Chính trị - Xã hội: October 2007 Archives
“Under a government which imprisons unjustly,
the true place for a just man is also a prison.”
Henry David Thoreau
Huỳnh Nguyên Đạo, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Bắc Truyển, Nguyễn Văn Đài, Lê Nguyên Sang, qua việc chấp nhận bước vào tù để làm nhân chứng cho niềm tin vào tự do và công lý, đã trở thành những anh hùng mới của thời đại chúng ta.
![]() |
| Thiền sư-Việt Kiều Nguồn: payer.de |
Trần Trung Việt
30/4/1975 đánh dấu sự kết thúc 19 năm của nền cộng hòa non trẻ ở miền Nam. Tuy nhiên cái chết của nó đã được định đoạt gần ba mươi năm trước đó.
Lý do mà nền cộng hòa ở miền Nam bị bức tử rất đơn giản: những người thật sự có tài đảm lược để lèo lái con thuyền Quốc gia, những người có đủ gia sản chính trị để đại diện cho chính thống dân tộc đã bị cộng sản giết chết từ những năm 1945 rồi!
Vẫn là cái trò nói dối trơ trẽn.
Một ngày trước khi buộc phải trả tự do cho ông Đỗ Thành Công, nhà cầm quyền Hà Nội lại còn giở trò mượn cái loa của Thông Tấn Xã Việt Nam để làm nhiễu dư luận khi cáo buộc ông dính líu đến một âm mưu khủng bố có liên quan đến Tòa Lãnh sự Mỹ ở Sài gòn.
Và khi ông Công đã ngồi trên máy bay từ Sài gòn về San Francisco, cũng qua cái loa Thông Tấn Xã Việt Nam, họ vẫn tiếp tục với một giọng điệu cũ rích đầy tính nhục mạ và tuyên truyền để bôi nhọ Đỗ Thành Công và các chí hữu của ông - Lê Nguyên Sang (Nguyễn Hoàng Long) và Huỳnh Nguyên Đạo (Huỳnh Việt Lang).
Trần Trung Việt
Cần phải xóa bỏ một tín điều đã trở nên một nhầm lẫn quá lâu: “thiên tả là thân cộng”. Ngày nay, đã “thiên tả” thì không thể “thân cộng”, và ngược lại.
Cánh tả truyền thống
Khởi đầu từ Cách mạng Pháp 1789, “cánh tả”, bao gồm giới tư sản, trí thức, lao động thuộc đẳng cấp thứ Ba, thường ngồi bên trái ghế chủ tịch trong Estates-General (như quốc hội), luôn đại diện tinh thần cách mạng đòi công lý và tự do; đối ngược với “cánh hữu”, ngồi bên phải của ghế chủ tịch, của giới tu sĩ, quý tộc bảo thủ muốn duy trì trật tự chính trị xã hội bất công hiện hành. Suốt hai trăm năm qua, ý nghĩa tiên khởi “tả-hữu” của Cách mạng Pháp đã thay đổi và được dùng trong những bối cảnh hoàn toàn khác nhau để mô tả những băng tần chính trị khác nhau. “Cánh tả” trong truyền thống chính trị phương Tây bao gồm các khuynh hướng xã hội, dân chủ xã hội, và - cũng như chủ nghĩa phát-xít là hình thức cực đoan của “cánh hữu” - chủ nghĩa cộng sản là hình thức cực đoan của nó. (1)
Vài năm nữa, nếu người của Đảng Nhân Dân Hành Động tuyên bố rằng Phong Trào Dân Chủ Việt Nam, hay thậm chí cả Đảng Dân Chủ XXI, là do họ lập ra thì không ai phải ngạc nhiên.
Không thể ngạc nhiên được sau khi họ đã tiết lộ chính họ thành lập hội chống tham nhũng mấy năm trước.
Nhắc lại:
Ngày 2/9/2001, hai ông Phạm Quế Dương và Trần Khuê gởi đến Tổng bí thư Đảng Cộng sản, Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ, và Chủ tịch quốc hội đơn xin thành lập “Hội Nhân Dân Việt Nam Ủng Hộ Đảng và Nhà nước Chống Tham Nhũng” (gọi tắt là Hội Nhân Dân Việt Nam Chống Tham Nhũng - HNDVNCTN), đánh dấu sự ra đời của tổ chức này. Hội đã quy tụ một số những gương mặt đang đấu tranh cho dân chủ Việt Nam lúc đó. Ông Phạm Quế Dương đại diện của Hội ở phía Bắc. Ông Trần Khuê, phía Nam.
![]() |
| Ảnh Kim Dae-Jung năm 1982 trên trang nhà cuả tổ chức Ân xá Quốc tế Đan Mạch Nguồn: amnesti.dk |
Bảy năm sau, 1980, một lần nữa chính quyền độc tài Hàn Quốc lại muốn triệt hạ ông. Kim Dae Jung bị bắt và bị kết án tử hình vì tội âm mưu tạo phản. Các quốc gia tự do dân chủ lại phải can thiệp. Bản án của Kim được rút lại còn 20 năm và sau đó ông phải lưu vong ở Hoa Kỳ.
Kim trở lại Hàn Quốc năm 1985. Mười hai năm sau, tháng 12-1997, ông được bầu làm Tổng thống thứ Tám của quốc gia này.
Cuộc tranh luận, và sự lựa chọn, giữa dân chủ và độc tài, giữa tự do và sợ hãi coi như là đã kết thúc. Thật ra nó đã phải kết thúc từ lâu nếu không có những lập luận dây dưa, và ngày càng trở nên tẻ nhạt, của những người hoặc tin hoặc ngụy biện, cho cái gọi là “độc tài có lợi cho phát triển”, hoặc “dân chủ, đa đảng là loạn”. Ngày nay, những người ương ngạnh nhất cũng đã phải nói đến dân chủ dưới một hình thức nào đó - dân chủ trong đảng chẳng hạn. Sự tồn tại của thể chế chính trị độc đoán hiện nay không là dấu chỉ của một cuộc tranh luận chưa ngã ngũ mà đơn thuần chỉ là vấn đề của sự chuyển động của các lực lượng dân chủ chưa đủ mạnh để kéo sang lề lịch sử cái xác chết toàn trị đang thối rữa mà thôi.
Cuộc tranh luận kế tiếp, có khả năng ám ảnh sinh hoạt chính trị và học thuật Việt Nam trong vài thập niên tới, không còn là dân chủ hay không dân chủ mà là dân chủ nào? Nền dân chủ Việt Nam sẽ là sự lập lại, có chọn lọc, một mô hình dân chủ hiện đại có sẵn? Hay là một mô hình dân chủ nào đó thuần Việt như những người theo trường phái “dân tộc” phác họa? Hay chỉ là chuyện bình mới rượu cũ: một mô hình dân chủ đã có với một cái tên thuần Việt như một phát minh mới? v.v
Sự xuất hiện của bản Tuyên ngôn Tự Do Dân Chủ 2006, gọi tắt là Tuyên ngôn 2006, và những sự kiện diễn ra ngay sau đó đã làm được điều mà cuộc vận động dân chủ hiện nay rất cần và đáng lẽ ra phải làm từ lâu: phơi bày những yếu kém rất căn bản của phong trào dân chủ Việt Nam; yếu kém về lãnh đạo, phối hợp, và tổ chức.
Làm sao để có thể giải thích được sự phi lý này: cho đến nay, hơn 30 năm sau ngày 30/4/1975 và gần 80 năm kể từ thời Phan Chu Trinh, vẫn chưa có một sáng kiến nào, dù nhỏ, trong phong trào dân chủ được tất cả mọi tổ chức, mọi nhóm dân chủ, trong và ngoài nước, ủng hộ. Trái với những lý giải rất thuận tiện từ các tổ chức chính trị, các hội đoàn, các nhóm dân chủ, điều này hoàn toàn không bình thường. Nó tố cáo không nhân nhượng cái lỗ hổng khổng lồ trong những cố gắng hợp lực, cũng như sự vụng về, giữa các lực lượng của phong trào dân chủ.
Chúng tìm mọi cách móc nối giữa bọn phản động bên trong và bên ngoài nhằm công khai hoá, quốc tế hoá các hoạt động chống đối; tập trung lợi dụng các vấn đề về “dân chủ”, “nhân quyền”, kích động tư tưởng ly khai, tự trị, gây rối, gây bạo loạn; cài cắm cơ sở; tác động, lôi kéo nhằm hình thành lực lượng chính trị đối lập
Đó là đoạn trích từ trang BBC điện tử phát biểu của Bộ trưởng công an Lê Hồng Anh tại một phiên họp của Đại hội X, khai mạc hôm thứ Ba vừa qua.
Cũng theo BBC, ông Anh răn đe rằng cần phải “kiên quyết đấu tranh với các tư tưởng đa nguyên chính trị, không để hình thành tổ chức chính trị đối lập.”
Nghe như một lời hăm dọa.
Tuần qua, ban biên tập DCVOnline đã có những thảo luận nhằm kiểm điểm lại sinh hoạt của diễn đàn tự do sau đúng một năm hoạt động (17/3/2005-17/3/2006). Không nghi ngờ gì, sự ra đời của diễn đàn này là một đóng góp đáng kể của DCVOnline trong sinh hoạt truyền thông tự do tiếng Việt.
Lần đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam, những người đọc báo có được cái quyền cao hơn quyền của những người làm báo: quyền được nói tất cả những gì mình nghĩ trong cùng một không gian thông tin của những vấn đề quan tâm mà không bị kiểm duyệt trước. Và diễn đàn tự do này đã thành công. Trong một thời gian rất ngắn, DCVOnline đã trở thành một diễn đàn đông đảo nhất trong cái thế giới ngày một trở nên chật chội của các diễn đàn Internet. Khi tôi viết những dòng này thì DCVOnline đang được Alexa - một công ty quốc tế chuyên về số liệu thống kê lưu lượng của các websites - xếp hạng 16363, vượt lên trên tuyệt đại đa số các trang web và những tờ điện báo tiếng Việt khác.
Trần Trung Việt
“A shocker”! (Một cú sốc!)
Đó là từ mà một người bạn của tôi đã dùng để mô tả cảm giác của anh ấy trong một i-meo khi chúng tôi trao đổi về bức thư của ông Hoàng Tiến, một nhà bất đồng chính kiến, cáo buộc ông Nguyễn Thanh Giang, một nhà bất đồng chính kiến khác, về tội “háo danh”, “cá nhân chủ nghĩa”, và “cơ hội”.
Tôi không thấy sốc khi đọc bức thư này lần đầu tiên trên talawas.org. Tôi cũng không thấy sốc khi đọc lại nó sau một đêm ngủ ngon. Lúc này đây, sau khi đã đọc nó vài lần nữa để tìm hiểu cái lý do đã làm người bạn của mình bị sốc, tôi vẫn không thấy sốc. Bài này là để thanh minh thanh nga với người bạn của tôi, cũng như với những bạn đọc đã bị “sốc” khác của DCVOnline, về cảm giác “không bị sốc” của mình.
Trần Trung Việt
Một trăm năm trước sự sụp đổ toàn diện của chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới, một vấn đề khác đã làm điên đầu các lý thuyết gia Mác-xít : "Tại sao không xuất hiện một đảng lao động hay một phong trào xã hội chủ nghĩa đáng kể nào ở Mỹ, quốc gia tư bản phát triển nhất thế giới?".
Friedrich Engels đã cố gắng một cách tuyệt vọng để trả lời câu hỏi này trong những năm cuối cùng của cuộc đời mình. Lenin và Trotsky cũng quan tâm sâu sắc về vấn đề này vì nó đặt ra những thách thức nền tảng cho luận cứ của chủ nghĩa duy vật lịch sử được chính Mác mô tả trong Tư Bản Luận: "quốc gia phát triển cho những quốc gia kém phát triển thấy hình ảnh tương lai của họ".
Cho đến trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, các nhà lý luận cộng sản hàng đầu đều tin tưởng rằng những quốc gia tư bản công nghiệp sẽ dẫn dắt thế giới tới chủ nghĩa xã hội. August Bebel, lãnh tụ của đảng Dân Chủ Xã Hội Đức đã khẳng định : "Mỹ sẽ là quốc gia đầu tiên mở ra kỷ nguyên cộng hòa xã hội chủ nghĩa". Lúc đó là năm 1907. Đảng này đã là một đảng chính trị lớn mạnh trên chính trường Đức và cũng là đảng Mác-xít mạnh nhất thế giới. Trong khi đó, đảng Xã Hội Mỹ vẫn chưa có quá 2% cử tri nhưng thuộc một quốc gia có nền kinh tế tư bản phát triển.


