học-giả" của họ kéo dài một cách nhạt nhoà ra cả thời-gian. Hầu như tại bất cứ quốc-gia nào, với bất cứ ngôn-ngữ nào; người ta cũng thấy bài viết của họ nêu ra bóng dáng những tướng-lãnh, những nhà hải-hành lấp-loáng ngoài Biển-Đông đi xâm-chiếm, đi thám-hiểm ngay từ đời nhà Hán trước cả Công-nguyên.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Tuy vậy, vải thưa làm sao che được mắt thánh, màn tre sơn phết làm sao che được bức trường-thành. Vì nội-dung không có thực, tất cả những nét vẽ mờ ảo ké dài nhạt nhoà đó đã dần dần tan như mây khói. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Rồi đến một ngày, người Việt-Nam cũng xuất-ngoại đông-đảo, cũng khảo-cứu như người Trung-Hoa lúc trước đây. Trong các trường đại-học Âu, Mỹ, Á, Úc; khi người Việt cùng nhau đọc những đoạn Sử, Địa hay tài-liệu mà chính Trung-Hoa đem ra dẫn-chứng, người ta đã tìm thấy ngay sự thực để phản-công vũ-bão. Những sự thực "chết người" này làm cho Ông Tàu khổng-lồ bị tẩu-hỏa nhập-ma vì trúng ngay đòn Gậy Ông Đập Lưng Ông. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Chứng-tích Trung-Hoa-Học, một đòn hồi-mã-thương?</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Dựa vào môn Trung-Hoa-Học của Âu-Mỹ, nhiều học-giả Trung-Cộng bù-lu bù-loa rằng mấy ngàn năm trước, người Tàu đã hải-hành ra khơi, khám-phá hết các hải-đảo ngoài Biển Đông. Theo kiểu "Binh Bất Yếm Trá", cách tuyên-truyền này là một đòn Hồi Mã Thương hiểm-độc chăng? </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Nhìn tổng-quát, Trung-Hoa có một nền văn-hóa cổ, nhiều khám-phá khoa-học và kỹ-thuật đã do người Tàu thực-hiện. Tuy vậy về khả-năng hải-hành, người Trung-Hoa rất lạc-hậu. Học-giả hàng đầu về môn Trung-Hoa-Học và cũng là tác-giả pho sách Trung-Hoa-Học đồ-sộ nhất kim-cổ "Science and Civilisation in China" (xuất-bản tại Cambridge, 1971) xác-nhận rõ~ràng như vậy. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Một cuốn sách khác "Eighth Voyage of the Dragon - History of China's Quest for Sea Power" của Bruce Swanson (Hải-quân Học-hiệu Hoa-Kỳ Annapolis ấn-hành năm 1982) mở đề như sau: "Lịch-sử Trung-Hoa hàng ngàn năm biểu-thị đặc-tính đối-kháng với tính-chất biển cả. Suốt hai ngàn năm sau đó, hai triều-đại nhà Hán (220 TTL.- 221) và nhà Đường (618- 907) đã biến-đổi Trung-Hoa thành một đế-quốc tráng-lệ, có căn-bản văn-hoá lục-địa (landbased cultural empire)". </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Người biết tiếng Pháp, Anh, Đức, Tây-Ban-Nha; có thể đọc các cuốn sách hay bài viết của Wang Gungwu, Pelliot, Duyvendak, Grasso... để tìm hiểu về các chuyến viễn-dương của tiền-nhân Việt-tộc không những ra khắp Biển Đông mà còn vượt hai đại-dương là Thái-Bình và Ấn-Độ. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Có những nhà Trung-Hoa-Học như James Fairgrieve, đã viết trong sách "Geography and World Power" (London, 1921, p.242) rằng "người Tàu là giống dân lục-địa với các thói quen và cách suy-nghĩ của người sống trên đất liền suốt 40 thế-kỷ. " Một học-giả khác, E. B. Elridge viết trong sách "The Background of Eastern Sea Power" (Melbourne, 1948, p.47) rằng "tâm-trí người Trung-Hoa chỉ hướng về nội-địa và kiến-thức của họ về biển cả thật là ít ỏi". </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Như vậy chỉ một thời-gian ngắn, ánh-sáng kiến-thức Trung-Hoa-Học có thực-chất đã xoá tan mây mù tuyên-truyền Trung-Hoa-Học giả-tạo. Đòn Hồi Mã Thương, vì không biết sử-dụng, quay lại đả-thương chính chàng kỵ mã ! </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Cổ-sử Trung-Hoa nói lên sự thực</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Người Tàu nói căn-cứ ở Hán-Sử, họ mồm loa mép giải tuyên-bố Lộ-Bác-Đức và Dương-Bộc nhà Tiền-Hán (206 trước Tây-lịch - 8 sau Tây-lịch) khám-phá Hoàng-Sa, rồi Mã-Viện nhà Hậu-Hán (25 - 219) lại đem quân đến kiểm-soát Hoàng-Sa.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Sử-ký là môn học tiến-bộ tại Trung-Hoa. Xứ này có sử rất sớm. Ngay tiền-thời Khổng-Tử (551-479 trước Tây-lịch), người Tàu đã viết sử. Ngày nay vì tranh-chấp hải-đảo Trung-Cộng lại vội vàng, đã dại dột mang các bộ Sử-ký chính-xác đó ra làm chứng.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Đọc các sử-cương Trung-Quốc, người ta biết rằng tướng Lộ-Bác-Đức xâm-lăng Nam-Việt, rồi Mã-Viện tái-chiếm Giao-Chỉ sau khi đánh bại Hai Bà Trưng. Xem kỹ các sách Hán-Sử, ai cũng đọc được thật rõ ràng rằng Lộ-Bác-Đức chưa bao giờ tiến quân ra Biển Đông. Tiền-Hán-Thư còn viết là họ Lộ chưa bao giờ ra khỏi Quảng-Châu. Ngay cả đảo Hải-Nam là chỗ cận kề, tướng này cũng chưa hề đặt chân đến, nói chi là đất Giao-Chỉ. Truy-cứu thêm Hán-thư, người ta cố công tìm-kiếm nhưng không thể thấy chi-tiết nào liên-hệ đến đoàn (Nam-phương) lâu-thuyền của Dương-Bộc vượt qua eo biển nhỏ bé Chu-Nhai. </span><span style="FONT-SIZE: 11pt">(Shore of Pearls, Edward H. Schafer, University of California Press, Berkeley and London, 1970. Trang 12).</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Chuyện Mã-Viện cũng tương-tự. Hậu-Hán-Thư ghi chính-xác đường tiến-quân của đoàn viễn-chinh. Mã-Viện mang chức Phục-ba Tướng-quân như Lộ-Bác-Đức, phụ-tá của Viện mang chức Lâu-thuyền Tướng-quân như Dương-Bộc. Tuy hai vị Đại-Đô-Đốc và Đô-Đốc này có một số lâu-thuyền nhưng quân nhà Đông-Hán gồm hơn mười ngàn lính mộ ở Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô; mười hai ngàn người nữa lấy ở các quận thuộc Giao-Chỉ Bộ, cứ phải dùng đường bộ. Đại-quân đi bộ suốt từ Hồ-Nam xuống các tỉnh Quảng-Đông, rồi Quảng-Tây, lại tiếp-tục đi bộ men theo bờ biển, phá rừng để tiến quân sang Quảng-Yên, rồi Lãng-Bạc. Sau đó, Mã-Viện có đuổi theo tướng Đô-Dương của Hai Bà tới vùng Thanh-Hóa Nghệ-An nhưng rồi lại vội vã quay về. Không có bất cứ một chi-tiết nhỏ bé nào liên-hệ tới hải-đảo, dù lớn hay nhỏ, xa hay gần bờ biển Miền Trung Việt-nam đã được Hán-Sử đề-cập cho đến một lần. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Trung-Hoa bắc loa kêu ầm lên rằng Ham-đội nhà Minh chiếm đóng Hoàng-Sa. Chúng ta bình-tĩnh trưng-dẫn Minh-Sử, thách-thức người Tàu chỉ vào chương nào, trang nào, dòng nào ghi sự kiện đó. Không những Minh-Sử không ghi chép mà cả những bản tường-trình chi-tiết hơn về hành-động đi xâm-lược của Trịnh-Hoà cũng kể sơ sài là đoàn tàu đi ngang qua hải-đảo này, hải-đảo nọ. Một vài chuyến hải-hành "thông-quá vô-tư" ngoài biển như vậy không tạo được một điểm pháp-lý nào cho Trung-Cộng<a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none; text-underline: none; text-line-through: none" href="http://www.vuhuusan.net/tailieuphaply.htm#_ftn1" name="_ftnref1"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[1]</span></span></a>. Dựa vào lý lẽ gì họ có quyền chiếm hết các cù-lao hay quần-đảo dọc theo hải-trình qua Ấn-Độ-Dương cho đến tận Mã-đảo, Phi-châu hay sao ?!</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Ngày nay Hải-Quân Hoa-kỳ hải-hành khắp Ngũ Đại-Dương, thăm viếng trăm ngàn hải-đảo. Với những dụng-cụ chính xác, bản-đồ và tài-liệu chi-tiết hơn nhiều, họ cũng không vì vây mà có quyền nhận vơ hải-phận hay đảo-dư của bất cứ quốc-gia nào. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Cổ-sử Trung-Hoa ghi những Sinh-hoạt cổ nhất trên Biển Đông</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Người Trung-Hoa rất xứng-đáng hãnh-diện về nền Sử-học tiền-tiến của nước họ. Muốn tìm hiểu quá-khứ xa xưa của vùng đất Đông-Á , người ta phải đọc các pho sử của người Tàu viết ra. Đặc-biệt khi cần biết về những sinh-hoạt của con người trên vùng duyên-hải và ngoài Biển Đông, việc khảo-cứu cũng không ngoại-lệ. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Tuy nhiên, trong khi người Tàu rất muốn kể chuyện biển (sea stories) của họ ngày xưa, nhưng rất ngại ngùng không giám đả động đến những chi-tiết ghi rõ ràng trong các cuốn sử-ký của họ một số sử-liệu như sau:</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Trong giai-đoạn đầu mới lập-quốc qua các đời Đường Ngu, Hạ; lãnh-thổ Trung-Hoa nằm sát sông Hoàng-hà, trên cao-nguyên, còn rất nhỏ hẹp. Cho đến đời nhà Thương, nước Tàu đã mở lớn hơn nhưng cũng chỉ vào khoảng tối-đa mỗi chiều 400km x 300km, tức vài ba trăm dặm mỗi-chiều (Chine Esprit et Société, Speiser) và rất xa biển cả. Trong lúc đó, người Bách-Việt tuy chưa tạo được hình-thức quốc-gia chặt chẽ nhưng có lẽ đông đảo hơn người Tàu rất nhiều. Đất đai họ chiếm ngự bọc quanh bờ Biển Đông nhất-định bao la rộng lớn, ít nhất cũng lớn gấp hàng chục lần so với nước Tàu nguyên-thủy nằm sâu trong nội-địa.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Trước thời Xuân-Thu đã có người viết Sử. Sau đó, một nhân-tài lớn ra đời là Khổng-Tử (551-479 trước Tây-lịch). Ông đã san-định các Kinh Thi, Thư, Lễ, Dịch cùng biên-soạn kinh Xuân-Thu. Trong khi không nói gì tới các hoạt-động sông nước của người Tàu thì Khổng-Tử lại đề-cập tới các sắc dân miền Nam sinh-sống ngoài hải-đảo và trên thuyền bè. Sau thời đó, số sách sử còn nhiều hơn. Ngày nay, đọc các cuốn sách Hoài-Nam-Tử của Lưu-An, Sử-ký của Tư-Mã-Thiên, Lâm-Ấp-Ký... người ta thấy lúc xưa, dân Trung-Hoa rất lạ lùng khi thấy những dân Di, dân Man sinh-tồn với biển cả. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Bản-đồ lấy trong cuốn sách China's March Towards the Tropics, của Harold J. Wiens (Conn, 1954) ghi-chú rằng: Căn-cứ theo sử Trung-Hoa, địa-bàn sinh-hoạt của người Bách-Việt trải dài từ Ngô-Việt (bán-đảo Sơn-Đông) tới Việt-Thường (Huế).</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Cuốn sách Science and Civilization in China, Vol. 4, (Cambridge ấn-hành 1971: các trang 656, 665) còn liệt-kê các tài-liệu cổ-thư Trung-Hoa như Lâm-„p-Ký, Thủy-Kinh-Chú, Thái-Bình Hoàn-Vũ-Ký, Phương-Vật-chí... đã đề-cập đến những chi-tiết khá hay như mấy ngàn năm trước tàu thuyền của người cổ Việt đã được đúc bằng đồng, bằng sắt. Lại còn chuyện lý-thú như những đoàn quân viễn-chinh của Trung-hoa đi Nam-xâm đã sử-dụng luôn những phương-tiện địa-phương mà Sử của họ ghi rõ ràng là Nam-phương Lâu-thuyền. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Chúng ta cũng nên biết qua rằng có một nước Việt vùng Chekiang (Triết-Giang ngày nay) thành-lập một trong những đoàn quân thủy đầu tiên ở Á-Đông. Vào năm 472 TTL., Hải-Quân nước này là lực-lượng mạnh nhất thời Chiến-quốc (The Junks &amp; Sampans of the Yangtze, G. R. G. Worcester, Naval Institute Press, Annapolis, 1971: 607.) Quân-đội nước Việt luôn luôn vận-chuyển, chiến-đấu trên thuyền, không bao giờ dùng ngựa hay chiến-xa. Chiến-hạm thời đó có chiếc bọc đồng.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Cattigara, Kẻ-Chợ (Hà-Nội) trên bản đồ Ptolemy</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Qua các hải-đồ cổ, người Tây-phương biết đến tên hải-cảng và vùng biển đầu tiên ở Á-Đông. Đó không phải là những địa-danh Trung-Nguyên mà là tên hải-cảng của Giao-Chỉ. Trước công-nguyên, người Âu-Châu cũng đã biết đến Biển Đông của nước ta và Vịnh Bắc-Việt. Họ gọi chung là Cignus Magnus (hay Sinus Magnus). Những tài-liệu sau đây giải-thích sự-kiện đó: </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Sau cuộc viễn-chinh của Alexandre Đại-đế (336-323 TTL) sang Ấn-Độ, nhiều giao-tiếp đã xảy ra giữa Á-Âu, người Hy-Lạp biết thêm nhiều sinh-hoạt của người Á-Châu. Eratosthene (275-195 TTL) viết sách Geographia, Ptolemy (khoảng 100-170) phát-triển môn địa-lý, viết sách và hình-dung ra một bản-đồ thế-giới mà tận-cùng về phía Đông-Đông-Nam là bán-đảo Vàng Chersonese và hải-cảng Kattigara (hay Catigara, kinh-độ 117 độ Đông, vĩ-độ 8 độ Nam - Kinh-tuyến gốc lấy từ đảo Ferro - (Islands of the Blest- quần-đảo Canary.) Bán-đảo Vàng là Đông-Dương và Kattigara (có bản-đồ ghi là Cattigara) chỉ Kẻ Chợ (Kesho), Long-Biên (Lugin) hay Hà-Nội ngày nay. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Tác-giả cuốn sách "Ancient India as Described by Ptolemy" là J. W. McGrindle, cũng đồng-ý với các học-giả khác, nghĩ rằng Kattigara là Hà-nội. Nơi trang 9, lời tác-giả ghi-chú : "Trung-Hoa trong gần 1,000 năm đã được biết như là quốc-gia nằm trong nội-địa Á-Châu (inner Asia)". Tại trang 26, ông viết: "... với lý-thuyết rằng Kattigara, điểm xa nhất về phía Đông tới được bằng đường biển, phải nằm gần hay trên cùng kinh-tuyến với với nước Tàu, điểm xa nhất đi đến được qua đất liền".</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Chứng-cớ của đống bản-đồ hỗn-loạn</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Tương-tự việc khoe hão những chứng-cớ lịch-sử, người Trung-Hoa thường loè bịp thiên-hạ bằng các chứng-cớ bản-đồ. Chuyện họ bịa-đặt đại-khái như thời nhà Nguyên, nhà Minh, nhà Thanh; họ đã vẽ bản-đồ Hoàng-Sa Trường-Sa. Dù nói một cách lớn lối như vậy, nhưng người Tàu chưa bao giờ đưa ra được lấy một tấm làm chứng-cớ cho thiên-hạ coi. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Tuy người Trung-Hoa không có chứng-cớ bản-đồ, nhưng người Việt-Nam tôn-trọng sự thực lại thích lục lọi đống bản-đồ cổ xưa đó của họ. Kết-quả công-bố (báo Tuổi Trẻ Chủ-Nhật, Việt-Nam; 26-5-1996; &amp; News In Review, Hoa-Kỳ; 6-6-1996) rất chính-xác và hiển-nhiên quá đến độ người Tàu hết đường chối cãi. Đó là sự kiện bản-đồ Trung-Hoa có xuất-hiện quần-đảo Tây-Sa và Nam-Sa ra đời sớm nhất cũng không trước năm 1909. Niên-đại này quá mới, không chứng-minh được điều gì, và... rất yếu nếu so-sánh với tài-liệu chính-xác của Việt-Nam. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Tai-hại hơn, vì lập-trường chính-phủ Trung-Hoa không vững-vàng và sự thông-tin ngay trong giới chức-quyền cũng yếu, nên một số bản-đồ chính-thức ra đời cùng năm đó (1909) lại không kịp tu-chỉnh. Nguy-khốn nhất cho Trung-Cộng là loạt Bản-Đồ Đại-Thanh Đế-Quốc Vị-Trí Khu-Hoạch Quảng-Đông tỉnh và Quỳnh-Châu phủ Nhai-Châu hội-đồ (tập Trung-Quốc Cận-Thế Địa-Dư-Đồ) được vẽ rõ ràng là biên-giới Trung-Hoa tới đảo Hải-Nam (tức Quỳnh-Châu) mà thôi!</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Đầu thế-kỷ 20, căn-bản hiểu-biết của họ về các hải-đảo ngoài Biển Đông còn sơ-sài. Rồi gần 20 năm sau, tài-liệu của Trung-Quốc về Tây-Sa (Hoàng-Sa của ta) vẫn không có gì tiến-bộ hơn. Khi cố-gắng thiết-lập tờ báo-cáo-thư Điều-Tra Tây-Sa, viên chức trách-nhiệm tỉnh Quảng-Đông đã gặp phải nhiều khó-khăn khi văn-khố lưu-trữ Trung-hoa trống trơn, không cỏ một tài-liệu xa gần nào liên-hệ đến quần-đảo này. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Cùng thời đó, Tác-giả Lục-Đông-Á trong bài Nhận-định Về Quần-đảo Tây-Sa, ngay câu mở đầu đã viết: "Quần-đảo Tây-Sa được phát-hiện từ thời nào, không có sách Sử-ký, Địa-lý và Bản-đồ nào có ghi; thật không thể khảo-cứu được". Bài này trích-đăng lại bởi cuốn Tuần-Hải-Ký, xuất-bản tại Đài-Loan năm 1974, trang 175 và năm 1937, trang 186. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Trung-Hoa nhập-nhằng vụ Tây-Sa như vậy cho đến năm 1934 lại thèm-muốn quơ-quào thêm Đoàn-Sa và Nam-Sa (chính là Trường-Sa của Việt-Nam). Trong giai-đoạn máu tham-lam xâm-lược nổi lên này, Trung-Hoa đã lúng-túng, gây ra những chuyện Tiền-Hậu Bất-Nhất lố-bịch như sau:</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Năm 1928, chính-phủ Trung-Hoa Dân-Quốc tuyên-bố Tây-Sa là biên-giới phía Nam của quốc-gia. Lee G. Cordner thuộc Hải-Quân Hoàng-Gia Úc-Đại-Lợi cho rằng "sự kiện không liệt-kê Nam-Sa vào lãnh-thổ làm suy-sụp lý-lẽ chủ-quyền của Trung-Hoa". (The Spratly Islands Disputes And The Law Of The Sea. Trong "Ocean Development and International Law", Vol. 25, 1994, print in the UK, các trang 61-74). </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Những chuyện Tiền-Hậu Bất-Nhất lố-bịch khác nữa</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Tiến-sĩ Nguyễn-Quang-Ngọc trong khi du-khảo tại Úc-Đại-Lợi, ngoài việc phát-hiện những bản-đồ Trung-Hoa ra đời quá trễ như kể trên, còn ghi-chú thêm một số chuyện Tiền-Hậu Bất-Nhất lố-bịch khác nữa của người Tàu. Chúng tôi xin tóm gọn những sự phát-kiến của Ông như sau:</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">- Theo Quảng-đông Nghiên-cứu tham-khảo, nguyên-văn câu báo-cáo vào năm 1928 như sau: <i>Tra Tây-Sa quần-đảo dĩ vô chí thư, hựu vô chuyên-thư tường tái</i>. Cho dù không thể tra-cứu về Tây-Sa, và cho dù không hề có sách Địa-chí hay sách Chuyên-khảo nào ghi chép về Biển Đông, người Tàu vì mang dã-tâm, tiếp-tục bất cần sự thật, vẫn đòi hỏi việc chiếm đoạt hầu hết vùng biển Đông-Nam-Á. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">- Những ai theo dõi âm-mưu lấn-chiếm của người Tàu đều nhận ra những điểm khôi-hài vì "Bất-Thông Thời-Vụ". Ngay tên quần-đảo, người Trung-Hoa cũng gọi một cách bất-nhất. Năm nay ghi là Cửu Châu, năm tới kêu Thất-Đảo, lại có khi lỡ-bộ viết là Hoàng-Sa Chử (bãi Hoàng-Sa), nằm trong khu-vực Giao-Chỉ như cuốn Lịch Đại Dư-Địa-Đồ Mục-Lục (1906). Danh-từ Bãi Hoàng-Sa, hay Bãi Cát Vàng là những tên người Việt thường gọi quần-đảo của mình.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">- Lạ lùng hơn nữa, sự bất-nhất xảy ra ngay trong cùng một cuốn sách căn-bản và hệ-trọng như "Dương-Phòng Tập-Yếu". Trong pho Huấn-Thị Tuần-tiễu gồm tới 24 quyển này (in năm 1938) người ta thấy ngay sự khác-biệt nhau: (1) Bản-đồ "Trực Tỉnh Hải-Dương Tổng-đồ" vẽ một quần-đảo ngoài khơi, ghi là Vạn-Lý Trường-Sa (2) Một Bản-đồ khác là "Quảng-Đông Dương-đồ" lại đánh dấu ngay đúng vị-trí đó với một cái tên khác hẳn, đó là Cửu-Nhũ Loan-Châu.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">- Bản-đồ vẽ và ghi đã hỗn-loạn như vậy, mà cả những tập sách có nhiều lời chú-giải cũng lung-tung hết sức. Lấy thí-dụ về bộ "Quỳnh-Châu Phủ Chí". Bộ sách này tuy có tới 14 Bản-đồ hầu hết nằm trong nội-địa, không hề đánh dấu các địa-danh nào như Cửu-Nhũ Loa-Châu, Thiên-lý Thạch-Đường, Vạn-Lý Thạch-Đường, Vạn-Lý Trường-Sa. Tuy vậy khi nhắc đến các quần-đảo trong bài viết, tác-giả lại ghi tên của chúng lẫn-lộn với nhau: lúc thì gọi là Thiên-Lý Trường-Sa, Vạn-Lý Thạch-Đường (trang 55) đến trang 417, lại gọi là Vạn-Lý Trường-Sa, Thiên-lý Thạch-Đường. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Trong dòng hải-sử Biển Đông nhiều ngàn năm dư, danh-từ Tây-Sa (Hsisha) là một thứ hậu-sinh, chỉ mới xuất-hiện gần đây. Đó là khi Đề-Đốc Lý-Chuẩn đưa tàu thám-sát Hoàng-Sa vào năm 1909. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Lại có một truyện tức cười nữa ở đây. Lần này, Hạm-trưởng Chauvaire thuộc Hải-Quân Pháp kể lại bằng một bài viết đăng trong báo La Nature số 2916, xuất-bản tại Paris ngày 01-1-1933, trang 385-387. Chúng tôi xin ghi lại một đoạn đại-ý như sau:</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">"Nhắc lại chuyện hai chiếc pháo-đĩnh nhỏ bé của tỉnh Quảng-Đông mang hiệu-kỳ Đề-Đốc Lý-Chuẩn đến Hoàng-Sa trong năm 1909, ghé lại quần-đảo một khoảng thời-gian không quá 24 giờ. Vậy mà đến ngày 20-6-1909, đại-nhật-báo Quảng-Đông, tờ Kouo Che Pao cho đăng tin lớn... </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Tôi nghĩ (lời Hạm-trưởng Chauvaire) thật là khôi-hài. Ông "Đề-Đốc nhà ta" và đám thủ-hạ ít oi của ông không những đã khảo-sát kỹ-lưỡng hết thảy các hòn đảo, đụn, cồn, bờ cạn bãi chìm của vùng biển Hoàng-Sa mà còn trong giây lát vẽ ra được một bản-đồ tổng-quát toàn-thể quần-đảo cùng 15 chiếc bản-đồ đầy đủ chi-tiết chuyên-môn nữa... Trong vài giờ thôi nhé! Sau hết, Đề-đốc đã gom đủ yếu-tố để xem xét sâu xa và kết-luận là Trung-Hoa có thể xây-dựng được đến hai hải-cảng trong vùng!"</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Râu Ông nọ Cắm vào Cằm Bà kia</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Không rành tên đảo, Trung-Cộng vẫn trâng-tráo mạo-nhận chủ-quyền của đảo. Lỳ lợm hơn, trong khi loay hoay với âm-mưu xâm-lược, người Tàu còn đem tên quần-đảo này ra công-bố lẫn lộn với danh-xưng quần-đảo kia. Đó là trường-hợp cái tên Nam-Sa.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Hiện nay, Trung-Cộng tuyên-bố chủ-quyền trên quần-đảo Trường-Sa của Việt-Nam mà họ gọi là Nam-Sa. Lịch-sử của cái tên mới, tên cũ, tên từ kẽ đất nẻ chợt chui lên hay cái tên từ bụi rậm bỗng nhảy ra ở miền Biển Đông này, mọi người cũng nên xem qua để biết rõ:</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">- Cho đến năm 1935, lần đầu tiên cái tên hai Quần-đảo Nam-Sa và Đoàn-Sa xuất-hiện trong cuốn sách "Trung-Quốc Địa-Lý Tân-Chí". Nam-Sa là tên đầu tiên đặt cho quần-đảo đá ngầm Macclesfield Bank, gợi ý-nghiã quần-đảo ở biên-giới phía Nam của Trung-Hoa. Đoàn-Sa là tên đặt cho quần-đảo Spratlys (tức Trường-Sa của Việt-Nam).</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">- Sau khi Trung-Cộng cướp được chính-quyền, họ nảy sinh ý-đồ xâm-lược toàn-bộ Biển Đông. Vào khoảng năm 1949, Macclesfield Bank bị lột mất cái tên Nam-Sa, đổi thành Trung-Sa để biên-giới phía Nam kéo dài xuống phía đảo Natuna của Nam-Dương vào sát đảo Bornéo của Mã-Lai-Á.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">- Cái tên Đoàn-Sa lúc đó (1949) biến mất. Danh-từ Nam-Sa từ Macclesfield Bank mang đi hàng ngàn cây-số xuống phía Nam để gắn làm tên gọi cho quần-đảo Spratlys. Đã có câu hỏi tại sao Trung-Hoa thay tên đổi chỗ các quần-đảo như vậy? Nửa thế-kỷ qua đi, Chính-quyền Bắc-Kinh vẫn không thể nào đưa ra được một lý-giải nào tạm gọi là xác-đáng.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Lưỡi Rồng, chữ U hay một cái tên U minh minh. Ù cạc cạc?</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Câu truyện "khu-vực biển hình chữ U" của Trung-Hoa tương-tự như truyện ma-giáo, đại-đạo giang-hồ trong tiểu-thuyết kiếm-hiệp của họ. Không cần căn-cứ pháp-lý, chẳng cần nguyên-do; Trung-Cộng nhận chủ-quyền toàn-thể Biển Đông. Họ vẽ ranh giới vùng "Lưỡi Rồng" của họ một cách khơi khơi, quẹt sát bờ biển Trung-Việt (cách Cù-lao Ré chừng một khoảng 40 hl) xuống Indonesia qua gần Mã-Lai-Á (cách Bornéo ước- lượng 25 hl) vòng lên sát Phi-luật-Tân (cách Palawan vào chừng 25 hl.)</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Hình chữ U vẽ "tưới" ra, không có một tiêu-chuẩn hay căn-bản hay ... dựa trên bất cứ một tọa-độ địa-dư nào hết. Khu-vực này là lãnh-hải, là hải-phận kinh-tế, là thềm lục-địa, là khu-vực đánh-cá... hay khu-vực này - đã trong quá-khứ, hay sẽ trong tương-lai - mang một hình-thức pháp-lý chủ-quyền như thế nào? Thật chỉ là những đòi-hỏi tham-lam và mập-mờ, không có ai hay biết mà chính Bắc-Kinh cũng chưa bao giờ xác-nhận chi-tiết nào tương-tự.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Người Tàu chỉ cho biết "Lưỡi Rồng" mang tính-cách lịch-sử. Tuyên-truyền là như vậy, nhưng chính-sử Trung-Hoa chưa bao giờ ghi-chép việc họ chiếm-đóng Hoàng-Sa/ Trường-Sa. Địa-dư chí nước Tàu cũng chẳng bao giờ viết rằng nước Trung-Hoa phía Nam giáp Nam-Dương, Mã-Lai-Á... Vậy mà người Trung-Hoa thời nay giám cho rằng lịch-sử là một yếu-tố chính làm căn-bản cho chủ-quyền nước Tàu trên toàn-thể Biển Đông.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Thấy truyện thậm-chí vô-lý này, Luật-gia chuyên về hải-dương Mark J. Valencia đã nhận-định: "Không có một nguyên-lý nào trong luật-pháp quốc-tế thời hiện-đại cho phép một kiểu lý-luận như thế !". </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Để giúp mọi người như chúng ta có thể tìm hiểu thêm, hai Giáo-Sư Yann-huei Song, (Academia Sinica, Taiwan) và Peter Kien-hong Yu (National Sun Yat-sen University) đã truy nguyên nguồn gốc câu truyện xảy ra từ đâu. Hai người chính gốc Trung-Hoa này cũng không hiểu nổi nguyên-do tại sao và sự suy-luận mà đồng-bào của họ ở Hoa-Lục thế nào mà sản-sinh ra một thứ kỳ-lạ như vậy. Hai Ông này đề-nghị chúng ta đi tìm người vẽ (!) ra đường chữ U đó để hỏi xem tại sao anh ta làm như vậy? Xin quý-vị đọc thêm chi-tiết trong bài "U shape, China's "Historic Waters" in the South China Sea: An analysis from Taiwan, ROC. Trong báo American Asian Review, Vol. 12, No. 4, Winter, 1994, các trang 83-102.)</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Đối với một số người, chữ U làm họ liên-tưởng đến những sự u-mê, tăm tối... Vì ấu-trĩ, hoặc vì mập mờ muốn đánh lận con đen hay vì u minh minh, ù cạc cạc mà người Tàu nói liều chăng? </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Hoàng-Sa có từ-thạch hút tàu sắt không cho qua (!?)</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Ngoài sách Sử-ký, Địa-Dư mang ra dẫn-chứng hàm-hồ, người Trung-Hoa còn mang thêm những sách du-khảo ra, làm ra vẻ như họ có dư thừa tài-liệu. Họ mệnh-danh mấy cuốn đó thành một thứ lịch-sử chiếm-đóng. Như đã trình-bày ở trên, vì không có tài-liệu thực-sự chiếm-đóng tương-đương như Nhà Nguyễn (từ thế-kỷ 15) mà bàn-dân thiên-hạ chúng ta phải nghe những chuyện "trời ơi đất hỡi" như sau đây:</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">(a) Theo ông Tề Tân và một số người Trung-Hoa khác, sớm về đời Đông Hán đã thấy chép như sau: trong cuốn Dị Vật Chí của Dương Phu: "ở vùng hiểm nguy đảo Hải Nam nước biển không sâu mà có nhiều từ thạch khiến những chiếc thuyền lớn của người ngoại quốc có đóng chốt sắt tới nơi đó vì có chất từ thạch nên không qua được." Thật là dị-đoan, người không đi biển, không biết hải-đảo thường hay kể chuyện huyền-hoặc mà Anh-Ngữ có một từ thật chân-xác là "Sea Stories."</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Cụ Lãng-Hồ nhận-xét rằng: Đành rằng câu đó có nói tới quần-đảo người VN thường gọi là quần-đảo Hoàng Sa mà người Tàu gọi là Tây Sa quần-đảo, nhưng không có ở tiết nào xác nhận là của Trung-Hoa. Trái lại có vài điểm đủ chứng-tỏ quần-đảo đó thuộc lãnh thổ cố hữu của VN. Trước hết cuốn Dị Vật Chí của Dương Phu không phải là một tác phẩm đời Đông Hán. Theo Đường Thư Nghệ vân chí, cuốn đó có nhan đề đầy đủ là Giao Châu Dị Vật Chí và là một tác phẩm đời Đường. Do hai chữ Giao Châu và do ý nghĩa của nhan đề (Dị Vật Chí), quần-đảo được miêu tả với đặc tính là có nhiều từ thạch chính là quần-đảo Hoàng Sa của Giao Châu, tức là của Việt-Nam đời Đường vậy!</span></p><span style="FONT-SIZE: 11pt">
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Những chuyến Hải-trình của người Trung-Hoa</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Như đã nói ở trên, một vài chuyến hải-hành "thông-quá vô-tư" ngoài biển không tạo được một điểm pháp-lý nào cho chủ-quyền quốc-gia. Những chuyến đi biển để du-lịch, hành-đạo (như của các nhà Sư Trung-Hoa), hải-hành thử tàu thuyền (như thời nhà Tống), thường-dân đánh cá ghé đảo lấy nước... chẳng phải là những chứng-cớ khi bàn đến chuyện sở-hữu hải-phận theo Luật Biển Quốc-Tế hiện-hành. Tuy vậy, khi đưa đẩy những câu truyện "tào lao" ấy ra ngoài, người Tàu còn vô-ý đưa cả ra các yếu-tố "phản chủ" hay rất "yếu" như khi người Tàu phải quá-giang tàu thuyền nước khác.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Trong Chu Phiên Chí, tuy tác-giả có nói tới Thiên Lý Trường Sa (thuộc quần-đảo Hoàng Sa chứ không phải Trường Sa của VN, mà người Tàu nay gọi là Nam Sa) và Vạn Lý Thạch Sàng, nhưng không thấy có chỉ-tiết nào nói rõ những đảo dư đó thuộc quản hạt của Hải Nam. Cả đến Thất Ly Dương thấy có chép tới trong Tống Sử Kỷ Sự Bản Mạt, quyển 188, chương 1, do ông Tề Tân dẫn ra, tuy là một biệt xưng của quần-đảo Hoàng Sa về đời Tống, nhưng trong sử liệu trên cũng không có chỗ nào chép rằng Thất Lý Dương thuộc lãnh thổ Trung Quốc đời Tống.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Mặt khác, sử liệu đầu tiên có nói tới người Tàu vượt biển Nam Hải là cuốn Phật quốc Ký chép truyện Pháp Hiển hồi đầu thế kỷ thứ 5 chu du trong 15 năm qua nhiều xứ trung Á để sưu tầm tài liệu về Phật Giáo. Lúc ra đi, vị cao tăng này đã đi đường bộ nhưng khi ở Ấn-Độ về TQ đã đi đường biển trên một chiếc thuyền lớn không phải của người Tàu. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Sá gì sự phân chia hải-vực độc-đoán của người Tàu</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Riêng nước ta thời xưa đã từng được mệnh danh là nước Giao Chỉ đã bất chấp sự phân chia hải vực độc đoán của người Tàu, chứng-cớ là phần Biển Đông thuộc lãnh hải phía bắc VN bầy giờ, từ bắc vĩ tuyến 20 đến bắc vĩ tuyến 15, đã được mệnh danh là Giao Chỉ Dương, danh xưng này cũng đã thấy được ghi trên bản đồ của Mao Khôn nói trên. Trước đó, Chu Khứ Phi đời Tống cũng đã gọi là biển đó Giao Chỉ Dương.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Kế đến, người Pháp lại dùng danh xưng Paracels phiên âm tự tiếng Bồ đào Nha ra để chỉ quần-đảo Hoàng Sa của VN. </span><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Trong cuốn Mémoire sur la Cochinchine, J.B, Chaigneau (1769-1852) có chép như sau: La Cochinchine dont le Souverain porte aujourd'hui le titre d'Empereur comprend la Cochinchine proprement dite, le Tonkin... quelques iles habitées peu éloignées de la côte et l'archipel des Paracels, nghĩa là "xứ Giao Chỉ China mà quốc vương nay đã xưng Đế hiệu gồm có chính xứ Giao chỉ Chỉ-Na, Bắc Hà; ... Vài hòn đảo dân cư thưa thớt cách bờ biển không xa cho lắm và quần-đảo Paracels ".</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Trong cuốn Univers, histoire et description de tous les peuples, de leurs religions, moeurs et coutumes (1833). Giám-Mục Taberd cũng đã ghi rõ như sau: Nous n'entrerons pas dans l'enumérations des principales iles dépendantes de la Cochinchine. Nous ferons seulement observer que depuis de 34 ans l'archipel des Paracels nommé par les Annamites Cát Vàng ou Hoàng Sa (Sable jaune) véritable labyrinthe de petits ilots de rocs et de bancs de sable justement redoutés des navigateurs a été occupé par les Cochinchinois, nghĩa là: "Chúng tôi không đi vào việc liệt kê những hòn đảo chính yếu của xứ Giao-Chỉ Chi-Na. Chúng tôi chỉ xin lưu-ý rằng từ hơn 34 năm nay, quần-đảo Paracels mà người Việt gọi là Cát Vàng (Hoàng Sa) gồm rất nhiều hòn đảo nhỏ chằng chịt với nhau, lởm chởm những đá nhô lên giữa những bãi cát đã được người Việt xứ Đàng Trong chiếm cứ, đã khiến những kẻ đi biển phải kinh sợ.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Trong hai đoạn Pháp Văn trích dẫn bên trên, có vài điểm đáng chú ý.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">a) Một là danh xưng Bồ đào Nha Parcel (Pracel) và danh xưng Pháp Paracels đồng nghĩa với những danh xưng của người Tàu như Thạch Đường nghĩa là bức đê, bức tường, bờ cao bằng đá. Do nghĩa đó, có thể suy ra rằng thương nhân người ngoại quốc thuở xưa gồm có người Tàu, người Bồ đào Nha, người Hòa Lan, người Pháp, v.v... đã từng có những kinh nghiệm đầy lo ngại đối với quần-đảo Hoàng Sa của VN.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Tàu bè của họ vốn là những chiếc thuyền lớn hoặc tàu lớn có chốt sắt nên họ rất sợ phải qua vùng Hoàng Sa là nơi tục truyền có nhiều đá mọc ngầm dưới mặt biển thuyền tàu lỡ va phải là vỡ. Bởi vậy người Tàu mới có câu "Thượng phạ Thất châu hạ phạ Côn Lôn", nghĩa là Trên thì sợ Thất Châu dưới thì sợ Côn Lôn hoặc "Khứ phạ Thất Châu hồi phạ Côn Lôn" nghĩa là Đi thì sợ Thất Châu về thì sợ Côn Lôn. Trái lại, dân VN miền duyên hải Trung Việt như đã nói trên thường vượt biển trên những chiếc ghe bầu, không hề sợ hãi đối với Hoàng Sa và Trường Sa như đã chứng-tỏ danh xưng lâu đời của hai quần-đảo này mà họ chỉ coi là những bãi cát vàng và cát dài.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">b) Điểm nữa đáng chú ý là những sự kiện có liên quan đến người Bồ đào Nha, Hòa Lan và Pháp từ thế kỷ 16 đã chứng-tỏ là cố lai người Tàu không hề có nắm được độc quyền hàng hải trên biển mà họ mệnh danh là biển Nam Hải. Đành rằng từ thế kỷ 12 nghề hàng hải của họ đã tiến bộ nhiều nhờ bắt đầu biết ứng dụng Kim Chỉ nam vào việc hàng hải nhưng theo nhiều sử gia có uy tín thời người Ả Rập đã thực hiện được sự ứng dụng đó từ lâu trước người Tàu. Thực tế tuy người Tàu đã biết chế ra xe chỉ nam từ đời nhà Chu nhưng theo sự khảo cứu của J. Chalmers trong Trung Quốc tạp chí (China Review, XIX, 52-54) thời sự phát minh thứ xe đó đã không tất nhiên dẫn đến sự đồng thời phát minh ra la bàn hàng hải. (Xem thêm bài "Hoàng Sa - Trường Sa: Lãnh thổ Việt Nam" tác-giả Nguyễn Khắc Kham. Tập san Sử Địa 29: "Đặc-Khảo Về Hoàng Sa và Trường Sa", số tháng 1 đến tháng 3-1975, Sài Gòn). </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Tài-liệu Thích Đại Sán và Hải ngoại Ký Sự</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Trong những tập ký-sự của thế-kỷ 17, bộ Hải ngoại Ký sự của Nhà Sư Thích Đại Sán nổi tiếng nhất, được nhiều người biết đến. Tác-giả là một vị lão tăng đời Khang-Hy đã đến đất Thuận hóa dưới triều Nguyễn Phúc Châu ngày 29 tháng giêng năm „t Hợi (13-3-1695) và rời chùa Thiền Lâm để vào Hội an về Quảng đông ngày 28 tháng 6 cùng năm đó, (7-8-1695). </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Đọc qua các đoạn văn của Hải Ngoại Kỷ Sự, người ta có thể nhận thấy rằng trong khoảng từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 17, chủ-quyền VN trên hai quần-đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được hành sử dưới nhiều hình thức như đánh thuế xuất nhập tàu bè ngoại quốc, thiết lập những đội chuyên thâu lượm hải vật, kinh nghiệm bản thân của các dân chài bản xứ đối với hai quần-đảo đó, v.v... </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Chúng tôi mời quý-vị xem thêm chi-tiết trong "Thích Đại Sán, Hải ngoại Ký Sự, Sử liệu nước Đại Việt Thế Kỷ XVII" Toàn bộ 7 quyển, Viện Đại Học Huế. Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt-Nam. Huế 1963. Đặc-biệt là quyển sách "Hải Ngoại Kỷ Sự" Quyển ba.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Nhận-Xét của Ông Tạ-quốc-Tuấn Về Lập Luận Của hai chính-phủ Bắc-Kinh và Đài-Loan</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Ngoài những đợt Hỏa-mù được tung ra khắp nơi, hai chính-phủ Trung-Cộng và Đài-loan cũng cho công-bố một số văn-kiện pháp-lý chính-thức. Khi bàn về những luận-cứ đó, Ông Tạ-quốc-Tuấn, một học-giả Việt-Nam có các nhận-định xác-đáng như sau:</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Qua việc nghiên-cứu các lời tuyên-bố của hai chính-phủ Bắc-kinh và Đài-bắc liên-quan đến vấn-đề chủ-quyền trên hai quần-đảo Hoàng-sa và Trường-sa từ năm 1951 đến nay, chúng ta nhận thấy rằng cả hai chính-phủ này có luận-cứ vu-vơ, mơ-hồ và võ-đoán. Họ chỉ nói đi nói lại nhiều lần là Trung-quốc có chủ-quyền bất-khả tranh-nghị hay chủ-quyền hợp-pháp và chủ-quyền đó có từ xa-xưa lắm rồi, nhưng lại không đưa ra được một bằng-chứng cụ-thể nào, căn-cứ vào các tiêu-chuẩn lịch-sử, địa-lý hay luật quốc-tế, để chứng-minh là chủ-quyền đó thuộc về Trung-quốc. Vì vậy những luận-cứ đó hoàn-toàn không có tính-cách thuyết-phục, dù là đối với những người đễ tính nhất. Cái lầm lớn nhất của cả Bắc-kinh lẫn Đài-bắc là cứ làm như chủ-quyền đó là vấn-đề đương-nhiên, không cần biện-minh. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Sở-dĩ chúng tôi (lời Ông Tạ Quốc-Tuấn) bảo là sai-lầm là bởi vì khi có sự tranh-chấp về một quyền nào đối với vật nào, các phe đương-tranh ít nhất cũng phải đưa ra các bằng-cớ cần-thiết để chứng-minh quyền sở-hữu của mình đối với vật tranh-chấp ngõ hầu có thể thuyết-phục những người ngoại-cuộc. Việc không chứng-minh quyền sở-hữu này có thể khiến cho người ngoại-cuộc nghĩ rằng sự thực thì phe không đưa ra bằng-chứng không hề có quyền sở-hữu, mà hành-động đòi chủ-quyền chỉ là vì do lòng tham muốn chiếm-đoạt vật của người khác.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Ngoài ra, cả Bắc-kinh lẫn Đài-bắc đã có hành-vi bất-hợp-pháp là cố tình coi việc giải-giới quân-đội Nhật-bản đóng ở hai quần-đảo Hoàng-sa và Trường-sa năm 1946 là Trung-quốc đã thu-hồi hai quần-đảo này để rồi vin vào đó họ tuyên-bố chủ-quyền của Trung-quốc trên hai quần-đảo, mặc dù các quốc-gia đồng-minh trong trận Thế-chiến thứ II chỉ quyết-định giải-giới quân-đội Nhật-bản đóng ở đây thôi chứ không hề quyết-định qui-hoàn hai quần-đảo này cho Trung-quốc. Ngay cả trong Hoà-ước Cựu-kim-sơn năm 1951 Nhật-bản cũng không hề tuyên-bố hay nhìn-nhận qui-hoàn Hoàng-sa và Trường-sa cho Trung-quốc. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Lý-do này rất dễ hiểu: các nước đồng-minh trong Thế-chiến thứ II củng như Nhật-bản đều biết rằng hai quần-đảo này không phải là phần lãnh-thổ của Trung-quốc. Hành-vi bất-hợp-pháp này có hậu-quả rất tai-hại là nhiều người ngoại-quốc không nghiên-cứu kỹ và chỉ dựa vào các tuyên-bố của Bắc-kinh hay Đài-loan đã mặc-nhiên nhìn-nhận chủ-quyền của Trung-quốc trên hai quần-đảo Hoàng-sa và Trường-sa. Các tài-liệu do người ngoại-quốc viết về vấn-đề này đã cho thấy rõ hậu-quả tai-hại đó. Rất hiếm, nếu không thể nói quả-quyết được là không có, tài-liệu do người ngoại-quốc biên-soạn hay viết đã tham-chiếu các tài-liệu của Việt-nam chứng-minh chủ-quyền đối với Hoàng-sa và Trường-sa thực sự thuộc về Việt-nam, mà chỉ tham-chiếu tài-liệu của Trung-quốc, cả quốc-gia lẫn cộng-sản thôi.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Ngay cả việc giải-giới do Quốc-quân Trung-hoa thực-hiện năm 1946 cũng là hành-vi không hợp-pháp nốt. Một mặt, qua hiệp-ước ký với Pháp ngày 28.2.1946 Trung-hoa Dân-quốc đã chuyển-nhượng việc giải-giới quân-đội Nhật-bản ở bắc vĩ-tuyến thứ 16 cho Pháp nhưng mặt khác cuối năm 1946 lại cho quân đến giải-giới quân-đội Nhật-bản chẳng những ở Hoàng-sa mà còn ở cả Trường-sa nữa, để sau này vịn vào hành-động đó cả hai chính-phủ Bắc-kinh và Đài-bắc coi là Trung-quốc đã tiếp-thu và có chủ-quyền trên hai quần-đảo này. Như vậy, nếu áp-dụng riêng luật quốc-tế theo yêu-sách của Trung-Cộng không thôi chúng ta thấy là Trung-quốc cũng không có tư-cách pháp-định làm chủ hai quần-đảo Hoàng-sa và Trường-sa.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Nói tóm lại, luận-cứ chính-thức của hai chính-phủ Trung-Cộng và Đài-loan không có sức thuyết-phục được ai về chủ-quyền của Trung-quốc trên hai quần-đảo Hoàng-sa và Trường-sa vì đã không đưa ra được một bằng-chứng nào và lại dựa vào hành-vi bất-hợp-pháp. (Chúng tôi xin mời xem toàn bài của Ông Tạ-quốc-Tuấn, cùng đăng trong website này)</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Danh từ Paracels, Pracels xuất hiện trong lịch-sử giao-tiếp Việt-Nam và Tây-phương</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Danh từ Pracels xuất hiện lần đầu tiên trên một bản đồ của Bán đảo Đông Dương (Carte de la Peninsule Indochinoise) do Frère Van Langren, một người gốc Hòa Lan, ấn hành năm 1595. Bản đồ này phác họa nhờ những tài liệu của người Bồ Đào Nha, nối gót nhà hàng hải Vasco de Gama, đã tiên-phong đông-du tìm kiếm xứ Ấn-Độ bằng đường biển (route maritime des indes) bằng cách đi vòng mũi Hảo Vọng (Cap de Bonne Espérance) năm 1497. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Theo giáo sư Pierre Yves Manguin, danh từ Ilhas do Parcel (Pracel) do người Bồ Đào Nha đặt ra trước đó. Trong từ ngữ của họ, danh từ Parcel có nghĩa là "đá ngầm" (récif), cao tảng (haut-fond). (Xem biên khảo "Les Portugais sur les côtes du Việt Nam et du Campa") đăng trong Bulletin de l' Ecole Francaise d' Extrême Orient, année 1972, page 74). Sau này người Pháp, người Anh gọi là Paracels.&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Ai cũng biết ngoài khơi của Quảng Nam / Quảng Ngãi trở vào Nam có nhiều hòn đảo. Khi người Việt-Nam chiếm ngụ những vùng đất cũ Chiêm-Thành (nôm na là Chàm), họ gọi tên các đảo này là &#8220;hòn Chàm, cù-lao Chàm&#8221; cũng như họ từng gọi những con sông, ngọn núi là &#8220;sông Chàm, núi Chàm&#8221;. Xa hơn nữa ra ngoài khơi Biển Đông là những vùng bãi cát thấp rộng mênh mông, người Việt gọi là &#8220;Bãi Cát Chàm&#8221;. Sau một thời-gian, những tên gọi nôm-na đó thay đổi, chỉ còn tên gọi một tên hòn đảo lớn nhất là Cù-Lao Chàm ngang Hội-An. Bãi Cát Chàm vì có cát màu vàng nên người Việt-Nam đổi tên gọi cho chính-xác hơn là Bãi Cát Vàng. Theo từ Hán Việt, đó chính là quần-đảo Hoàng Sa.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR">Theo tin VietNamNet (08:25 08/02/2004 (GMT+7), GS.TS Nguyễn Quang Ngọc, chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Trường ĐH KHXH&amp;NV (ĐH QG Hà Nội) công bố một số tư liệu và bản đồ do ông tìm thấy, trong đó có nhiều tấm bản đồ khẳng định Hoàng Sa là của Việt Nam. Đó là bản đồ (nguyên bản của công ty Đông Ấn Hà Lan) với dòng đánh dấu vùng quần đảo giữa Biển Đông ghi rõ "Baixos de Chapar" (tức là bãi cát của Cham pa). Hay tấm bản đồ đánh dấu vùng bờ biển tương đương với khu vực Quảng Nam, Quảng Ngãi là "Costa de Paracel" (có nghĩa là "bờ biển Paracel", tức bờ biển Hoàng Sa). Điều này khẳng định Paracel (Hoàng Sa) là thuộc Việt Nam.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><?xml:namespace prefix = v ns = "urn:schemas-microsoft-com:vml" /><v:shapetype id=_x0000_t75 path=" m@4@5 l@4@11@9@11@9@5 xe" stroked="f" filled="f" o:spt="75" o:preferrelative="t" coordsize="21600,21600"><v:stroke joinstyle="miter"></v:stroke><v:formulas><v:f eqn="if lineDrawn pixelLineWidth 0 "></v:f><v:f eqn="sum @0 1 0 "></v:f><v:f eqn="sum 0 0 @1 "></v:f><v:f eqn="prod @2 1 2 "></v:f><v:f eqn="prod @3 21600 pixelWidth "></v:f><v:f eqn="prod @3 21600 pixelHeight "></v:f><v:f eqn="sum @0 0 1 "></v:f><v:f eqn="prod @6 1 2 "></v:f><v:f eqn="prod @7 21600 pixelWidth "></v:f><v:f eqn="sum @8 21600 0 "></v:f><v:f eqn="prod @7 21600 pixelHeight "></v:f><v:f eqn="sum @10 21600 0 "></v:f></v:formulas><v:path o:connecttype="rect" gradientshapeok="t" o:extrusionok="f"></v:path><?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" /><o:lock v:ext="edit" aspectratio="t"></o:lock></v:shapetype><v:shape id=_x0000_s1031 style="WIDTH: 196.5pt; HEIGHT: 290.25pt" type="#_x0000_t75" coordsize="21600,21600" o:allowoverlap="f" wrapcoords="-127 0 -127 21514 21600 21514 21600 0 -127 0"><v:imagedata gain="234057f" src="tailieuphaply_files/image001.jpg" o:title="images120486_ban do thay Ngoc_lam bai"></v:imagedata></v:shape>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; <v:shape id=_x0000_s1030 style="WIDTH: 204pt; HEIGHT: 290.25pt" type="#_x0000_t75" coordsize="21600,21600"><v:imagedata src="tailieuphaply_files/image003.jpg" o:title="image009"></v:imagedata></v:shape></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center">&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal"><i>Hình trái - Một trong những bản đồ của Cô<span style="COLOR: black">ng ty Đông Ấn Hà Lan, đánh dấu quần đảo ở giữa Biển Đông là Baixos de Chapar và <strong><span style="FONT-WEIGHT: normal">vùng bờ biển tương đương với khu vực Quảng Nam, Quảng Ngãi là "Costa de Paracel"</span></strong></span></i></p>
<p class="MsoNormal"><i>Hình phải - Đây là tấm bản-đồ đầu tiên của Công-ty Đông-Ấn người Anh, họa-viên cũng ghi những dòng chữ phụ-chú như sau để thông-báo cho các tàu thuyền qua lại Biển Đông:</i></p>
<p class="MsoNormal"><i>I. de Pracell tức Quân-đảo Hoàng-Sa (hàng chữ ngang)</i></p>
<p class="MsoNormal"><i>P. Camber tức Bãi cát Chàm (hàng chữ dọc) </i></p>
<p class="MsoNormal"><i>R. Camber tức Sông Chàm vùng duyên-hải Bình-Định / Phú-Yên.</i></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Chứng-tích hiển nhiên về Chủ-quyền Việt-Nam trên các bản-đồ cổ Tây-phương </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Nếu chúng ta hỏi một người Trung Hoa: Có chứng-tích nào chứng-minh Chủ-quyền của Trung-Hoa hay Việt-Nam trên các bản-đồ cổ Tây-phương không? Chắc-chắn họ sẽ trả lời: Không. Người Tàu trả lời "không" vì thực-sự không có bản-đồ nào như vậy giúp cho họ thêm được một tài-liệu tranh cãi chủ-quyền.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Nhưng nếu chúng ta lại đặt câu hỏi đó với một người Việt-Nam rành địa-lý, sử-ký; một người thích bản-đồ cổ, hay bất cứ một người từng hành-thủy Việt-Nam hay một thủy-thủ thuộc một đệ-tam quốc-gia nào đã hải-hành ngang qua vùng Đông-Nam-Á, chúng ta cũng sẽ thấy mọi người hăng-hái trả lời là họ nhìn thấy rất nhiều. Tại sao chứng-cớ chủ-quyền Việt-Nam trên bản-đồ cổ lại nhiều như vậy ? Chúng tôi xin giải-thích như dưới đây. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Tiếp-theo việc vẽ quần-đảo Paracels/ Hoàng-Sa của Frère Van Langren, những hải-đồ Biển Đông được nhiều nhà họa-đồ khác nối-tiếp vẽ thêm nhiều chi-tiết với đồng một quan-điểm là Hoàng / Trường-Sa thuộc về Đại-Việt. Khi các nhà hàng-hải, thuyền-trưởng, giáo-sĩ, thương-gia ... qua lại Biển Đông, họ thường lái tàu sát bờ biển nước ta, tiếp-súc với chính-quyền Đại-Việt, gặp gỡ người Việt, hỏi-han tin-tức hải-hành. Khi họa hải-đồ, các nhà xuất-bản, không những chỉ người Hòa-Lan vẽ, mà còn nhiều người nước khác cũng thu-thập tài-liệu về Hoàng-Sa và ta thấy sự phản-ảnh chủ-quyền Việt-nam trên những hải-đồ còn để lại cho đến ngày nay.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Việc hải-thương tấp-nập, tàu buôn có chiếc mắc nạn ngoài Hoàng-Sa. Thuyền-trưởng đã liên-lạc với chúa Nguyễn nhờ cứu giúp. Cũng đã có tranh-chấp, kiện-cáo về tài-sản. Một lần, chính-quyền Trung-Hoa đã phủ-nhận chủ-quyền của họ trên quần-đảo ... </span><span style="FONT-SIZE: 11pt">(Xem thêm chi-tiết trong Bạch-Thư VNCH "White Paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands"). </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Vì những lý-do như trên, ngày nay chúng ta có thể thâu-thập được rất nhiều sử liệu Tây-Phương minh-chứng cho chủ-quyền của Việt Nam. Các tác-giả, tuy khác nhau quốc-tịch, nhưng đồng lòng làm chứng rằng hai quần-đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc sở-hữu nước ta từ lâu. (Xem "Những sử liệu Tây Phương minh-chứng chủ-quyền của Việt Nam và quần-đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thời Pháp thuộc đến nay". Thái Văn Kiểm. Tập san Sử Địa 29: "Đặc Khảo Về Hoàng Sa và Trường Sa", số tháng 1 đến tháng 3-1975, Sài Gòn).</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Trong số lượng khổng-lồ của những bản-đồ hải-hành thực-hiện bởi người Hòa-Lan, người Bồ-Đào-Nha, người Tây-Ban-Nha, người Anh, hay người Pháp; chúng tôi chỉ xin trình-bày sơ-lược một số hải-đồ tượng-trưng như sau:</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">- 1606. Jodocus Hondius vẽ hai nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa như một cái cờ đuôi nheo uốn quanh Đại-Việt và Chiêm-Thành, cái đuôi dính liền với các đảo vùng Phan-Thiết.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">- 1630. Cloppenburg vẽ hai nhóm Hoàng Sa và Trường Sa chạy dài từ khoảng ngoài khơi Cửa Sông Gianh kéo phần đuôi quần-đảo vào sát vào khu bờ biển ngoài khơi Phan Rang</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">- 1650. Merian vẽ hai nhóm quần-đảo riêng rẽ có tính cách tượng-trưng: Hoàng Sa ngang vùng biển Đà-Nẵng, Trường Sa ngang vùng biển Cam Ranh.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">- 1664. Thevenot vẽ hai nhóm Hoàng Sa và Trường Sa với cái đuôi chỉ tới vùng ngoài khơi Nha-Trang.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">- 1719. Chatelin vẽ hai nhóm Hoàng Sa và Trường Sa dính liền nhau, rất lớn và rất sát với bờ biển Trung-phần, có chỗ chỉ cách đất liền Việt-Nam chừng mươi, mười lăm hải-lý. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Hầu hết các hải-đồ tương-tự (ước-lượng hàng trăm bản) có vẽ các phương-vị-độ để chỉ hướng lái tàu đi từ các quần-đảo ngoài khơi vào đất liền Đại-Việt. Không có hướng rõ rệt để thương-thuyền có thể tiếp-cận bờ biển Trung-Hoa. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Chúng ta cầu lưu-ý một điểm về đặc-tính khách-quan, của những nhà hàng-hải lần đầu giao-tiếp với Á-Đông. Họ đi tìm đất buôn bán, không hay biết nhiều các quan-điểm chính-trị hay thiên-lệch chủ-quyền nước nào. Nhu-cầu tối-thượng của họ khi họa Hải-Đồ là vẽ thật gần với thực-tế. Họa-đồ nhắm vào mục-đích là cung-cấp các chi-tiết hải-hành như thế nào để tàu-thuyền tránh tai-nạn ngoài biển. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Nhìn qua những họa-đồ Biển Đông trong giai-đoạn hai thế-kỷ 17 và 18, bất cứ một con mắt khách-quan nào cũng rõ ràng nhận ra ngay là Hoàng-Sa Trường-Sa thuộc lãnh-thổ nước ta và không thể thuộc về bất cứ một quốc-gia nào khác.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Vì thấy những địa-danh được nhiều họa-viên hàng-hải vô tư, ghi-chép rõ-ràng những địa-danh thuộc chủ-quyền Việt-Nam liên-tiếp nhiều thế-kỷ như vậy; Trung-Cộng đã (một là) cố-ý che dấu, (hai là) khi chúng ta mang ra dẫn-chứng, họ lờ đi.</span></p><span style="FONT-SIZE: 11pt">
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Quan-điểm của người Pháp, người Anh</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Như mọi người đã biết Anh Pháp là hai trong Lục-Quốc từng xâu xé Trung-Hoa, lập thuộc-địa, chia tô-giới. Pháp lại đô-hộ Việt-Nam. Tuy vậy các tài-liệu do các người của hai nước Anh, Pháp biên-soạn thường bênh-vực chủ-quyền các hải-đảo Biển Đông cho Việt-Nam.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Sau một thời-gian dài sinh sống, nghiên-cứu Địa-lý tại Trung-Hoa, một người Pháp tên L. Richard đã viết cuốn "Địa-Lý Đế-Quốc Trung-Hoa" (Géographie de l'Empire de Chine). Sách xuất-bản năm 1905 tại Thượng-Hải. Trong cuốn sách đó, Ông viết rằng Hoàng-Sa thuộc Việt-Nam. Nhà in nằm tại Trung-Hoa, nhân-viên cũng là người Trung-Hoa. Sau khi xuất-bản, sách lại được người Trung-Hoa trong chính-quyền và giới nghiên-cứu đọc, không có ai phản-ứng vì mọi người đã như mặc-nhiên công-nhận chủ-quyền đó của Việt-Nam.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Cuốn "Géographie de l'Empire de Chine" tiêu-thụ rất nhanh tại Trung-Hoa cũng như tại hải-ngoại, nên sách được tái-bản. Một người Anh tên M. Kennelly, xin với tác- giả L. Richard để tu-chỉnh và chuyển-ngữ sang tiếng Anh. Cuốn sách mới nhan-đề "L. Richard's Comprehensive Geography of the Chinese Empire and Dependencies" (translated into English by M. Kennelly, S. J.) cũng in tại Shanghai, T' usewei Press, xuất-bản năm 1908. Trong đó, phần địa-lý mô-tả các hải-đảo ngoài biển (Section IV. The coast-line of China, The Coast-Line of Kwangtung) tác-giả ghi nhận là quần-đảo Thất-Châu liên-hệ với Việt-Nam hơn là với Trung-Hoa : &#8220;The Paracels or Ts'ihchow (Seven Islets) - These lie to the S. E. of Hainan, and seem attached rather to Annam than to China&#8221;. Chúng tôi ghi lại nguyên-văn câu Anh-Ngữ trên vì hai lý-do: </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">- Khi cuốn sách được soạn-thảo, tình-hình chính-trị có vẻ sẽ đưa tới việc Nhà Cầm-quyền Trung-Hoa muốn đòi chủ-quyền trên quần-đảo Hoàng-Sa, lúc đó đang thuộc Việt-Nam.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">- Trong khi Việt-Nam gọi quần-đảo là Hoàng-Sa (hay nôm na là Bãi Cát Vàng), người Pháp và người Anh gọi là Paracels. Còn người Trung-Hoa cho đến năm đó, 1908, vẫn còn dùng một cái tên mập-mờ là Thất-Châu. Trên thực-tế, quần-đảo gồm rất nhiều hải-đảo, cồn, đụn, chìm có, nổi có: số lượng đảo (Châu) lớn hơn con số 7 (Thất) rất nhiều.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Tập Hồ-Sơ Đế-Quốc Anh</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Tài-liệu dưới đây tuy đã cũ nhưng cũng kể là mới vì chỉ được khám-phá ít năm gần đây (1986) mà thôi. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Người Anh thường-thường rất tế-nhị về chính-trị và khéo-léo trong ngoại-giao. Ít khi chúng ta được nghe chính-quyền Anh lên tiếng bênh-vực hay chống đối về chủ-quyền trên các Hải-Đảo vùng Á-Đông. Các tài-liệu pháp-lý của họ, cũng vì nhiều lý-do thận-trọng trong đường lối ngoại-giao, đã không được chính-phủ Anh-Cát-Lợi công-khai tuyên-bố rầm rộ. Tuy vậy nếu truy-tìm kỹ-càng các tài-liệu pháp-lý về tranh-chấp thuộc-địa Anh Pháp, chúng ta có thể tìm ra trường-hợp Anh-Quốc, với sự biểu-đồng-tình của Úc-Đại-Lợi (thành-viên của khối Thịnh-Vượng Chung thuộc Liên-Hiệp Anh) đã có quyết-định gián-tiếp công-nhận chủ-quyền Trường-Sa cho nước bảo-hộ Việt-Nam là Pháp-Quốc. Anh-Quốc cũng phủ-nhận chủ-quyền Trung-Cộng và ngưng việc tranh-chấp, không dành-dật chủ-quyền với Pháp-Việt vì họ ý-thức tầm quan-trọng chiến-lược của Trường-Sa. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Sau khi người Pháp ban-hành sắc-lệnh đặt Trường-Sa trực-thuộc tỉnh Bà-Rịa của Việt-Nam thì có sự tranh-chấp Anh-Pháp về chủ-quyền quần-đảo. Ngày 23 tháng 4 năm 1930, Văn-phòng Ngoại-Vụ của Anh nhận được điện-thư từ Tổng-Lãnh-Sự Anh tại Sài-Gòn, nội-dung đại-khái như sau: "Chính-quyền Pháp loan-báo chủ-quyền của họ trên vùng Spratly hay Quần-Đảo Bão-Tố (tức Trường-Sa), đây chính-xác là vùng Quần-đảo mà Anh-Quốc đã sáp-nhập vào đế-quốc từ năm 1877. Xin cho biết chỉ-thị, nếu có để thi-hành".</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Ngay sau đó, công-cuộc thương-thuyết Anh-Pháp kéo dài tới hơn 10 năm với nhiều thủ-tục giấy tờ phiền-phức. Chính-phủ Pháp không nhận được một quyết-định thay đổi lập-trường nào của Anh-Quốc. Rồi Thế-chiến thứ II xảy ra, Anh-Pháp ngưng công-việc thương-thảo.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Cho đến năm 1950, tình-hình tạm ổn, Úc-Đại-Lợi hỏi Anh-quốc quyết-định thế nào về đường-hướng tranh-chấp chủ-quyền trên Trường-Sa. Bộ Ngoại-Vụ Anh trả lời chính-phủ Úc bằng một văn-thư đề ngày 24 tháng 10 năm 1950 như sau: </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">"Trong quan-điểm nhận-thức vì tầm quan-trọng chiến-lược quyết-định, chúng ta không phủ-nhận chủ-quyền Trường-Sa cho nước bảo-hộ Việt-Nam là Pháp-Quốc. Anh-Quốc không mong chủ-quyền hải-đảo vào tay Nhật-Bản, Phi-Luật-Tân, Trung-Hoa Quốc-gia và đặc-biệt không muốn nó để rơi vào Chính-phủ Trung-Hoa Lục-địa." </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Văn-thư kết-luận: "Chúng ta vì thế, không còn mưu-tìm một quyền-lợi nào để đeo đuổi vấn-đề đó và đề-nghị ngưng việc tranh-chấp hiện nay."</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Vì sư hệ-trọng của tài-liệu, chúng tôi đã đăng nguyên-vẹn bản văn trên internet (<a style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none; text-underline: none; text-line-through: none" href="http://paracels.com/">http://paracels.com</a>) để quý độc-giả tiện tham-khảo. Nhan-đề là : "The French Annexation, and British Abandonment of Spratlies. Abandonment of Territorial Claims: The cases of Bouvet and Spratly Islands", by Geoffrey Marston. Trong The British Yearbook of International Law 1986, LVII, các trang 337-356). </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Vấn-đề Pháp-lý và Chủ-Quyền Hoàng/ Trường Sa trong cộng-đồng quốc-tế</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Mặc dù diễn-đàn tranh cãi chủ-quyền Hoàng-Sa Trường-Sa vẫn còn do người Trung-Hoa lấn áp trong thập-niên 1980, nhưng những vùng ánh sáng chân-lý đã loé bùng lên, xuyên phá ngang qua bức màn hoả mù Trung-Cộng. Trong một ít năm gần đây, tình-thế có vẻ như đổi chiều và một số tài-liệu pháp-lý có tính-chất quốc-tế bắt đầu xuất-hiện.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">(1) Tiếng nói Covington Burling </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Vào tháng 6/ 1995, Công-ty Luật-pháp Quốc-tế Covington Burling ở Washington DC tuyên-bố rằng Việt-Nam có chủ-quyền khai-thác các mỏ dầu khí Thanh-Long và Vanguard. Theo các luật-gia danh tiếng của Covington Burling, Trung-Quốc hoàn toàn đi sai trái với những nguyên-tắc cơ-bản nhất của Quốc-tế Công-pháp. Chủ-quyền Việt-Nam dựa trên ba lý-lẽ sau:</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">- Theo Công-Ước Luật Biển, Việt-Nam được hưởng chủ-quyền trong vùng biển Kinh-tế đặc-quyền 200 hải-lý tính từ bờ biển.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">- Do sự kéo dài tự-nhiên của thềm lục-địa, Việt-Nam được quyền đòi hỏi chủ-quyền hợp-pháp quá giới-hạn 200 hải-lý. Toàn khu vực Thanh-Long và Vanguard hoàn-toàn nằm trên phần lục-địa Việt-Nam. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">- Theo nguyên-tắc chia cắt đồng đều và cân xứng, một toà-án có quyền phân-định ranh giới thềm lục-địa trên khắp Biển Đông.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Ý-kiến chuyên-môn thận-trọng nhất cũng đánh giá Thanh-Long và Vanguard thuộc Việt-Nam. Như vậy, Trung-Cộng không thể tự-ý nhượng quyền khai-thác dầu khí cho công ty Crestone Energy Corp. một cách bất hợp-pháp.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">(2) Lương-tâm Đài-Loan</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Sự xuất-hiện của một thứ "nhất điểm lương tâm" cũng là một điều đặc-biệt mà chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây. Chính "đối-thủ" Đài-Loan đã làm thế-giới luật-gia ngạc-nhiên vì họ đã lên tiếng xin rút lại những đòi-hỏi quá đáng về chủ-quyền trên biển lúc trước. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Trong bài báo "China's 'Historic Waters' in the South China Sea: An Analysis From Taiwan, R.O.C.", hai Giáo-sư: Yann-huei Song của Học-viện Academia Sinica, Taiwan và Peter Kien-hong Yu của Viện Đại học Tôn-Dật-Tiên<a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none; text-underline: none; text-line-through: none" href="http://www.vuhuusan.net/tailieuphaply.htm#_ftn2" name="_ftnref2"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[2]</span></span></a> đã phát-biểu rằng: "Kể từ nay, Đài-Loan sẽ không còn chấp-nhận việc nắm chủ-quyền toàn-thể vùng "Chữ U" như là một hành-động hợp-pháp mà chính Đài-Loan đã đòi hỏi trước kia. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Nói theo tính-cách chiến-lược, người Đài-Loan không còn cần phải đóng vai trò "Bad Guy" nữa trong khi Trung-Cộng đã muốn độc-quyền làm kẻ xấu." (Tạp-chí "The Asian Review" Vol. XII, No. 4, Winter, 1994, các trang 83-101.)</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">(3) Tài hùng-biện của vị Nữ Giáo-Sư người Pháp </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Gần đây, với một tinh-thần hiệp-sĩ hiếm có, vì "thấy sự bất-bình, rút dao tương-trợ", một vị Nữ-lưu, Thạc-sĩ Luật-học nước Pháp đã công-bố khắp thế-giới một cuốn sách 306 trang, gồm 28 phân-đoạn và 21 đề-mục liên-hệ bàn về chủ-quyền Hoàng-Sa Trường-Sa. </span><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Tác-phẩm nhan-đề: "La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys", Tác-giả: Monique Chemillier-Gendreau, xuất-bản tại Paris: Editions L'Harmattan, 1996. (Price: $42.00, Paperback). </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Theo vị Nữ Giáo-sư Luật Quốc-tế và Chính-trị-học này, cho đến nay Trung-Hoa không tranh-luận trên chủ-quyền chiếm đóng mà lại chỉ lập đi lập lại tính-cách lịch-sử (một cách mơ-hồ) của biển Nam-Hoa. Nếu việc Quân-đội Trung-Hoa đang chiếm đóng Hoàng-Sa Trường-Sa đã không phải là điểm then chốt trong lý lẽ tranh cãi chủ-quyền thì ta hãy mời mọi người xem xét tính-cách lịch-sử Trung-Hoa đối với Biển Đông ra sao? </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Trong cuốn sách mà giọng văn rất hùng-biện, như vai trò của một luật-sư đứng trước toà-án, để hết tâm-hồn bênh-vực cho lẽ phải, cứu giúp kẻ hàm oan, bà Monique Chemillier-Gendreau trình-bày mọi lý lẽ chủ-quyền lịch-sử Trung-Hoa và lần lượt từng điểm một, mang sách sử cả Hoa, cả Việt, Pháp, Anh ra làm bằng-cớ; hoàn-toàn bác bỏ được mọi luận-cứ mập mờ của kẻ xâm-lăng.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Cũng qua sử sách, với hàng chục dẫn-chứng, tác-giả đã quả quyết: Việt-Nam là nước độc nhất đã thực-sự hành-sử chủ-quyền quốc-gia trên hai quần-đảo từ thế-kỷ 18. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Đọc xong cuốn sách, cả thế-giới luật-gia, sử-gia, học-giả nào cũng phải thấy rõ rằng Trung-Quốc chưa hề bao giờ có chủ-quyền tại Hoàng-Sa và Trường-Sa. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Thêm nữa, một trong những đề-mục mà Thạc-sĩ Gendreau đề ra rất phù-hợp với sự thật mà hai giáo sư Nguyễn Dư-Phủ và Hà Mai-Phương đã khám-phá ra trước đây là giới-hạn Nam-Hải của Trung-Quốc xưa chỉ đến ngang đảo Hải-Nam. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR">Từ Pháp cuốn "La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys"đã phổ-biến sang tới Hoa-kỳ là nơi Trung-Cộng dồn nỗ-lực nhiều nhất trong chiến-thuật "Biển Sách". Ảnh-hưởng của nó chắc chắn thật to lớn, có khả-năng hoá-giải phần lớn các lời lẽ ngụy-biện Trung-Hoa. Bình-luận-gia kiêm luật-gia Steve Carlson của Đại-học Yale, sau khi đọc xong đã xác-nhận rằng sự ra đời của cuốn sách này làm mọi người có được cái nhìn rõ ràng vào sự thật bên trong của vấn-đề sôi bỏng là chủ-quyền trên Biển Đông. </span>Chúng tôi xin chép lại câu kết-luận bài điểm sách của luật-gia Steve Carlson như sau đây: " This book competently and coherently offers key insights into a volatile and contemporary sovereignty dispute boiling in the South China Sea." (The Yale Journal of international Law, Winter 1997, Vol. 22: 239-241.)&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal">&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in">Luận-án Lịch-Sử của Tiến-sĩ Nguyễn Nhã</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in">Ngày 20-1-1974, một ngày sau cuộc Hải-Chiến với Hải-Quân Việt-Nam, Trung-Cộng xâm-lăng Hoàng-Sa.</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in">Ngày 20-1-1975, Nguyễn Nhã là người thanh niên từng đóng góp cho Tập san Sử Địa 29: "Đặc Khảo Về Hoàng Sa và Trường Sa" lại tổ chức một triển lãm tại Thư viện quốc gia. Để kỷ niệm một năm ngày biến cố Hoàng Sa, Ông Nhã trưng bày tài liệu, hình ảnh thể hiện chủ quyền Hoàng Sa rõ rệt là của Việt Nam. </p>
<p class="MsoNormal">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Và đến 18-1-2003, 29 năm ngày biến cố Hoàng Sa, chàng thanh niên ngày xưa trình trước hội đồng bảo vệ luận án tiến sĩ tại Trường đại học KHXH&amp;NV đề tài "Quá trình xác lập chủ quyền của VN tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa". "Với luận án tiến sĩ này, tôi thách thức các nhà nghiên cứu các nước, kể cả Trung Quốc (TQ), có một đề tài xác lập chủ quyền Hoàng Sa mang tính khoa học được như tôi", người đó là Nguyễn Nhã.</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in">&#8220;Với tôi, một nhà nghiên cứu - ông Nhã nói - tôi bám sát theo tư liệu lịch sử. Việc xác lập chủ quyền là của Nhà nước chứ không phải của dân. Do vậy, phải sử dụng tư liệu của chính quyền. Mà ở mình thì tư liệu đáng tin cậy có nhiều. Xưa nhất, vào cuối thế kỷ 17 đã có tập bản đồ Toản nam tứ chí lộ đồ thư hay Toản tập An Nam lô của Đỗ Bá Công Đạo có vẽ và ghi chú về &#8220;bãi cát vàng&#8221;, tức Hoàng Sa. Tiếp đó là Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn mô tả chi tiết về hoạt động của các đội Hoàng Sa, Bắc Hải minh chứng sự xác lập và bảo vệ chủ quyền của VN trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Sang đến thời nhà Nguyễn thì một hệ thống biên niên sử và địa dư chí của Quốc sử quán, sách hội điển, châu bản của nội các triều đình nhà Nguyễn đã ghi chép sự hoạt động của đội thủy binh Hoàng Sa một cách rõ ràng, thể hiện sự xác lập cũng như bảo vệ chủ quyền của Nhà nước VN trên quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa. Trong đó có các bộ sử sách: Châu bản triều Nguyễn, Hội điển, Phủ biên tạp lục, Đại Nam thực lục chính biên, Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam nhất thống chí, Quốc triều chính biên toát yếu, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ...&#8221;.</p>
<p class="MsoNormal">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&#8220;Ở VN có một điều đặc biệt là tất cả các tài liệu đều là tài liệu công. Vua nói gì, bộ công nói gì, quan chức nói gì về chủ quyền Hoàng Sa, tất cả đều được sử gia chép lại. Chứ TQ thì chỉ suy diễn thôi. TQ không có tài liệu nào của chính quyền TQ nói về chủ quyền của TQ đối với Hoàng Sa cả. Vì tên gọi Tây Sa cũng như Nam Sa là tên gọi sau này, bắt đầu từ 1909 mới có. Năm 1909 TQ đi thám sát mới đặt tên quần đảo Hoàng Sa là Tây Sa vì cho rằng đây là đảo vô chủ (res nullius)&#8221;. </p>
<p class="MsoNormal">&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal">Nghiên cứu Thực-địa đội Hoàng Sa&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in">Giống như Tiến-sĩ Nguyễn Nhã, <strong><span style="FONT-WEIGHT: normal">GS.TS Nguyễn Quang Ngọc, chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Trường Đại Học Quốc-Gia Hà Nội</span>,</strong> cũng cho rằng việc &#8220;Nghiên cứu Thực-địa&#8221; la` quan-trọng.</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in">Khi nghiên cứu về Hoàng Sa, Trường Sa không thể nào không tới Lý Sơn - nơi được biết là nguồn cung cấp chủ yếu dân binh cho các đội Hoàng Sa, Bắc Hải, những đội được cử ra hai quần đảo này. </p>
<p class="MsoNormal">Ông <strong><span style="FONT-WEIGHT: normal">Ngọc nói:</span></strong>&nbsp;Tôi ra Lý Sơn hai lần. Lần thứ nhất vào năm 1995 và đã khảo sát kỹ càng. Năm 2001 trở lại lần nữa . Dù có ra nước ngoài nhiều lần vì vấn đề này nhưng phải nói rằng những chuyến đi Lý Sơn mới là những chuyến đi quan trọng nhất. Nó quan trọng vì tư liệu về lịch sử chủ quyền của VN ở Hoàng Sa và Trường Sa dưới các văn bản của nhà nước hay là được triển khai bởi các nhà nước VN trước đây (được ghi chú trong các sách và lưu trữ trong các kho lữu trữ trung ương) về những chuyến đi Hoàng Sa do nhà vua trực tiếp chỉ đạo. Tức là người đứng đầu cao nhất của nhà nước giao trách nhiệm, thế là thể hiện chủ quyền chứ còn gì nữa! Nhưng sinh động hơn và hết sức quý giá là những quyết định của vua, của Nhà nước đã được thực hiện một cách đầy đủ, triệt để và hết sức tự giác bởi chính những người dân thường đảo Lý Sơn.<a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none; text-underline: none; text-line-through: none" href="http://www.vuhuusan.net/tailieuphaply.htm#_ftn3" name="_ftnref3"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[3]</span></span></a></p>
<p class="MsoNormal">&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal">Đấu tranh trên trường chữ nghĩa</p>
<p class="MsoNormal">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Việc đấu tranh trên trường chữ nghĩa thật là cần-thiết. </p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in">Giáo Sư Nguyễn Quang Ngọc có lần nói rằng: Kinh nghiệm cho thấy các học giả TQ rất sợ thủ thuật bịp bợm của họ bị đưa ra ánh sáng. Năm 1996, cuốn "Chủ quyền trên quần đảo Paracels và Spratlys" của bà Monique Chemilier Gendreau, một luật sư, giáo sư có tên tuổi ở Pháp và nước ngoài ra mắt bạn đọc đã làm cho các học giả TQ hoảng hốt và khẩn khoản mời bà sang Bắc Kinh nói là để cung cấp thêm tài liệu. Bà đã đến Bắc Kinh và đối mặt với mấy chục học giả TQ. Bà cho biết, học giả TQ không giải đáp được những vấn đề do bà đặt ra, không đưa ra được bất kỳ bằng chứng nào có sức thuyết phục. </p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in">Nhân cuộc phỏng-vấn, Ông nói đến một cuốn sách chưa được xuất bản của một người quá cố, một chuyên gia về Hoàng Sa- Trường Sa. Đó là công trình nghiên cứu của ông Phạm Kim Hùng, nguyên chuyên viên Bộ Ngoại giao.&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in">&#133; TQ có một học giả lớn tiếng nhất về việc khẳng định chủ quyền quốc gia của họ ở Hoàng Sa, đó là ông Hàn Chấn Hoa. Ông ta có một cuốn sách gọi là Ngã quốc Nam hải chư đảo (tổng hợp các nguồn sử liệu về các đảo ở biển Nam). Thực ra TQ đã làm việc này từ lâu, nhưng có thể nói, đến Hàn Chấn Hoa mới tổng kết lại một cách có hệ thống, cho nên nguy hiểm ở chỗ là sau khi "cái được gọi là công trình nghiên cứu" của Hàn Trấn Hoa ra đời thì rất nhiều người tin là chủ quyền của TQ là hiển nhiên. Trong đấu tranh khẳng định chủ quyền của ta thì đấu tranh phản bác cuốn sách của Hàn Chấn Hoa là một trong những nội dung hết sức quan trọng. Phạm Kim Hùng là một chuyên gia mấy chục năm nghiên cứu về Hoàng Sa, đã viết một cuốn sách để phản bác lại Hàn Chấn Hoa, bóc trần những luận điểm sai trái, để mọi người biết rằng Hàn Chấn Hoa chỉ lợi dụng danh nghĩa khoa học để che đậy, xuyên tạc sự thật. Tiếc rằng cuốn sách chưa kịp in ông đã qua đời.&nbsp;</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in">Giáo Sư Nguyễn Quang Ngọc hiện lưu-trữ bản thảo cuốn sách của của ông Phạm Kim Hùng. Chúng ta hy-vọng ông Ngọc có điều kiện để xuất bản. Đây cũng sẽ là một trong những tài liệu rất hữu ích.</p>
<p class="MsoNormal">&nbsp;</p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Những đòn chí-mạng trên mạng lưới toàn-cầu Internet</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Vài ba thập-niên trước, khi bước vào thư-viện tìm tài-liệu chủ-quyền trên Biển Đông, người ta chỉ thấy toàn là sách của Trung-Hoa, hay của những tác-giả hải-ngoại gốc Trung-Hoa. Văn-đàn pháp-lý vì thế coi như chỉ có sự độc-diễn của một phía với các tài-liệu hư hư, thực thực để Trung-Hoa tác-tạo hỏa-mù như phần trên của bài viết đã đề-cập.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Thế nhưng, độc-hại của lớp khói không được bền lâu vì là đồ giả-tạo nên dễ bị tan-biến rất nhanh. Trong thập-niên 1990 qua đầu thế-kỷ 21, mọi sự thực về chủ-quyền hải-phận Biển Đông đã được trình-bày rõ rệt hơn xưa.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Rồi mới đây, những đòn chí-tử cho Trung-Cộng xuất-hiện trên mạng lưới điện-toán toàn-cầu Internet. Rất nhiều Websites được thành-lập cung-cấp đầy đủ mọi dữ-kiện pháp-lý cũng như tin-tức hoạt-động quân-sự cũng như chính-trị liên-hệ đến Biển-Đông. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Thế-giới văn-minh siết bao súc-động khi được tin hạm-đội của họ nhiều lần tiến xuống xâm-lăng Trường-Sa. Rồi Trung-Cộng mập mờ lấy danh-nghĩa đưa phái-đoàn khoa-học Liên-hiệp-quốc đi khảo-sát, để bất-thần tiến-chiếm Trường-Sa, bắn chìm nhiều chiến-hạm Việt-Nam Cộng-Sản. Sau này Trung-Cộng còn làm kiểu "mèo khóc chuột", tuyên-bố rất tiếc là biến-cố đã xảy ra. Liên-hiệp-quốc cũng lên tiếng thanh-minh không có công-tác khảo-sát nào ở Trường-Sa. (South China Sea Treacherous Shoals, tạp-chí Far Eastern Economic Review, 13 Aug 92: 14-17.). Tất cả diễn-tiến như vậy với đầy đủ chi-tiết loan ra rất nhanh nhờ hệ-thống mạng-lưới điện-toán toàn cầu. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Có các trang Web nói lên những sự thực pháp-lý khách-quan nhưng lại tác-dụng như những "cái xương lớn mắc trong cổ họng" của kẻ Xâm-lược. Sách báo xem xong thì được gập lại bỏ vào tủ, nhưng các Websites lúc nào cũng hiện-diện cả ngày đêm trên màn ảnh, kéo dài nhiều năm tháng, lại được thông-tin tức-khắc đi khắp hoàn-cầu. Đặc biệt là khi bài vở được trình-bày khéo léo, những tư-tưởng hợp-lý rất dễ thuyết-phục mọi người. Những lời ngụy- biện phơi-bày thường-trực trên mạng lưới một thời-gian sau sẽ không còn che dấu được và mặt trái xấu xa bị lộ ra ngoài dễ dàng. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Hoàng-Sa, Trường-sa và Biển Đông là của Việt-Nam. Trong khi người Việt-nam chúng ta rất ít chú-tâm xây-dựng các trang Web để trình-bày những lý-lẽ chủ-quyền của dân-tộc mình thì rất đông các nhà thức-giả ngoại-quốc lại quan-tâm đến việc sử-dụng phương-tiện này để thông-tin và bình-luận về tình-trạng Biển Đông. Họ rất e ngại cho sự bất ổn trong vùng. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Ý-thức được rằng nếu muốn thế-giới được sống trong hòa-bình, con người thuộc mọi chủng-tộc phải cổ võ hòa-bình, khuyến-khích nhau bảo-vệ luật-pháp và răn đe những thành-phần hiếu-chiến. Hiện nay hầu hết các Đại-Học Luật-Khoa, các Cơ-quan Quốc-tế về Văn-hóa, các Tổ-hợp Luật-pháp đều có Websites để thực-thi những nguyện-vọng tương-tự.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 11pt">Chúng ta cần cảm ơn những người có lòng như vậy. Khi say mê đọc những bài viết.trên lưới, chúng tôi hiểu ra những lợi điểm to lớn của Internet. Những bức màn tre bưng-bít, những bức màn sắt tù đày và không lâu nữa, những bức tường lửa lần lượt theo nhau bị sụp đổ. Người Tàu nào mà chả sửng sốt khi xem thấy những câu mở đầu cho một website về luật-pháp mà chúng tôi xin đăng nguyên-văn như sau: &nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Questions about History ?</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Here are several comments on the issue of South China Sea: </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">(1) By the law of sea, merely discovery of an island does not guarantee a sovereignty. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">(2) The first time China sent its stationed troop to Nansha Islands (Taiping) is 1910 by the navy minister Li Zhun. Due to the Xin Hai Revolution of 1911, they starved there soon. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">(3) The sovereignty over one island does not guarantee the sovereignty over uninhabited surrounding islands unless the military takes regular patrol around them. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">(4) The sovereignty over one island grants China the territory claim 12 nautical miles around it, not the entire sea. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">(5) Zeng Mu An Sha is 20 meters below sea-level. It can not be a basis for a territory claim. Its original name is James, after its discoverer. Zeng Mu was made up arbitarily by the ROC government. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">(6) The PRC declared in 50's (signed by Zhou En Lai), that Yellow Sea and Bo Hai are China's inner seas, East Sea (including the Taiwan Strait) and South Sea are open waters. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">(7) China has been asked by foreign countries the historical or legal background for Chinese maps about the South Sea. The PRC foreign ministry has not been able to give an answer.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Trung-hoa rất khó mà đối-đáp lại được những lý-lẽ danh thép kể trên. Qua nhiều năm dài, trang Web vẫn hiển-hiện trên lưới, những dòng chữ gợi sự hồI-tâm chuyển-ý vẫn còn đó như thách-thức, như chờ đợi mà vẫn không có hồi-đáp thỏa đáng. Chỉ ngượng ngùng thôi, những người Tàu hung-hăng nhất, thích cãi lý nhất cũng bớt hung-hăng, giảm tính cãi bướng đi ít nhiều.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Khôn không qua lẽ, khỏe chẳng qua lời. Đó là lý-do người ta có thể hiểu tại-sao Trung-Cộng phải tạm ngưng không giám trâng-tráo lấn chiếm thêm Hải-đảo cũng như Hải-phận của các nước láng giềng.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Luật Biển LHQ, một ý-thức mới về trật-tự trên biển</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Luật Biển Liên-Hiệp-Quốc ra đời là một biến-cố trọng-đại. Vì ý-thức được sự cần-thiết phải có một nền trật-tự chung trên đại-dương cho nhân-loại, nhiều quốc-gia đã đồng-ý cùng nhau đưa ra một dự-án quản-trị biển cả toàn-cầu. Sau 15 năm cố gắng làm việc của nhiều cơ-quan quốc-tế, gặp nhiều khó khăn về thương-thuyết, dự-thảo Luật Biển của Liên-hiệp-Quốc sau ba lần đại-hội, được ra đời vào năm 1982.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Trong niềm hy-vọng những tốt đẹp trên biển cả sẽ đến với nhân-loại, các luật-gia John R. Stevenson và Bernard H. Oxman đã thở phào nhẹ nhõm khi viết rằng: "Tất cả những cố-gắng trước đây trong suốt cả thế-kỷ để đưa toàn-thể thế-giới ngồi lại với nhau trong một sự đồng-ý vững-chắc về biển cả đã tan vỡ. Thỏa-ước Liên-hiệp-Quốc về Luật Biển là điều cận-kề nhất mà loài người chúng ta có thể tiến đến với nhau. Mục-tiêu đó nay đang ở trong tầm tay". (The Future of the United Nations Convention on the Law of the Sea, trong The American Journal of International Law, Vol. 88, July 1994: 488-499.)</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Thỏa-ước "United Nations Convention on the Law of Sea", viết tắt là UNCLOS hay LOS Convention, công-bố ngày 10-12-1982 tại Montego Bay, Jamaica đã được 159 quốc-gia ký-nhận (signatures) và như tiên-liệu, đã có đủ 60 quốc-gia duyệt-y (ratification.) Kể từ ngày 16-11-1994, thỏa-ước UNCLOS trở thành luật và được mang ra thi-hành.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Nội-dung của thỏa-ước rất lý-tưởng như cho rằng "Biển cả là tài-sản chung của Nhân-Loại". Sự thi-hành Luật Biển lại dựa hoàn-toàn trên tinh-thần thiện-chí của mọi quốc-gia trên thế-giới. Có nhiều điều-luật cần-thiết còn thiếu sót. Một số điều chưa được trình-bày rõ ràng hay không phù-hợp với thực-tế sẽ dần dần được các cơ-quan luật-pháp nghiên-cứu, đề-nghị điền-khuyết hay tu-chỉnh như đã từng được làm từ mấy chục năm qua ...</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Các nước Đông-Nam-Á quanh vùng Biển Đông đều là hội-viên LHQ., đã cùng ký-kết thi-hành Luật Biển. Trừ ra nước Tàu từ xưa vẫn ngoan-cố, nay lại chưa chấp-nhận việc thi-hành. Để cho tình-trạng thêm phần căng thẳng, Trung-Cộng ban-hành Luật Lãnh-hải 1992 riêng cho họ. Luật này ngăn chặn việc thi-hành Luật Biển LHQ về chủ-quyền hải-phận của những quốc-gia duyên-hải bằng cách tuyên-cáo một cách trâng tráo : Biển Đông là nội-hải hay lãnh-hải Trung-Hoa. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Tuy vậy, đa-số giới luật-gia tin-tưởng rằng nhờ số lượng "đa-số áp-đảo" các quốc-gia ký-nhận, rồi ra Luật Biển sẽ được toàn-thể cộng-đồng nhân-loại tôn-trọng và thi-hành hầu mang lại hòa-bình trên biển. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Yếu-tố Pháp-lý chính-yếu: Luật Biển</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Theo Luật sư Nguyễn Hữu Thống: Các tài liệu sách báo, họa đồ, các chứng-tích lịch sử hay nhân chứng, v.v..., phải có tính cách khách quan xác thực. Dầu sao các tài liệu này không có giá trị bằng các yếu tố khoa học như địa lý, địa hình, địa chất, sinh thực học, khí hậu, v.v... Nhất là nó không thể đi ngược lại các điều khoản của Công-Ước về Luật Biển và các nguyên tắc thành văn của Luật Tục Lệ Quốc Tế do các tòa án quốc tế áp dụng từ nhiều thập kỷ nay.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Tinh thần của Luật Biển là trọng pháp (law) và công-bằng (equity). Phương thức giải quyết tranh chấp theo Luật Biển là điều đình, hòa giải, thỏa hiệp, sau mới nhờ đến tòa án trọng-tài hay tòa án quốc tế. (Xin xem bài "Vấn-đề Hoàng-Sa - Trường-Sa". Luật sư Nguyễn Hữu Thống. Báo Đi Tới, Số Đặc-Biệt Biển Đông, Canada, 1999).</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Hai luật-gia Mark J. Valencia và Jon M. Van Dyke, sau khi bàn-luận đến những lợi-điểm của Việt-Nam trong việc ký-nhận thi-hành Luật Biển LHQ., cũng khuyến-cáo Việt-Nam nên tu-chỉnh lãnh-hải lịch-sử (historic waters) và thu bớt phần nội-hải bằng cách duyệt lại các đường căn-bản baselines. (Vietnam's National Interests and the Law of the Sea, trong Ocean Development and International Law, Vol.25, Apr/Jun 1994: 217-250.)</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Khối-lượng chất xám của chúng ta ở hải-ngoại rất đáng kể, nhưng hình như địa-bàn phục-vụ của trí-thức Việt-Nam đã có một khoảng trống vắng quan-trọng về Luật Biển. Cho đến nay số lượng sách vở trình-bày các lý lẽ chủ-quyền hải-đảo của chúng ta tuy thật là hợp lý, rõ ràng; nhưng còn quá ít ỏi. Vì chính-nghiã ta ngời sáng, chúng tôi đặt hy-vọng rằng một khi thế-hệ các luật-gia trẻ ra tay, tiếng nói của chúng ta về chủ-quyền Việt-Nam trên Biển Đông sẽ có ảnh-hưởng mạnh mẽ hơn. Chỉ cần chừng vài chục thí-sinh Việt-Nam nộp luận-án Tiến-Sĩ luật-khoa về "pháp-lý hải-phận&#8221; là cán cân dư-luận thế-giới văn-minh lập-tức nghiêng về phía Việt-Nam. Lý-lẽ pháp-lý đã chính-xác, tiếng nói sẽ vang vọng rất xa!</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Lãnh-thổ và lãnh-hải.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Học địa-lý, chúng ta biết rằng diện-tích lãnh-thổ nước Việt-Nam đo được 329,600 km2. Ngoài lãnh-thổ đó, một khu-vực trên biển từ bờ trở ra khơi 12 hải-lý (hl) đã được nhận là lãnh-hải (territorial waters.) Chủ-quyền quốc-gia trên lãnh-hải giống như chủ-quyền trên lãnh-thổ. Vào năm 1964, chính-quyền cộng-sản Việt-Nam tuyên-bố lãnh-hải 12 hl.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Ngày nay, chúng ta cần biết thêm về một vùng hải-phận rộng lớn hơn nữa ở ngoài biển thuộc chủ-quyền khai-thác của dân Việt-Nam ta: Khu-vực Biển Kinh-tế Đặc-quyền 200 hải-lý mà danh-từ Luật Biển gọi là Exclusive Economic Zone- EEZ.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Vào ngày 12-5-1977, Chính-quyền CHXHCN Việt-Nam ra tuyên-cáo những hải-phận như sau:</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">- 12 hl lãnh-hải</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">- 12 hl vùng cận-hải phía ngoài lãnh-hải</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">- 200 hl vùng biển kinh-tế tính từ ngoài đường căn-bản lãnh-hải (200NM from territorial waters base line.)</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Website của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã ghi: &#8220;Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 thì nước Việt Nam ngày nay không chỉ có phần lục địa nhỏ hẹp &#8220;hình chữ S'' mà còn có cả vùng biển rộng lớn gần l triệu km2 gấp 3 lần diện tích đất liền.&#8221; http://www.cpv.org.vn/details.asp?topic=67&amp;subtopic=166&amp;leader_topic=278&amp;id=BT1850437252.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Việt-Nam là quốc-gia có đường duyên-hải khá dài, tỷ-lệ bờ biển/ diện-tích lãnh-thổ hơn 1 phần trăm. Trong khi đó, Trung-Cộng có rất ít bờ biển, tỷ-lệ chỉ đạt tới 1.5 phần ngàn mà thôi. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Theo Luật-sư Mark J. Valencia, Việt-Nam ước-lượng vùng EEZ rộng tới 210,600 dậm vuông (square nautical-mile) trải dài ra trên Biển Đông. Diện-tích này tính ra 722,338 km2, tức rộng hơn hai lần đất liền, (225% so với lãnh-thổ.)</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Theo bảng liệt-kê cung-cấp bởi vị Luật-sư này, Việt-Nam có chiều dài bờ biển 2,828 hải-lý (tức 5,237 km, hải-phận EEZ rộng 210,600 hl vuông, không thua Trung-Cộng bao nhiêu.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Dự-thảo Luật Biển Liên-hiệp-Quốc (United Nations Convention on the Law of the Sea - UNCLOS hay LOSC) quy-định rằng hải-phận dành cho quốc-gia duyên hải quản-trị và hải-đảo cũng có những hải-phận như đất liền. Tại Biển Đông, nước nào có chủ-quyền trên các đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa sẽ được sở-hữu những tài-nguyên trong các hải-phận liên-hệ. Những vùng biển như vậy rất to lớn, đặc-biệt lại nằm trong khu-vực có nhiều tiềm-năng dầu-khí. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Đối với Việt-Nam, đặt giả-sử nếu ta kiểm-soát trọn-vẹn cả Hoàng-Sa lẫn Trường-Sa, hải-phận khai-thác kinh-tế (EEZ) của quốc-gia ta sẽ lớn gấp 4, 5 lần lãnh-thổ hiện-thời trong lục-địa. Tài-nguyên dưới biển nếu khai-thác hết, có lẽ nhiều hơn sản-lượng thu-đạt trên đất liền. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Suy-luận theo tình-trạng hiện nay, cả lý lẫn tình, Việt-Nam không thể nào đòi hỏi quyền kiểm-soát toàn-thể tất cả Hoàng-Sa lẫn Trường-Sa. Tuy vậy nếu mọi phe-phái tôn-trọng Luật Biển, nước ta cũng sẽ được thụ-hưởng tài-sản một vùng Biển Đông rộng lớn, với những nguồn tài-nguyên phong-phú rất đáng kể. Theo Giáo-Sư Lê-Chỉ-Thảo và các nhà Địa-Lý-Học khác, Việt-Nam có tới một triệu cây số vuông mặt biển thuộc đặc-quyền kinh-tế.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Dưới đây, chúng tôi xin nêu ra một số ưu-điểm của Việt-Nam trong tinh-thần tôn-trọng Luật Biển. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Hoàng-Sa là chỗ nối dài của Duyên-hải miền Trung</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Luật Biển Liên-hiệp-quốc có điều-khoản quan-trọng bàn về thềm lục-địa, đặc-biệt dành ưu-thế cho các quốc-gia có đáy biển thoai-thoải nối dài ra khơi.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Sách Địa-lý Việt-Nam thường ghi-nhận một cách tổng quát là biển miền Trung sâu, bờ biển dựng đứng. Nếu chỉ đọc và hiểu sơ sài như vậy thì thật là tai-hại vì có người đã từng nghĩ rằng Hoàng-Sa không liên-hệ gì tới thềm lục-địa Việt-Nam. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Sự thực, nhận-xét này chỉ có nghĩa tương-đối khi biển miền Trung được các tác-giả mang ra so-sánh với biển miền Bắc và biển miền Nam mà thôi. Đi sâu vào chi-tiết, chúng ta thấy chỉ có một đoạn ngắn bờ biển miền Trung khá dốc tại Bình-Định, Phú-Yên và Khánh-Hoà. Suốt từ Thanh-Hoá chạy qua các tỉnh Nghệ-An, Hà-Tĩnh, Quảng-Bình, Quảng-Trị, Thừa-Thiên, Quảng-Nam cho tới Quảng-Ngãi; biển rất nông cạn. Tình-trạng đáy biển chạy thoai-thoải ra ngoài khơi, gần tương-tự như tại vịnh Bắc-Việt. Xa xa hơn về phía Nam, kể từ Mũi Dinh Ninh-Thuận qua Bình-Thuận, đáy biển trở lại nông cạn hơn và thoai-thoải nối dài ra phiá Trường-Sa.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Nếu lại quan-sát địa-hình đáy biển, người ta thấy quần-đảo Hoàng-Sa nằm sát với thềm lục-địa của Việt-Nam. Tuy toàn thể khu-vực quần-đảo nổi cao hơn vùng biển vây quanh nó, nhưng nền đất Hoàng-Sa được nối thẳng vào thềm lục-địa Việt-Nam như là qua một cái cửa ngõ thông vào vùng cù-lao Ré và bờ biển Quảng-Ngãi. Hành-lang đó khá nông, chỗ sâu nhất chỉ chừng 500 m. Trong khi đó, đáy biển đột ngột lại sụt xuống về phía Trung-Hoa, độ sâu lên tới hàng ngàn mét, rồi 2000m, 3000m hay hơn nữa.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Những hải-đồ có ghi độ sâu đáy biển chứng-minh rõ rệt quần-đảo Hoàng-Sa là phần nối dài của lục-địa Việt-Nam. Đường đồng-thâm (hay đẳng sâu, iso-depth contour) 1000 thước bao kín các vùng về phía Bắc và Đông, trong khi các đường nông cạn lại mở rộng qua phía Việt-Nam theo chiều hướng Tây Tây Nam. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Nói một cách khác, nếu mực nước biển hạ xuống chừng 600 tới 700 m thì Hoàng-Sa dính vào Việt-Nam như một khối đất liền và xa cách hẳn Trung-Hoa bằng một vùng biển nước sâu tới cả 1,000m.</span></p><span style="FONT-SIZE: 11pt">
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Qua thế-kỷ 21 mới này, Trung-Cộng đang có âm-mưu thâm-độc gì? </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Sau vụ biên-giới trên đất liền, chắc-chắn Trung-Cộng sẽ tiếp-tục âm-mưu thâm-độc xâm-lăng hải-phận Việt-Nam.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Trung-Cộng đã chia cho Cộng-sản Hà-Nội 53% Vịnh Bắc-Việt (tức là Việt-Nam bị thiệt 9%, khoảng 11.000 km2). Đường phân ranh không phải là đường trung-tuyến theo Luật Biển Liên-Hiệp-Quốc (tức giữa hai đường lãnh-hải 12 hải-lý). Bắc-kinh buộc Hà-Nội phải công-nhận đảo Hải-Nam như là một lục-địa. Trong khi đó, không những họ chẳng chịu kể Bạch-long-Vĩ của Việt-Nam là một hòn đảo mà còn hạ giá-trị đảo này xuống cho ngang hàng với một hòn đá ngầm, chỉ có hải-phận nhỏ bé 3 hải-lý cho đặc quyền kinh-tế. Ba ngàn đảo Việt-Nam hoàn-toàn không tính cho vùng lãnh-hải. Ngoài ra, Trung-Cộng còn cố ý ngăn-chặn không cho Việt-Nam được đưa ra một yếu-tố thật quan-trọng trong Luật Biển Liên-Hiệp-Quốc là sự nối-tiếp địa-hình của đất liền chạy dài ra ngoài biển.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Theo các chuyên-gia Luật Biển, Việt-Nam có đầy đủ yếu-tố căn-bản như vậy để hưởng đặc-quyền chiều rộng thềm lục-địa và hải-phận kinh-tế mở rộng cho tới 350 hải-lý (Vietnam's National Interests and the Law of the Sea, Mark J. Valencia &amp; Jon van Dyke, trong Ocean Development and International Law, Apr/ Jun 1994: 228-229.)</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Việc phân chia hải-phận Vịnh Bắc-Việt cũng như việc xác-định chủ-quyền Quốc-gia chúng ta trong những vùng đất, vùng biển nào khác đều quan-trọng. Một chính-quyền chân-chính phải quyết-tâm bảo-vệ lãnh-thổ. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Công-pháp Quốc-Tế đứng về phía Việt-Nam. Trong tinh-thần thượng-tôn luật-pháp, ý-thức của nhân-loại đang gia-tăng về một trật-tự cần-thiết trên biển; thời-gian hiển-nhiên cũng đứng về phía dân-tộc chúng ta. Điều cần-thiết lúc này là chúng ta phải làm sáng-tỏ chính-nghiã chủ-quyền của chúng ta cùng cộng-đồng thế-giới. Nếu vì đối-phương hiếp-đáp, áp-bức trong bàn hội-nghị mà cuộc điều-giải bất- thành, Việt-Nam cần đưa vụ lấn-áp Hải-phận vịnh Bắc-Việt cũng như những tranh-chấp các quần-đảo Hoàng Sa Trường Sa ra trước Tòa-Án Quốc-Tế. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Sau nữa, toàn dân trong cũng như ngoài nước hy-vọng rằng nhà cầm-quyền Cộng-Sản Việt-Nam không nên muối mặt ký-kết thêm hiệp-định bất bình-đẳng một lần nữa. Dù chót đã hứa với Bắc-Kinh sẽ thoả-thuận về những tranh-chấp Biển Đông trong những năm 1990- 2000, Cộng-sản Hà-Nội nên hồi-tâm lại, đặt quyền-lợi quốc-gia trên hết. Hãy phản công lại mới được!</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Hoàng-Sa và việc tranh-chấp hải-phận</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Quần-đảo Hoàng-Sa đã bị Trung-Cộng cưỡng-chiếm, nhưng Hoàng-Sa chưa phải hoàn-toàn mất hẳn nếu như người Việt-Nam chúng ta còn ý-chí phục-hoàn đất cũ, không chịu buông xuôi. Biến-cố Hoàng-Sa 1974 cần được ngàn đời nhắc nhở để nung nấu lòng yêu nước của con dân Hồng-Lạc chống kẻ thù truyền-kiếp phương Bắc.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Vì Tiên Lễ Hậu Binh, Việt-Nam sẵn sàng thương-thuyết trên căn-bản Công-pháp Quốc-tế. Là một dân-tộc kiên-trì sau cả ngàn năm Bắc-thuộc mà còn dành lại được quyền tự-chủ, chúng ta không quản-ngại gì trong kế-sách trăm năm thu-hồi lãnh-thổ và hải-phận đã mất. Tâm-lý của kẻ xâm-lược là vội vã đánh nhanh, chiếm lẹ. Mục-đích của kẻ thực-dân là khai-thác tài-nguyên, nên ước mong của Trung-Công là cố gắng đẩy mạnh cuộc thương-thuyết cho hoàn-tất sớm sủa để hưởng lợi. Như đã từng đề-cập ở trên, thời-gian là yếu-tố đứng về phía chúng ta. Không vì ảo-tưởng miếng mồi thơm ngon mà sa vào cái bẫy sập của kẻ thù. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Một khi hạ quyết-tâm, không những ta đã bền chí trường-kỳ tranh-đấu mà còn làm đối-phương không thể nào ăn ngon ngủ yên, lúc nào cũng sợ bị quấy-phá. Như vậy, chúng làm sao an-tâm trong việc khai-thác tài-nguyên cho được. Chúng ta không tài giỏi đã để mất Hoàng-Sa, nhưng hãy bảo nhau biến Hoàng-Sa thành một miếng xương lớn móc trong cổ họng con hạm Trung-Hoa, khiến nó một ngày nào đó không nuốt trôi đành lòng nhả ra mà thôi. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Trời cao có mắt, một khi nước Tàu đại-loạn, Việt-Nam hãy chờ đợi để lấy lại mảnh đất của mình đã mất. Quá-khứ cho biết suốt dòng lịch-sử, nước Trung-Hoa ít khi được hưởng thái-bình lâu dài. Quốc-gia ta cần nghiên-cứu một kế-sách tái-chiếm này cho hoàn-bị. Những vị anh-hùng trong tương-lai sẽ hiên-ngang trở lại Hoàng sa. Sẵn có địa-lợi vì Hoàng-Sa gần sát với quân-cảng Việt hơn Tàu, một khi thiên-thời và nhân-hoà hợp nhất, việc này tưởng như khó khăn mà sẽ đương-nhiên xảy ra . </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Thượng-sách là như vậy, nhưng theo suy-luận của một số người thông-thạo Luật Biển thì Việt-Nam cũng không thiệt-hại hay mất mát nhiều về hải-phận (cho dù Trung-Cộng xâm-chiếm mất Hoàng-Sa) nếu như các phe thương-thuyết đều tôn-trọng Luật Biển LHQ. Những ưu-thế của Việt-Nam đã được trình-bày ở trên, riêng Hoàng-Sa nằm trong một số trường-hợp đặc-biệt như sau:</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">- Việc chiếm-đóng bằng bạo-lực không đưa đến chủ-quyền.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">- Hoàng-Sa gồm nhiều đảo nhỏ, không có cư-dân, không tự-túc kinh-tế nên không được hưởng quy-chế hải-phận đặc-quyền kinh-tế.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">- Nền đất quần-đảo Hoàng-Sa nằm trên thềm lục-địa, lại đặc-biệt nối liền với Cù-lao Ré và tỉnh Quảng-Ngãi. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">- Yếu-tố thời-gian rõ rệt đang giúp cho Việt-Nam một thế đứng vững mạnh hơn trên trường quốc-tế công-pháp. Trong khi đó thế-giới luật-gia lại đang gia-tăng áp-lưc nặng nề lên phía Trung-Cộng. Hoả-mù tuyên-truyền của họ trong những thập-niên 1970, 1980 nay đã đang tan rã thành từng mảng. Chủ-quyền Việt-Nam trên Hoàng-Sa Trường-Sa thực-sự là một chính-nghiã sáng ngời.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Chính-nghiã tất thắng</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Như Kim-cương không bao giờ hư nát, như Vàng không sợ lửa; chủ-quyền Việt-Nam trên Hoàng-Sa Trường-Sa là một chính-nghiã sáng ngời. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Lúc trước, chiến-thuật "Biển Người" của Trung-Cộng một hồi đã gây kinh-hoảng cho loài người. Ngày nay, thời-đại "màu đỏ máu" của Cộng-Sản bao trùm 1/3 nhân-loại thực-sự qua rồi. Đã đến lúc ánh sáng công-lý có khả-năng hoá-giải sách-lược "Biển Sách" nguỵ-tạo lịch-sử của Trung-Cộng. </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Lời kêu gọi của một vị Cựu Tổng-Hội-Trưởng Cựu Hải-Quân và Hàng-Hải VNCH ngày 27 tháng 3 năm 1997 sau đây khá thuyết-phục:</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">"Chúng tôi thành-khẩn kêu gọi toàn-thể đồng-bào cương-quyết và đồng-tâm trong nhiệm-vụ bảo-vệ chủ-quyền và tài-nguyên quốc-gia. Tùy theo khả-năng và hoàn-cảnh, chúng ta sẽ làm đủ mọi cách để các nguyện-vọng nói trên sớm được thoả-mãn. Chúng ta quyết không để mất một tấc đất hay tấc biển mà toàn dân Việt-Nam đã tạo-dựng, bảo-vệ và gìn giữ trong suốt bốn ngàn năm qua." </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Những Biến cố Mất-mát và Xâm-phạm hải-phận</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Chưa bao giờ trong Việt-Sử chúng ta bị mất quá nhiều chủ-quyền lãnh-thổ, đặc-biệt là mất mát hải-phận nhiều như vậy trong ít năm vừa qua. Không những Việt-Nam thiệt hàng chục ngàn Km2 tại Vịnh Bắc-Việt cho Trung-Cộng, nước ta còn mất nhiều ngàn Km2 cho Thái-Lan tại Vịnh Phú-Quốc và mất mát nhiều chục ngàn Km2 nữa cho Nam Dương tại vùng biển phía Nam Côn-Sơn.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Sự mất mát hải-phận rất đau lòng nhưng không phải sự mất mát tạo hòa-bình cho người dân Việt làm ăn yên-ổn. Trung-Cộng vẫn tiếp-tục lấn-áp qua nhiều hình-thức khác nhau:</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt 0.5in; TEXT-INDENT: -0.25in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">-<span style="FONT: 7pt 'Times New Roman'">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </span>Trung Quốc phản-đối, cản-trở không muốn cho Việt-Nam gọi đấu thầu các lô dầu khí Phú Khánh, ngoài bờ biển Phú-Yên Khánh-Hòa. Căn cứ vào luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, khu vực này hoàn toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt 0.5in; TEXT-INDENT: -0.25in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">-<span style="FONT: 7pt 'Times New Roman'">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </span>Trung Quốc mang dàn khoan KANTAN 3 đến hoạt động tại khu vực có tọa độ 17 độ 26 phút 42 giây Vĩ độ Bắc, 108 độ 19 phút 05 giây Kinh độ Đông, cách bờ biển Việt Nam 63 hải lý, cách bờ biển đảo Hải Nam, Trung Quốc 67 hải lý từ ngày 19/11 đến 31/12/2004. Cũng căn cứ vào luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, khu vực này hoàn toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt 0.5in; TEXT-INDENT: -0.25in"><span style="FONT-SIZE: 11pt">-<span style="FONT: 7pt 'Times New Roman'">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </span>Trung Quốc gửi tàu thuyền xâm phạm chủ quyền vùng biển VN. Từ đầu năm 2004 đến nay, riêng Bộ đội Biên phòng Đà Nẵng đã phát hiện 1,017 lượt tàu thuyền nước ngoài xâm phạm chủ quyền vùng biển Việt-Nam, uy hiếp ngư dân làm ăn trên biển. Trong đó đã gây ra 89 vụ tông va, làm chết và mất tích 23 người, bị thương 6 người, chìm và hư hỏng 10 phương tiện, 12 thúng câu, mất cắp trên 13.000m lưới các loại... Ngoài Đà Nẵng, những vùng khác không biết tình-hình ra sao?</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 11pt">Đi tìm Bản-đồ Hải-phận.</span></p>
<p class="MsoNormal">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Những chuyện lộn-xộn với Trung-Quốc sẽ còn tiếp-tục. Địa-điểm này hay địa-điểm kia có nằm trong hải-phận Việt-Nam hay không? Chúng ta cần phải có tấm bản-đồ hải-phận mới có thể xác-nhận được. </p>
<p class="MsoNormal">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Công-việc vẽ bản-đồ Đất Nước (kể cả hải-phận) là bổn-phận của chính-quyền. Ngay khi vào học lớp Vỡ lòng hay Đồng Ấu gần trăm năm trước, học trò Việt-Nam nào cũng thấy tấm bản-đồ nước ta trên vách tường. Ranh giới &#8220;Đất&#8221; như vậy đã có từ lâu, còn ranh-giới &#8220;Nước&#8221; cho đến hôm nay vẫn chưa ai nhìn thấy!</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in">Mọi tài-liệu về địa-lý, chính-trị, giáo-dục trong nước Việt-nam đều đã xác quyết vùng hải-phận Việt-nam rộng lớn gần l triệu km2 tức gấp 3 lần diện tích đất liền.&#8221; Nhà Nước đã và đang cố-gắng vẽ địa-đồ chữ &#8220;S nhỏ 329,560km2&#8221;cho thêm chính-xác. Bản-đồ chữ &#8220;S lớn 1,329,560 km2&#8221; và bản-đồ hải-phận Việt-Nam 1,000,000 km2 cũng phải cho nhân-dân biết mà cùng nhau bảo-toàn Đất Nước Việt-Nam </p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-INDENT: 0.5in">Truy lùng sách vở tài-liệu, người ta đã tìm thấy một số bản-đồ được vẽ một cách phỏng chừng bởi người nước ngoài. Cá-nhân chúng tôi cũng từng vẽ một số sơ-đồ với các đường ranh giới hải-phận kinh-tế theo những giả-thuyết trong sách &#8220;Địa lý Biển Đông với Hoàng-Sa, Trường-Sa&#8221;.Để chấm dứt bài viết, chúng tôi mạo muội trình-bày một số bản-dồ hải-phận kiểu &#8220;giả-thuyết&#8221; như vậy và mong mỏi sớm thấy một bản-đồ chính-thức cho quốc-gia.</p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;<v:shape id=_x0000_s1029 style="WIDTH: 270.75pt; HEIGHT: 277.5pt" type="#_x0000_t75" coordsize="21600,21600"> <v:imagedata src="tailieuphaply_files/image004.gif" o:title="image005"></v:imagedata></v:shape></span><v:shape id=_x0000_s1028 style="WIDTH: 275.25pt; HEIGHT: 277.5pt" type="#_x0000_t75" coordsize="21600,21600"><v:imagedata src="tailieuphaply_files/image005.gif" o:title="image006"></v:imagedata></v:shape></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="COLOR: black">&nbsp;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><i>Bản-đồ Hải-phận kinh-tế EEZ trong giả-thuyết: Hình &nbsp;trái: Việt-Nam sở-hữu cả hai quần-đảo Hoàng-Sa Trường-Sa, và không có sự tranh chấp hải-phận với các quốc-gia lân-bang. Hình phải: Việt-Nam sở-hữu tối-đa tới 350 Hải-lý chiều rộng vì sự nối dài của đáy biển và khi các đảo Hoàng-Sa/ Trường-Sa không đủ tiêu-chuẩn tính-toán EEZ theo Luật Biển LHQ.</i></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: justify"><i>&nbsp;</i></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><v:shape id=_x0000_s1027 style="WIDTH: 270.75pt; HEIGHT: 355.5pt" type="#_x0000_t75" coordsize="21600,21600"><v:imagedata src="tailieuphaply_files/image006.jpg" o:title="image014"></v:imagedata></v:shape><v:shape id=_x0000_s1026 style="WIDTH: 234pt; HEIGHT: 356.25pt" type="#_x0000_t75" coordsize="21600,21600" o:borderbottomcolor="this" o:borderrightcolor="this" o:bordertopcolor="this" o:borderleftcolor="this"><v:imagedata src="tailieuphaply_files/image007.jpg" o:title="image015"></v:imagedata></v:shape></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center">Hình trái: Một đề-nghị phân-chia Hải-phận Biển Đông theo Tiến-sĩ Mark J. Valencia của East-West Center, Hawaii</p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in; TEXT-ALIGN: center" align="center"><i><span style="FONT-SIZE: 11pt">Hình phải: Họa-đồ Hải-phận Biển Đông theo &#8220;Vietnam Petroleum Block Claim&#8221;.</span></i></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-ALIGN: center" align="center"><v:shape id=_x0000_s1025 style="WIDTH: 524.25pt; HEIGHT: 747.75pt" type="#_x0000_t75" coordsize="21600,21600" alt=""><v:imagedata src="tailieuphaply_files/image008.jpg" o:href="http://www.monde-diplomatique.fr/cartes/IMG/arton599.jpg?SSImageQuality=Full"></v:imagedata></v:shape></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span lang="FR">Họa-đồ Hải-phận Biển Đông theo bài víết «&nbsp;</span><span lang="FR" style="FONT-SIZE: 12pt">Appétits rivaux en mer de Chine par Philippe Rekacewicz, Janvier 1997&nbsp;»</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span lang="FR">Hình trên: Tổng-quát Hải-phận Biển Đông. Hình dưới:Chi-tiết Hải-phậntrong khu-vực Trường-Sa.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="FONT-SIZE: 12pt"><a style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none; text-underline: none; text-line-through: none" href="http://www.monde-diplomatique.fr/cartes/spratlymdv1997"><span lang="FR">http://www.monde-diplomatique.fr/cartes/spratlymdv1997</span></a></span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-ALIGN: right" align="right"><i><span style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: blue">Vũ-Hữu-San</span></i></p>
<div style="mso-element: footnote-list"><br clear="all" />&nbsp; 
<hr align="left" width="33%" size="1">

<div id="ftn1" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoNormal"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none; text-underline: none; text-line-through: none" href="http://www.vuhuusan.net/tailieuphaply.htm#_ftnref1" name="_ftn1"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[1]</span></span></a> <span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Arial"><a style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none; text-underline: none; text-line-through: none" href="http://www.cpamedia.com/politics/china_soulth_sea_claims/"><u><span style="COLOR: blue">http://www.cpamedia.com/politics/china_soulth_sea_claims/</span></u></a></span> What grounds are there for making such claims? Where are the proofs, the "incontrovertible historical evidence" on which China now bases its claims for hegemony in the South China Sea? </p>
<p class="MsoNormal">Text copyright © Andrew Forbes / CPA 2001. This article was originally published in the Asian Wall Street Journal.</p>
<p class="MsoFootnoteText">&nbsp;</p></div>
<div id="ftn2" style="mso-element: footnote"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none; text-underline: none; text-line-through: none" href="http://www.vuhuusan.net/tailieuphaply.htm#_ftnref2" name="_ftn2"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 12pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">[2]</span></span></a> Trong Footnote 6, các tác-giả ghi rằng: The question of the exact purpose of the "U"-shape is unknown. The person who helped draw the line is reported to still be living in Nanjing, China. If the person is found, the question of why the line was drawn in such a way may be answered. See also Fu, A Study of the Legal Status of the ROC's Historical Waters.</div>
<div id="ftn3" style="mso-element: footnote">
<p class="MsoFootnoteText"><a title="" style="COLOR: navy; TEXT-DECORATION: none; text-underline: none; text-line-through: none" href="http://www.vuhuusan.net/tailieuphaply.htm#_ftnref3" name="_ftn3"><span class="MsoFootnoteReference"><span style="FONT-SIZE: 10pt; FONT-FAMILY: Times New Roman">[3]</span></span></a> <a href="http://www.vnn.vn/chinhtri/2004/02/47501/">http://www.vnn.vn/chinhtri/2004/02/47501/</a></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="FONT-SIZE: 13.5pt; COLOR: red">Phụ-bản </span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="FONT-SIZE: 10pt">-----------------</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-ALIGN: center" align="center">&nbsp;</p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-ALIGN: center" align="center">The French Annexation, and British Abandonment of Spratlies.</p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-ALIGN: center" align="center">Abandonment of Territorial Claims: The cases of Bouvet and Spratly Islands</p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-ALIGN: center" align="center"><span style="FONT-SIZE: 10pt">&nbsp;</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 10pt">The United Kingdom has been a party to many territorial dispute including spratley islands sovereignty. After the French announced the annexation of spratley Islands to Baria Province (Vietnam), they faced immediately the protest of the British Government. On 23 April 1930 the Foreign Office received the following telegram from the British Consul-General in Saigon, French Indo-China: "French announce annexation of Spratly or Storm Island which appears to be the identical island annexed by Great Britain in 1877. Local authorities state that they acted on orders from the French Foreign Office. Attention of local authorities has been drawn to apparent mistake verbally. Please send instructions as to further steps, if any, at Saigon." After 10 years long negotiation, with discussing and exchange of complex legal papers, French didn't get any change in the British decision about their Spatlys sovereignty.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 10pt">(e) Post-war Developments. The Second World War delayed any further detailed discussions of sovereignty over Spratly and neighbouring islands. The British claim had not abandoned. Then on 14 October 1917 a document, prepared by the Foreign Office in agreement with the Commonwealth Relation Office and the Colonial Office, was circulated to members of the Cabinet (Far Eastern (Official)) Committee to serve as a brief for the UK delegation to the Peace Conference with Japan, and was later approved as such. It read as follows:... On July 1933, the French Government notified HM Government of the assumption of French sovereignty over Spratley Island and certain other islands in the South China Sea, including Amboyna Cay. HMG did not accord recognition to this claim. In 1937 and 1938 the Japanese occupied certain islands in the group, and on 31 March, 1939, the Japanese Foreign Office issued a notice stating that the Spratley islands had long been ownerless, that Japanese nationals had established themselves there since 1917 and that the Japanese Government had decided to place them under the jurisdiction of the Governor General of Formosa. HMC informed the Japanese Government that they were unable to admit that the Japanese claim had any foundation in law.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 10pt">It is desirable to ensure that there should be a Provision in the Peace Treaty whereby Japan renounces any claims or rights to the islands of Spratley and Amboyna Cay. It would probably not be necessary to refer to those Islands by name: but care should be taken to ensure that they are covered by the wording of whatever clause or clauses provide for the renunciation by Japan of rights and claims to territory outside 'the four islands and adjacent islands'.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 10pt">HMG have a claim to Spratley which has never been formally abandoned, but they are not prepared to contest the French claim to sovereignty which is considered to be good in law. If, therefore, any question arises of referring explicitly to Spratley and Amboyna Cay in the Peace Treaty it should, if possible, be left to France to take the initiative of putting forward detailed proposals."</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 10pt">In 1950, Australia informally asked whether the UK might be prepared to seek trusteeship for Spratly and neighbouring islands. In the course of its reply, dated 24 October 1950, the Foreign Office stated : "In our view the dominant consideration in the disposal of these Islands is their strategic Importance. From that point of view we should not object to the ownership of the Islands by France, but we should not wish their ownership to go to Japan, the Philippines, Nationalist China or, particularly, the Central People's Government of China.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 10pt">The letter ended: We do not, therefore, see any benefit in pursuing this matter at present, and propose to let it rest for the time being.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 10pt">In another instance the Commissioner General for the UK in South East Asia advised the Foreign Office on 5 June 1956 that the Naval Commander-in-Chief, Far East Station, who had been requested by the Shell Company of Borneo to transport a geologist to Spratly Island, had asked whether the ship's commander should take this opportunity to run up a flag and take formal occupation. The Commissioner General asked for Foreign Office guidance in view of his information about earlier events relating to the British claim. In reply, the Foreign Office, in a telegram dated 12 June 1956, pointed out that there was now a territorial dispute involving the two Chinas, the Philippines and possibly Vietnam over the Nansha islands, the British vessel should stay well clear of Spratly islands.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 10pt">The message went on: Our claim to Spratley Island has never been abandoned but has also never been pressed, as it is considered too week, in view of the lack of effective exercise of sovereignty, ever to be likely to win acceptance before the International Court. This remains the position.</span></p>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-SIZE: 10pt">(Abandonment of Territorial Claims: The cases of Bouvet and Spratly Islands, by Geoffrey Marston, in The British Yearbook of International Law 1986, LVII, p. 337-356)<span lang="en-us">.</span></span></p></div></div></span></span></span></span></span>
<p style="MARGIN: 0in 0in 0pt; TEXT-INDENT: 0.5in"><span style="FONT-SIZE: 11pt"></span>&nbsp;</p>]]>
    </content>
</entry>

<entry>
    <title>Bản Hiệp Ước Biên Giới Trên Đất Liền </title>
    <link rel="alternate" type="text/html" href="http://www.dcvblogs.com/vuhuusan/2007/12/bn-hip-c-bien-gii-tren-dt-lin.html" />
    <id>tag:www.dcvblogs.com,2007:/vuhuusan//28.475</id>

    <published>2007-12-09T08:47:27Z</published>
    <updated>2007-12-09T08:49:17Z</updated>

    <summary><![CDATA[&nbsp; Sau hai năm ký mật ước dâng đất cho bắc triều, trước làn sóng căm phẩn của nhân dân trong và ngoài nước, Hà Nội đã buộc phải thông báo toàn bộ nôi dung hiệp ước biên giới Việt-Hoa....]]></summary>
    <author>
        <name>dcvblogs</name>
        
    </author>
    
        <category term="Hải Giới Việt Hoa" scheme="http://www.sixapart.com/ns/types#category" />
    
        <category term="Tài Liệu" scheme="http://www.sixapart.com/ns/types#category" />
    
    
    <content type="html" xml:lang="en-us" xml:base="http://www.dcvblogs.com/vuhuusan/">
        <![CDATA[<font face="Tahoma" color="#009966">&nbsp;</font>
<p class="MsoNormal" align="justify"><span style="COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman">Sau hai năm ký mật ước dâng đất cho bắc triều, trước làn sóng căm phẩn của nhân dân trong<span lang="en-us"> và </span>ngoài nước, Hà Nội đã <span lang="en-us">buộc phải</span> <span lang="en-us">t</span>hông báo toàn bộ nôi dung hiệp ước biên giới Việt<span lang="en-us">-Hoa</span>.<span lang="en-us"> </span></span><font face="Tahoma"><font face="Times New Roman" color="#000000">Nghị quyết đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa X, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 09 tháng 6 năm 2000. </font></p>
<p class="MsoNormal" align="justify"><span style="FONT-FAMILY: Times New Roman"><span lang="en-us">Trong "</span>Bản Hiệp Ước Biên Giới Trên Đất Liền<span lang="en-us">" </span>công bố trên báo Nhân<span lang="en-us"> </span>Dân<span lang="en-us">, ta</span> thấy có 8 điều khoản.<span lang="en-us"> </span>Ðiều khoản <span lang="en-us">quan-trọng nhất là </span>Ðiều khoản<span lang="en-us"> </span>thứ 3<span lang="en-us">,</span> </span><span lang="en-us" style="FONT-FAMILY: Times New Roman">dùng </span><span style="FONT-FAMILY: Times New Roman">liệt kê 61 điểm<span lang="en-us"> </span>mốc chính<span lang="en-us">. Vị-trí các điểm mốc</span> <span lang="en-us">này đã không được xác-định theo tiêu-chuẩn Quốc-tế bằng tọa-độ địa-dư (kinh-độ, vĩ-độ) mà</span> là <span lang="en-us">các</span> cao điểm<span lang="en-us">,</span> đồi, núi<span lang="en-us">... </span>để <span lang="en-us">ấn-</span>định đường biên giới<span lang="en-us"> một cách mơ-hồ. </span></span></p>
<p class="MsoNormal" align="justify"><span style="FONT-FAMILY: Times New Roman">CSVN <span lang="en-us">lại </span>chỉ công bố bản hiệp ước mà không <span lang="en-us">đ</span>ư<span lang="en-us">a</span> bản đồ<span lang="en-us"> </span>đính kèm<span lang="en-us"> để </span>n<span lang="en-us">gười</span> dân không có căn cứ mà chỉ trích&nbsp; Đảng và Nhà Nước CSVN đã nhượng bao<span lang="en-us"> </span>nhiêu đất biên giới cho Trung Cộng. </span></p></font><font face="Tahoma" color="#009966">
<center>
<center>
<center>
<center>
<center>
<p class="MsoNormal" align="justify"><span style="COLOR: black; FONT-FAMILY: Times New Roman"><span lang="en-us">Xin mời Quý-Vị tìm hiểu sự thực qua</span> toàn bộ </span></font><font face="Times New Roman"><font color="#000000"><span lang="en-us">"</span>NGHỊ QUYẾT 36/2000/QH10 ngày 09/6/2000 về việc phê chuẩn Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa<span lang="en-us">"</span></font></font><span lang="en-us"><font face="Times New Roman" color="#000000"> sau đây:</font></span></p></center></center></center></center></center>]]>
        <![CDATA[<font color="#009966">&nbsp;</font>
<H2>HIỆP ƯỚC BIÊN GIỚI VIỆT - HOA 1999</H2><font face="Tahoma" color="#009966"><!img SRC="http://doanket.web1000.com/dkpict/biethai.jpg"><!null H&#236;nh - - - -><!null - - - - - IMG SRC="http://doanket.web1000.com/dkpict/dat8.jpg" ALIGN="LEFT" - - - -></font>
<hr width="30%">
<font face="Times New Roman"><!font FACE="Tahoma"><!null - - - - - - B&#224;i - - - - ->
<H3>Hiệp Ước Biên Giới Trên Ðất Liền Giữa Nước CHXHCN Việt Nam Và Nước Trung Hoa</H3>
<p>* * * * *<br />&nbsp;</p>
<H3>QUỐC HỘI</H3>
<p>NGHỊ QUYẾT 36/2000/QH10 ngày 09/6/2000 về việc phê chuẩn Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa <br /><br />&nbsp;</p>
<center>
<H3>QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM </H3></center>
<p>Căn cứ vào Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992; <br /><br />Theo đề nghị của Chủ tịch nước; <br /><br />Sau khi xem xét báo cáo của Chính phủ, báo cáo của ủy ban Đối ngoại của Quốc hội và ý kiến của các đại biểu Quốc hội về việc phê chuẩn Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, <br />QUYẾT NGHỊ: <br /><br />1. Phê chuẩn Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. <br /><br />2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định quyết tâm cùng nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa xây dựng đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc thành đường biên giới hòa bình, ổn định và bền vững mãi mãi, góp phần giữ gìn và phát triển mối quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống giữa hai nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình. <br /><br />3. Giao Chính phủ chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền triển khai sớm các việc làm cần thiết để ký kết Nghị định thư phân giới, cắm mốc và xác định bản đồ chi tiết; bố trí ngân sách thực hiện Hiệp ước; sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành liên quan tới quản lý đường biên giới; địa giới hành chính, sớm ổn định đời sống của nhân dân ở khu vực biên giới; cùng các cơ quan có thẩm quyền liên quan của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa nghiêm chỉnh thực hiện Hiệp ước và xử lý đúng đắn, kịp thời những vấn đề phát sinh. <br /><br />Chính phủ tiến hành thủ tục đối ngoại về phê chuẩn Hiệp ước và thông báo, hướng dẫn các cơ quan hữu quan thi hành Hiệp ước này. <br /><br />Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa X, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 09 tháng 6 năm 2000. <br /><br />Chủ tịch Quốc hội NÔNG ĐỨC MẠNH <br /><br />* * * * *<br />HIỆP ƯỚC BIÊN GIỚI TRÊN ĐẤT LIỀN GIỮA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM<br />VÀNƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA<br /><br />Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (dưới đây gọi là "hai Bên ký kết"); <br /><br />Nhằm giữ gìn và phát triển mối quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống giữa hai nước và nhân dân hai nước Việt Nam và Trung Quốc; <br /><br />Với lòng mong muốn xây dựng đường biên giới hòa bình, ổn định và bền vững mãi mãi giữa hai nước; <br /><br />Trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình; <br /><br />Trên tinh thần thông cảm, nhân nhượng lẫn nhau và hiệp thương hữu nghị; <br /><br />Đã quyết định ký kết Hiệp ước này và thỏa thuận các điều khoản sau: <br /><br />Điều I. Hai Bên ký kết lấy các Công ước lịch sử về biên giới hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc làm cơ sở, căn cứ vào các nguyên tắc luật pháp quốc tế được công nhận cũng như các thỏa thuận đạt được trong quá trình đàm phán về vấn đề biên giới Việt - Trung, đã giải quyết một cách công bằng, hợp lý vấn đề biên giới và xác định lại đường biên giới trên đất liền giữa hai nước. <br /><br />Điều II. Hai Bên ký kết đồng ý hướng đi của đường biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được xác định từ Tây sang Đông như sau: <br /><br />Giới điểm số 1 ở điểm có độ cao 1875 của núi Khoan La San (Thập Tầng Đại Sơn), điểm này cách điểm có độ cao 1439 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,30 km về phía Tây - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1691 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 3,70 km về phía Tây - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1208 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,00 km về phía Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 1, đường biên giới theo đường phân thủy giữa các nhánh thượng lưu sông Nậm Mo Phí và sông Nậm Sa Ho đổ vào lãnh thổ Việt Nam và các nhánh thượng lưu sông Chỉnh Khang đổ vào lãnh thổ Trung Quốc, hướng chung Bắc - Đông Bắc chuyển Đông, qua các điểm có độ cao 1089, 1275, 1486 đến điểm có độ cao 1615, sau đó tiếp tục theo đường phân thủy kể trên, hướng chung là hướng Bắc chuyển Đông Bắc, qua điểm có độ cao 1221 đến điểm có độ cao 1264, tiếp đó theo sống núi, hướng Đông Nam đến điểm có độ cao 1248, rồi theo sống núi nhỏ, hướng Đông Bắc đến giới điểm số 2. Giới điểm này ở giữa sông Nậm Nạp (Tháp Nọa), cách điểm có độ cao 1369 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,70 km về phía Tây Nam, cách điểm có độ cao 1367 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,87 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1256 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,80 km về phía Đông - Đông Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 2, đường biên giới xuôi theo sông Nậm Nạp (Tháp Nọa), hướng Bắc chuyển Đông Bắc đến hợp lưu sông này với sông Tả Ló Phi Ma (Nam Mã), sau đó tiếp tục xuôi theo sông, hướng Bắc đến hợp lưu của nó với sông Đà (Lý Tiên), rồi xuôi sông Đà (Lý Tiên), hướng Đông đến hợp lưu sông này với sông Nậm Là (Tiểu Hắc), tiếp đó ngược sông Nậm Là (Tiểu Hắc) đến giới điểm số 3. Giới điểm này ở hợp lưu sông Nậm Là (Tiểu Hắc) với suối Nậm Na Pi, cách điểm có độ cao 978 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,87 km về phía Tây - Tây Nam, cách điểm có độ cao 620 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,50 km về phía Bắc - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1387 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 4,40 km về phía Đông - Đông Bắc. <br /><br />Từ giới điểm số 3, đường biên giới rời sông bắt vào sống núi, hướng Tây Bắc đến điểm có độ cao 1933, sau đó theo đường phân thủy giữa các nhánh thượng lưu các suối Là Pơ, Là Si, á Hu, Nậm Sau, Nậm Khô Ma, Nậm Hà Xi, Nậm Hà Nê, Nậm Xí Lùng, Nậm Hạ, Nậm Nghe, Nậm Dền Tháng, Nậm Pảng đổ vào lãnh thổ Việt Nam và các nhánh thượng lưu các sông Zhe Dong, Ha Luo Luo Ba, Da Tou Luo Ba, Mo Wu Luo Ba, Na Bang, Ge Jie, Da Luo, Nan Bu, Giao Beng Bang, Giao Cai Ping, Nan Nan, Jin Thui đổ vào lãnh thổ Trung Quốc, hướng chung Đông Bắc chuyển Đông Nam rồi chuyển Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1690, 1975, 1902, 2121, 2254, 2316, 1831, 3074, 2635, 2199, 2133, 2002, 1800 đến điểm có độ cao 1519, sau đó theo sống núi, hướng chung là hướng Đông đến chỏm núi không tên, rồi theo sống núi nhỏ, hướng Đông đến giới điểm số 4. Giới điểm này ở giữa suối Nậm Lé (Cách Giới), cách điểm có độ cao 1451 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,05 km về phía Bắc - Đông Bắc, cách điểm có độ cao 845 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,90 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 1318 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,62 km về phía Tây Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 4, đường biên giới xuôi theo suôn Nậm Lé (Cách Giới), hướng chung Đông Bắc chuyển Tây Bắc đến hợp lưu suối này với sông Nậm Na, sau đó xuôi sông Nậm Na, hướng Đông Nam chuyển Đông đến hợp lưu sông này với sông Nậm Cúm (Đằng Điều), rồi ngược sông Nậm Cúm (Đằng Điều), hướng chung Đông Bắc đến đầu nguồn suối Phin Ho (Đằng Điều), rồi theo một khe nhỏ, hướng chung Đông - Đông Bắc đến giới điểm số 5. Giới điểm này ở điểm gặp nhau giữa khe kể trên với sống núi, cách điểm có độ cao 2283 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,62 km về phía Đông - Đông Bắc, cách điểm có độ cao 2392 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,45 km về phía Nam - Đông Nam, cách điểm có độ cao 2361 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,50 km về phía Tây. <br /><br />Từ giới điểm số 5, đường biên giới theo sống núi, hướng Nam đến điểm có độ cao 2413, sau đó theo đường phân thủy giữa các suối Tả Pao Hồ, Thèn Thẻo Hồ, Oanh Hồ, Nậm Nùng, Nậm Lon trong lãnh thổ Việt Nam và các sông San Cha, Tai Zang Zhai, Man Jiang, Wu Tai, Shi Dong, Ping, Zhong Liang và Cha trong lãnh thổ Trung Quốc, hướng chung Đông Nam, qua các điểm có độ cao 2468, 3013, 2539, 2790 đến giới điểm số 6. Giới điểm này ở điểm có độ cao 2836, cách điểm có độ cao 2381 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,40 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 2531 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 3,00 km về phía Đông - Đông Bắc, cách điểm có độ cao 2510 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 3,05 km về phía Nam - Tây Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 6, đường biên giới theo sống núi, hướng Tây Nam đến một điểm gần yên ngựa phía Đông Bắc điểm có độ cao 2546 trong lãnh thổ Việt Nam, sau đó theo khe, hướng Đông Nam đến đầu nguồn suối Lũng Pô (Hồng Nham), rồi xuôi theo suối Lũng Pô (Hồng Nham) và hạ lưu của nó, hướng chung Đông Bắc đến hợp lưu suôn này với sông Hồng, từ đó đường biên giới xuôi sông Hồng, hướng Đông Nam đến hợp lưu sông Hồng với sông Nậm Thi (Nam Khê), tiếp đó ngược sông Nậm Thi (Nam Khê), hướng chung Đông Bắc đến hợp lưu sông Nậm Thi (Nam Khê) với sông Bá Kết (Bá Cát), rồi ngược sông Bá Kết (Bát Tự), hướng chung là hướng Bắc đến hợp lưu sông này với một nhánh suối không tên, sau đó ngược nhánh suối không tên đó, hướng Bắc đến giới điểm số 7. Giới điểm này ở giữa nhánh suối không tên nói trên, cách điểm có độ cao 614 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,00 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 595 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,20 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 463 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,65 km về phía Đông. <br /><br />Từ giới điểm số 7, đường biên giới rời suối, hướng Đông Bắc, đến điểm có độ cao 143, sau đó hướng Đông Bắc, cắt qua một khe rồi bắt vào sống núi, hướng Bắc, qua các điểm có độ cao 604, 710, 573, 620, 833, 939, 1201 đến điểm có độ cao 918, rồi theo đường phân thủy giữa các nhánh sông trong lãnh thổ Việt Nam và các nhánh sông trong lãnh thổ Trung Quốc, hướng chung Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1158, 1077, 997, 1407, 1399, 1370, 1344, 1281, 1371, 1423, 1599, 1528, 1552, 1372, 1523, 1303 đến điểm có độ cao 984, sau đó theo sống núi nhỏ, hướng chung là hướng Nam đến giới điểm số 8. Giới điểm này ở hợp lưu sông Xanh (Qua Sách) với một nhánh phía Tây của nó, cách điểm có độ cao 1521 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 3,85 km về phía Đông, cách điểm có độ cao 1346 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 3,82 km về phía Nam - Tây Nam, cách điểm có độ cao 1596 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,27 km về phía Tây - Tây Bắc. <br /><br />Từ giới điểm số 8, đường biên giới xuôi sông Xanh (Qua Sách), hướng chung là hướng Nam đến hợp lưu sông này với sông Chảy, rồi ngược sông Chảy, hướng chung Đông Nam, đến giới điểm số 9. Giới điểm này ở hợp lưu sông Chảy với sông Xiao Bai, cách điểm có độ cao 1424 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,95 km về phía Đông, cách điểm có độ cao 1031 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,00 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 1076 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,40 km về phía Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 9, đường biên giới rời sông, bắt vào sống núi, rồi theo sống núi, hướng chung Đông Nam, qua điểm có độ cao 741 đến điểm có độ cao 1326, sau đó theo đường phân thủy giữa các nhánh của sông Chảy đổ vào lãnh thổ Việt Nam và các nhánh của sông Xiao Bai đổ vào lãnh thổ Trung Quốc, hướng chung Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1681, 1541, 1716, 2002, 1964, đỉnh núi không tên (Đại Nham Động) đến điểm có độ cao 1804, từ đó, theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước đến điểm có độ cao 1623, sau đó theo đường phân thủy giữa suối Nàn Xỉn trong lãnh thổ Việt Nam và sông Xiao Bai trong lãnh thổ Trung Quốc, hướng Đông Bắc, qua điểm có độ cao 1638 đến điểm có độ cao 1661, rồi theo khe, hướng Đông Bắc xuống giữa suối Hồ Pả, tiếp đó xuôi suối này đến hợp lưu suối này với một nhánh khác của nó, rồi rời suối bắt vào sống núi, rồi theo sống núi hướng Tây - Tây Bắc, qua điểm có độ cao 1259 đến giới điểm số 10. Giới điểm này ở một sống núi, cách điểm có độ cao 1461 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,25 km về phía Bắc - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1692 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,90 km về phía Đông, cách điểm có độ cao 1393 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,10 km về phía Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 10, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước đến điểm có độ cao 948, sau đó theo sống núi, hướng Đông Bắc chuyển Đông, qua điểm có độ cao 1060 đến giới điểm số 11. Giới điểm này ở hợp lưu suối Đỏ (Nam Bắc) với một nhánh suối phía Tây Nam của nó (Qua Giai), cách điểm có độ cao 841 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,70 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 982 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,50 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 906 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,15 km về phía Nam - Tây Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 11, đường biên giới xuôi suối Đỏ (Nam Bắc) đến hợp lưu suối này với suối Nậm Cư (Nam Giang) , sau đó ngược suối Nậm Cư (Nam Giang) đến giới điểm số 12. Giới điểm này ở hợp lưu suối Nậm Cư (Nam Giang) với một nhánh phía Tây Bắc của nó, cách điểm có độ cao 1151 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,80 km về phía Bắc - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 986 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,40 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 858 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,80 km về phía Tây. <br /><br />Từ giới điểm số 12, đường biên giới rời suối, bắt vào sống núi, rồi theo sống núi, hướng chung Đông Nam, qua điểm có độ cao 1071 đến điểm có độ cao 1732, sau đó theo đường phân thủy giữa các nhánh sông trong lãnh thổ Việt Nam và các nhánh sông trong lãnh thổ Trung Quốc, hướng chung là hướng Đông chuyển Bắc rồi Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1729, 2071, 1655, 1705, 1423 đến giới điểm số 13. Giới điểm này ở một chỏm núi không tên, cách điểm có độ cao 993 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,55 km về phía Tây - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1044 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,15 km về phía Bắc - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1060 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,70 km về phía Đông Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 13, đường biên giới tiếp tục theo đường phân thủy nói trên, hướng Đông đến điểm cách điểm có độ cao 1422 khoảng 70 m về phía Tây Nam, sau đó theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước đi đến một điểm nằm trên đường phân thủy và cách điểm có độ cao 1422 khoảng 90 m về phía Bắc - Đông Bắc khu vực có diện tích 7700 m2 giữa đường đỏ nêu trên và đường phân thủy thuộc Trung Quốc), từ đây đường biên giới tiếp tục theo đường phân thủy nói trên, hướng chung là hướng Đông, qua các điểm có độ cao 1397, 1219, 657, 663 đến một chỏm núi không tên phía Đông Nam điểm có độ cao này, sau đó theo khe, hướng Bắc đến suối Nà La, rồi xuôi theo suối này hướng Đông Bắc đến giới điểm số 14. Giới điểm này ở hợp lưu suối Nà La với sông Lô (Pan Long), cách điểm có độ cao 922 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 3,20 km về phía Tây - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 183 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,50 km về phía Bắc - Đông Bắc, cách điểm có độ cao 187 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,65 km về phía Đông. <br /><br />Từ giới điểm số 14, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước qua điểm có độ cao 428 đến yên ngựa giữa điểm có độ cao 1169 trong lãnh thổ Việt Nam và điểm có độ cao 1175 trong lãnh thổ Trung Quốc, sau đó theo sống núi, hướng chung là hướng Bắc chuyển Tây Bắc, qua các điểm có độ cao 1095, 1115, 1022, 1019, 1094, 1182, 1192, 1307, 1305, 1379 đến điểm có độ cao 1397, rồi tiếp tục theo sống núi, hướng chung là hướng Bắc, qua các điểm có độ cao 1497, 1806, 1825, 1952, 1967, 2122, 2038 đến giới điểm số 15. Giới điểm này ở một chỏm núi không tên, cách điểm có độ cao 1558 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,90 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 2209 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,55 km về phía Đông, cách điểm có độ cao 2289 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,70 km về phía Nam - Tây Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 15, đường biên giới theo sống núi, hướng chung là hướng Đông, qua điểm có độ cao 2076, sau khi cắt qua một con suối đến một chỏm núi không tên, sau đó theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước, qua các điểm có độ cao 1887, 1672 đến điểm có độ cao 1450, rồi theo sống núi, hướng chung là hướng Nam chuyển Đông rồi hướng Bắc chuyển Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1438, 1334, 716, 1077 đến giới điểm số 16. Giới điểm này ở điểm có độ cao 1592, cách điểm có độ cao 1079 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,40 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 1026 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 3,25 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 1521 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,05 km về phía Tây - Tây Bắc. <br /><br />Từ giới điểm số 16, đường biên giới theo sống núi, hướng chung Đông Nam chuyển Bắc, qua các điểm có độ cao 1578, 1503, 1493, 1359, 1342, 1296 đến điểm có độ cao 606, rồi theo sống núi nhỏ, hướng Bắc - Tây Bắc chuyển Đông Bắc đến giới điểm số 17. Giới điểm này ở giữa sông Miện (Babu), cách điểm có độ cao 654 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 3,30 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1383 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 4,10 km về phía Bắc - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 882 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,70 km về phía Nam - Đông Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 17, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước, hướng chung Đông - Đông Bắc, đến điểm có độ cao 799, sau đó theo sống núi, hướng chung Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 998, 1096, 1029, 1092, 1251 đến điểm có độ cao 1132, rồi theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước đến điểm có độ cao 1628, sau đó theo sống núi, hướng chung Đông Nam chuyển Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1647, 1596, 1687, 1799, 1761, 1796 đến giới điểm số 18. Giới điểm này ở điểm có độ cao 1568, cách điểm có độ cao 1677 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,90 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 1701 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,70 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 1666 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,55 km về phía Tây Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 18, đường biên giới theo sống núi, hướng chung Đông - Đông Nam chuyển Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1771, 1756, 1707, 1500, 1683, 1771, 1651, 1545, 1928, 1718 đến điểm có độ cao 1576, sau đó theo hướng Tây Bắc vượt qua hai khe, qua điểm có độ cao 1397, rồi bắt vào sống núi, sau đó tiếp tục theo sống núi, hướng Tây Bắc chuyển Đông Bắc, qua điểm có độ cao 1748 đến điểm có độ cao 1743, sau đó tiếp tục theo sống núi, hướng Đông chuyển Bắc - Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1806, 1650, 1468, 1516, 1344, 1408 đến một chỏm núi không tên phía Tây Bắc của điểm có độ cao này, rồi theo sống núi, hướng Đông Bắc đến giới điểm số 19. Giới điểm này ở giữa sông Nho Quế (Pu Mei), cách điểm có độ cao 1477 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,60 km về phía Tây - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1464 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,30 km về phía Đông - Đông Bắc, cách điểm có độ cao 1337 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,20 km về phía Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 19, đường biên giới xuôi sông Nho Quế (Pu Mei), hướng chung Đông Bắc chuyển Đông Nam đến giới điểm số 20. Giới điểm này ở giữa sông Nho Quế (Pu Mei), cách điểm có độ cao 1062 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,80 km về phía Đông - Đông Bắc, cách điểm có độ cao 1080 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 5,20 km về phía Bắc - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1443 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,85 km về phía Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 20, đường biên giới rời sông bắt vào sống núi nhỏ, hướng Đông Bắc đến điểm có độ cao 801, sau đó theo đường thẳng, hướng Đông Nam khoảng 2400 in đến điểm có độ cao 1048, theo hướng Đông Nam cắt khe bắt vào sống núi, rồi theo sống núi, hướng chung Đông Nam chuyển Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1122, 1170, 1175 đến điểm có độ cao 1641, sau đó theo sống núi, hướng Tây Bắc, cắt khe, rồi bắt vào sống núi hướng Bắc - Đông Bắc qua các điểm có độ cao 1651, 1538 đến giới điểm số 21. Giới điểm này ở điểm có độ cao 1697, cách điểm có độ cao 1642 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,85 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 1660 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,80 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 1650 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,40 km về phía Nam - Tây Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 21, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước, hướng chung Đông Nam đến điểm có độ cao 1591, sau đó theo sống núi hướng Nam - Đông Nam qua các điểm có độ cao 1726, 1681, 1699 đến điểm có độ cao 1694, tiếp đó theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước, hướng Đông Nam, qua các điểm có độ cao 1514, 1486 đến điểm có độ cao 1502, rồi theo sống núi, hướng Nam chuyển Đông Nam qua các điểm có độ cao 1420, 1373, 1365 đến một chỏm núi không tên phía Bắc - Tây Bắc điểm có độ cao 1383 trong lãnh thổ Việt Nam, từ đó đường biên giới theo đường thẳng hướng Đông - Đông Bắc đến một chỏm núi nhỏ, sau đó lại theo đường thẳng tiếp tục theo hướng này đến giới điểm số 22. Giới điểm này ở giữa con sông không tên (Yan Dong), cách điểm có độ cao 1255 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,45 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 1336 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,30 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 956 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,22 km về phía Tây - Tây Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 22, đường biên giới xuôi theo sông không tên nói trên (Yan Dong), hướng Đông Bắc, sau đó rời sông, qua điểm có độ cao 888, bắt vào sống núi, hướng chung Đông Nam chuyển Nam - Tây Nam, qua điểm có độ cao 1091, một chỏm núi không tên phía Đông điểm có độ cao 1280 trong lãnh thổ Việt Nam, các điểm có độ cao 1288, 1282, 1320, 1212, 1218, 1098, 1408 đến điểm có độ cao 1403, rồi theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước, hướng chung là hướng Nam chuyển Đông Nam, qua các điểm có độ cao 1423, 1378 đến điểm có độ cao 451, sau đó theo sống núi, hướng Đông đến giới điểm số 23. Giới điểm này ở giữa suối Cốc Pàng, cách điểm có độ cao 962 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 3,10 km về phía Tây - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 680 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,55 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 723 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,60 km về phía Tây Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 23, đường biên giới rời suối theo khe hướng Đông, rồi theo con đường mé Nam sống núi hoặc trên sống núi, hướng chung là hướng Đông, qua các điểm có độ cao 914, 962, 901 đến điểm có độ cao 982, sau đó ngược sườn núi hướng Đông Bắc bắt vào sống núi, rồi theo sống núi, hướng chung là hướng Đông, qua các điểm có độ cao 819, 877 đến giới điểm số 24. Giới điểm này nằm ở một chỏm núi không tên, cách điểm có độ cao 783 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,53 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 1418 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,15 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 779 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,00 km về phía Đông Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 24, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước, hướng Bắc - Tây Bắc chuyển Đông Nam, qua các điểm có độ cao 1212, 1506, 1489, 1461 đến điểm có độ cao 921, sau đó theo hướng Đông - Đông Nam cắt suối Khui Giồng, rồi bắt vào sống núi, sau đó theo sống núi hướng chung Đông Nam, qua các điểm có độ cao 1265, 1191, 1301 đến giới điểm số 25. Giới điểm này ở giữa sông Gậm (Bai Nan), cách điểm có độ cao 798 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,70 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 755 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,65 km về phía Tây - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 936 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,45 km về phía Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 25, đường biên giới rời sông bắt vào sống núi nhỏ, hướng Đông Nam đến điểm có độ cao 908, rồi theo sống núi, hướng chung Đông Nam, qua điểm có độ cao 1196, chỏm núi không tên ở phía Bắc - Tây Bắc điểm có độ cao 1377 trong lãnh thổ Việt Nam, các điểm có độ cao 1254, 1297, 1274, 1262, 994, 1149, chỏm núi không tên ở phía Đông điểm có độ cao 1302 trong lãnh thổ Việt Nam, các điểm có độ cao 1013, 1165, 829 đến giới điểm số 26. Giới điểm này ở điểm có độ cao 1028, cách điểm có độ cao 1272 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,50 km về phía Đông - Đông Bắc, cách điểm có độ cao 1117 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,65 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 893 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,35 km về phía Tây - Tây Bắc. <br /><br />Từ giới điểm số 26, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước, hướng Đông Nam đến điểm có độ cao 662, rồi theo đường thẳng hướng Đông khoảng 500m đến một chỏm núi không tên, sau đó theo sống núi, hướng chung là hướng Bắc chuyển Đông - Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 934, 951 đến điểm có độ cao 834, tiếp đó theo khe hướng Đông - Đông Bắc, cắt suối Na Thin, rồi theo sống núi qua điểm có độ cao 824 đến điểm có độ cao 1049, sau đó theo sống núi và khe, hướng Đông Nam, cắt một sống núi nhỏ, rồi xuôi theo khe hướng Đông đến giới điểm số 27. Giới điểm này ở giữa suối Nà Rì, cách điểm có độ cao 772 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,05 km về phía Đông, cách điểm có độ cao 1334 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,65 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 848 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,10 km về phía Đông Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 27, đường biên giới rời suối, ngược khe lên sống núi, hướng Đông - Đông Bắc đến điểm có độ cao 706, sau đó theo sống núi, hướng Bắc chuyển Đông - Đông Nam, qua các điểm có độ cao 807, 591, 513, 381 đến điểm có độ cao 371, sau đó theo sống núi, hướng Đông đến giữa suối Pai Ngăm (Ping Mèng), rồi ngược suối này về hướng Bắc khoảng 200 m, rời suối theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước, qua các điểm có độ cao 591, 722, 818, 706, 890 đến giới điểm số 28. Giới điểm này ở điểm có độ cao 917, cách điểm có độ cao 668 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,55 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 943 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,75 km về phía Nam - Đông Nam, cách điểm có độ cao 955 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,90 km về phía Đông - Đông Bắc. <br /><br />Từ giới điểm số 28, đường biên giới theo sống núi, hướng chung là hướng Đông, qua các điểm có độ cao 790, 803, 601, 524, 934, chỏm núi không tên ở phía Nam điểm có độ cao 1025 trong lãnh thổ Trung Quốc, các điểm có độ cao 871, 964, chỏm núi không tên phía Nam điểm có độ cao 855 trong lãnh thổ Trung Quốc, các điểm có độ cao 978, 949 đến điểm có độ cao 829, sau đó theo sườn núi, hướng Đông đến giới điểm số 29. Giới điểm này ở điểm có độ cao 890, cách điểm có độ cao 1007 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,50 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 1060 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,05 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1047 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,45 km về phía Tây Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 29, đường biên giới theo sườn núi phía Nam điểm có độ cao 1073 trong lãnh thổ Trung Quốc, hướng Đông đến điểm có độ cao 1077, rồi theo sống núi, hướng chung là hướng Đông chuyển Đông Nam, qua các điểm có độ cao 1104, 1115, 1073, 942, 832, 1068, 1066, 1066, 1030, 1028, 982, 1021, 826, 911 đến giới điểm số 30. Giới điểm này ở một con đường nhỏ, cách điểm có độ cao 770 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,40 km về phía Tây, cách điểm có độ cao 764 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,75 km về phía Bắc - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 888 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,80 km về phía Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 30, đường biên giới theo sống núi, hướng chung Đông Bắc, cắt qua một suối không tên đến điểm có độ cao 715, rồi theo mé Nam và mé Đông một con đường của Trung Quốc, hướng Đông chuyển Bắc - Đông Bắc, cắt qua một con đường từ Việt Nam sang Trung Quốc, rồi theo dốc núi mé Tây Nam điểm có độ cao 903 trong lãnh thổ Trung Quốc bắt vào sống núi, hướng Đông Nam đến giới điểm số 31. Giới điểm này ở điểm có độ cao 670, cách điểm có độ cao 770 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,90 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 823 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,60 km về phía Bắc - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 976 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,80 km về phía Tây Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 31, đường biên giới đi theo sống núi, hướng chung Đông Nam qua điểm có độ cao 955 đến điểm có độ cao 710, sau đó theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước, qua điểm có độ cao 940 đến điểm có độ cao 780, rồi theo sống núi, hướng Đông Bắc, qua điểm có độ cao 780 đến điểm có độ cao 625, sau đó tiếp tục theo sống núi, hướng Đông đến giới điểm số 32. Giới điểm này ở giữa sông Bắc Vọng (Ba Bang), cách điểm có độ cao 792 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,35 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 808 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,85 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 822 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,05 km về phía Nam - Tây Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 32, đường biên giới rời sông bắt vào sống núi, hướng chung là hướng Đông chuyển Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 890, 667, 906, 691, 854, 884, 701, 884, 783, 619, 856, 591, 907, 651, 580, 785, 925, 950 đến giới điểm số 33. Giới điểm này ở giữa sông Quây Sơn (Nan Tan), cách điểm có độ cao 922 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,65 km về phía Bắc - Đông Bắc, cách điểm có độ cao 685 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,10 km về phía Tây Nam, cách điểm có độ cao 965 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,30 km về phía Đông - Đông Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 33, đường biên giới rời sông bắt vào sống núi, hướng Đông Bắc, qua điểm có độ cao 612 đến điểm có độ cao 624, sau đó tiếp tục theo sống núi, hướng chung Đông Nam, qua các điểm có độ cao 521, 725, 845, 825, 755, 726, 516, 735, 902, 764, 573, 693, 627 đến giới điểm số 34. Giới điểm này ở điểm có độ cao 505, cách điểm có độ cao 791 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,60 km về phía Bắc - Đông Bắc, cách điểm có độ cao 632 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,80 km về phía Đông - Đông Bắc, cách điểm có độ cao 655 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,65 km về phía Nam - Tây Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 34, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước qua điểm có độ cao 878 đến điểm có độ cao 850, sau đó theo sống núi hướng chung là Đông Nam chuyển Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 837, 758, 712, 492, 695, 449 đến điểm có độ cao 624, rồi tiếp tục theo sống núi, hướng chung Đông - Đông Nam chuyển Tây Nam, qua các điểm có độ cao 731, 737, 805, 866, 752, 605, 815 đến giới điểm số 35. Giới điểm này ở cách điểm có độ cao 709 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,90 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 782 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,10 km về phía Nam, cách điểm có độ cao 794 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,45 km về phía Tây. <br /><br />Từ giới điểm số 35, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước đến giữa sông Quây Sơn, sau đó xuôi sông này, hướng chung Đông Nam đến giới điểm số 36. Giới điểm này ở giữa sông Quây Sơn, cách điểm có độ cao 660 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,20 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 589 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,05 km về phía Tây, cách điểm có độ cao 613 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,50 km về phía Tây Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 36, đường biên giới rời sông theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước qua các điểm có độ cao 597, 653, 560, 367, 629, 717, 685, 746 đến giới điểm số 37. Giới điểm này ở điểm có độ cao 620, cách điểm có độ cao 665 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,80 km về phía Đông, cách điểm có độ cao 640 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,50 km về phía Tây - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 592 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,90 km về phía Tây Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 37, đường biên giới theo sống núi, hướng Đông Nam chuyển Tây - Tây Nam, qua điểm có độ cao 336 đến một chỏm núi không tên, sau đó theo sống núi, hướng Đông Nam đến một yên ngựa, rồi theo khe, hướng Tây Nam đến đầu một con suối không tên, sau đó xuôi theo suối đó, hướng Tây Nam, rồi rời suối, theo hướng Tây Nam qua điểm có độ cao 348 đến một yên ngựa, tiếp đó theo hướng Tây qua một lũng nhỏ đến giới điểm số 88. Giới điểm này cách điểm có độ cao 723 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,95 km về phía Đông - Đông Nam, cách điểm có độ cao 685 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,35 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 630 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,00 km về phía Tây. <br /><br />Từ giới điểm số 38, đường biên giới theo sống núi, hướng chung Đông Nam chuyển Tây Nam, qua các điểm có độ cao 635, 656, cắt suối Luộc, qua điểm có độ cao 627 đến chỏm núi không tên ở phía Tây Bắc điểm có độ cao 723 trong lãnh thổ Trung Quốc, sau đó hướng Nam - Đông Nam, qua điểm có độ cao 412 bắt vào sống núi, hướng chung là hướng Nam, qua các điểm có độ cao 727, 745, 664, 487, 615, 473, 586 đến giới điểm số 39. Giới điểm này ở giữa đường mòn, cách điểm có độ cao 682 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,20 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 660 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,10 km về phía Tây Nam, cách điểm có độ cao 612 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,30 km về phía Tây - Tây Bắc. <br /><br />Từ giới điểm số 39, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước qua điểm có độ cao 303 đến điểm có độ cao 558, sau đó theo sống núi, hướng chung là Tây Nam, qua các điểm có độ cao 591, 521 đến giữa một con suối không tên, rồi xuôi theo suối này, hướng Tây Nam đến hợp lưu của nó với một con suối khác, tiếp đó rời suối bắt vào sống núi, hướng chung Tây Bắc chuyển Tây Nam, qua các điểm có độ cao 602, 657, 698, 565 đến giới điểm số 40. Giới điểm này ở giữa sông Bắc Vọng (Ba Wang), cách điểm có độ cao 689 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 3,05 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 529 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,06 km về phía Đông - Đông Nam, cách điểm có độ cao 512 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,95 km về phía Tây Bắc. <br /><br />Từ giới điểm số 40, đường biên giới xuôi sông Bắc Vọng (Ba Wang), hướng chung là hướng Nam đến hợp lưu của nó với sông Bằng Giang, sau đó ngược sông Bằng Giang, hướng chung Tây Bắc đến giới điểm số 41. Giới điểm này ở giữa sông Bằng Giang, cách điểm có độ cao 345 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,45 km về phía Đông - Đông Nam, cách điểm có độ cao 202 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,05 km về phía Nam - Tây Nam, cách điểm có độ cao 469 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,35 km về phía Bắc - Đông Bắc. <br /><br />Từ giới điểm số 41, đường biên giới rời sông, hướng Tây đến điểm có độ cao 153, sau đó theo sống núi, hướng Tây Nam chuyển Nam, qua các điểm có độ cao 332, 463, 404, 544, 303 đến điểm có độ cao 501, rồi tiếp tục theo sống núi, hướng Đông chuyển Nam, qua các điểm có độ cao 255, 259, đến điểm có độ cao 472, sau đó tiếp tục theo sống núi, hướng Đông Nam chuyển Tây Nam, qua các điểm có độ cao 600, 552, 550, 530, 323, 514 đến một chỏm núi không tên ở phía Đông Nam điểm có độ cao 597 trong lãnh thổ Việt Nam, lại theo sống núi hướng Tây Nam, cắt khe, rồi theo sườn núi mé Đông Nam điểm có độ cao 658 trong lãnh thổ Việt Nam, hướng chung là hướng Tây đến điểm có độ cao 628, từ đây đường biên giới theo sống núi hướng Nam, qua các điểm có độ cao 613, 559 đến một điểm ở sống núi, sau đó theo đường thẳng, hướng Đông Nam đến giới điểm số 42. Giới điểm này ở điểm có độ cao 417, cách điểm có độ cao 586 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,70 km về phía Bắc - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 494 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,10 km về phía Bắc - Đông Bắc, cách điểm có độ cao 556 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,85 km về phía Nam - Tây Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 42, đường biên giới theo hướng Đông Bắc đến một chỏm núi không tên, sau đó theo đường thẳng hướng Đông đến một chỏm núi không tên khác, từ đó đường biên giới theo sống núi, hướng chung là hướng Đông, qua các điểm có độ cao 567, 506, 517, 534, 563 đến điểm có độ cao 542, rồi theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước đến điểm có độ cao 570, sau đó lại theo sống núi, hướng Đông Nam chuyển Nam, qua điểm có độ cao 704 đến giới điểm số 43. Giới điểm này ở giữa một con suối không tên, cách điểm có độ cao 565 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,80 km về phía Đông - Đông Nam, cách điểm có độ cao 583 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,10 km về phía Nam, cách điểm có độ cao 561 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,87 km về phía Tây - Tây Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 43, đường biên giới xuôi theo suối không tên về hướng Đông Nam khoảng 500 mét, sau đó rời suối này theo hướng Đông, cắt qua một sống núi nhỏ đến khe, chuyển hướng Nam - Đông Nam xuống giữa con suối nói trên, tiếp đó xuôi theo suối này, hướng Nam, đến hợp lưu của suối này với một nhánh suối khác, sau đó theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước qua các điểm có độ cao 632, 637 đến giới điểm số 44. Giới điểm này ở giữa đường phòng hỏa, cách điểm có độ cao 666 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,50 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 943 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,56 km về phía Tây Nam, cách điểm có độ cao 710 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,30 km về phía Tây. <br /><br />Từ giới điểm số 44, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước (trong đó đoạn nào theo đường phòng hỏa thì theo trung tuyến của đường phòng hỏa) qua các điểm có độ cao 637, 383 đến điểm có độ cao 324, sau đó theo sống núi nhỏ, hướng Nam - Tây Nam đến giữa nhánh phía Tây suôn Khuổi Lạn, sau đó xuôi theo suối này, hướng Nam đến giới điểm số 45. Giới điểm này ở giữa suối Khuổi Lạn, cách điểm có độ cao 293 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,90 km về phía Đông - Đông Bắc, cách điểm có độ cao 323 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,42 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 322 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,60 km về phía Tây - Tây Nam. <br /><br />Từ giới điểm số 45, đường biên giới rời suối bắt vào sống núi nhỏ, hướng Đông - Đông Nam đến điểm có độ cao 245, sau đó theo đường thẳng, hướng Nam, đến giữa sông Kỳ Cùng (Bình Nhi), tiếp đó ngược sông Kỳ Cùng (Bình Nhi), hướng chung Tây Nam đến giới điểm số 46. Giới điểm này ở giữa sông Kỳ Cùng bình Nhi), cách điểm có độ cao 185 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,55 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 293 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,22 km về phía Nam - Tây Nam, cách điểm có độ cao 270 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,45 km về phía Tây - Tây Bắc. <br /><br />Từ giới điểm số 46, đường biên giới rời sông, hướng Nam, bắt vào sống núi đến điểm có độ cao 269, sau đó theo sống núi, hướng Tây Nam chuyển Đông Nam, tiếp đó theo hướng Nam, qua các điểm có độ cao 303, 304, 321, 284 đến giới điểm số 47. Giới điểm này ở ngã ba suối, cách điểm có độ cao 329 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,85 km về phía Nam - Đông Nam, cách điểm có độ cao 313 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,65 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 251 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,20 km về phía Tây. <br /><br />Từ giới điểm số 47, đường biên giới rời suôn bắt vào sống núi nhỏ, hướng Đông Nam, qua mé Tây Nam điểm có độ cao 255 trong lãnh thổ Trung Quốc, bắt vào sống núi, rồi theo sống núi, hướng chung là hướng Nam qua các điểm có độ cao 281, 357 đến điểm có độ cao 344, sau khi 
