Dân chủ nào?

| | Comments (0)
Trần Trung Việt

Cuộc tranh luận, và sự lựa chọn, giữa dân chủ và độc tài, giữa tự do và sợ hãi coi như là đã kết thúc. Thật ra nó đã phải kết thúc từ lâu nếu không có những lập luận dây dưa, và ngày càng trở nên tẻ nhạt, của những người hoặc tin hoặc ngụy biện, cho cái gọi là “độc tài có lợi cho phát triển”, hoặc “dân chủ, đa đảng là loạn”. Ngày nay, những người ương ngạnh nhất cũng đã phải nói đến dân chủ dưới một hình thức nào đó - dân chủ trong đảng chẳng hạn. Sự tồn tại của thể chế chính trị độc đoán hiện nay không là dấu chỉ của một cuộc tranh luận chưa ngã ngũ mà đơn thuần chỉ là vấn đề của sự chuyển động của các lực lượng dân chủ chưa đủ mạnh để kéo sang lề lịch sử cái xác chết toàn trị đang thối rữa mà thôi.

Cuộc tranh luận kế tiếp, có khả năng ám ảnh sinh hoạt chính trị và học thuật Việt Nam trong vài thập niên tới, không còn là dân chủ hay không dân chủ mà là dân chủ nào? Nền dân chủ Việt Nam sẽ là sự lập lại, có chọn lọc, một mô hình dân chủ hiện đại có sẵn? Hay là một mô hình dân chủ nào đó thuần Việt như những người theo trường phái “dân tộc” phác họa? Hay chỉ là chuyện bình mới rượu cũ: một mô hình dân chủ đã có với một cái tên thuần Việt như một phát minh mới? v.v…
Không ai biết chắc câu trả lời. Tuy nhiên có một điều chắc chắn là dù bất cứ mô hình nào thì nền dân chủ Việt Nam, cũng như tất cả những nền dân chủ khác trên thế giới, cũng phải chịu sự chi phối của điều kiện nhân văn, lịch sử, và chính trị của giai đọan chuyển tiếp. Thử thách lớn nhất cho những người cầm cân nảy mực trong giai đoạn chuyển tiếp này là làm sao để những điều kiện đã có này không trở thành chướng ngại, và sự ám ảnh dai dẳng, trong việc lựa chọn một tương lai dân chủ phù hợp với tâm lý và văn hóa chính trị Việt Nam.

Một giản đồ cơ sở cuả pháp luật trong một xã hội lành mạnh — Nguồn: endervidualism.com
Lịch sử các nền dân chủ trên thế giới là một lịch sử của tiến trình sinh tồn và đào thải. Hai trăm năm của nền dân chủ hiện đại đã chứng kiến nhiều thử nghiệm và thất bại, trong số đó có dân chủ toàn trị (totalitarian democracy), dân chủ tập trung, dân chủ Xô-Viết, v.v...Thậm chí thất bại nhiều hơn thành công. Có hai mô hình thành công nhất, phổ biến nhất, khả năng sinh tồn cao nhất trong tiến trình phát triển và đào thải đó: dân chủ xã hội (social democracy) và dân chủ tự do (liberal democracy).

Hành trình dân chủ của nhân loại trong mấy thập niên qua chứng kiến sự hội tụ của các giá trị phổ quát từ hai mô hình dân chủ này. Cả dân chủ xã hội lẫn dân chủ tự do đều cổ xúy các quyền tự do phổ quát - ngôn luận, tín ngưỡng, báo chí, bầu cử, lập hội, v.v…, đều có một nền kinh tế thị trường, đều bảo vệ môi sinh, đều có chính sách phúc lợi xã hội, đều bảo vệ quyền của thiểu số, đều có một nền tư pháp độc lập, và hàng lọat những giá trị khác. Sự khác biệt lớn nhất giữa hai mô hình này có thể tìm thấy trong các khái niệm và cơ chế đảm bảo sự bình đẳng - mục tiêu của dân chủ, cũng như vai trò và quyền hạn của nhà nước trong mối tương quan với xã hội dân sự và tự do cá nhân. Từ đó đưa đến những khác biệt về chính sách ảnh hưởng trực tiếp và hình thành nên đặc tính và căn cước của đời sống kinh tế chính trị quốc gia.

Ngày nay gần như tất cả các đảng chính trị theo khuynh hướng dân chủ xã hội đều đã ly thân khỏi chủ nghĩa Mác. Đảng Dân chủ Xã hội Đức, đảng dân chủ xã hội và Mác-xít lâu đời nhất thế giới, đã từ bỏ chủ nghĩa Mác từ năm 1959 tại đại hội Bad Godesberg. Tuy nhiên những ám ảnh của cái thời đại tiền tư bản sơ khai đầy máu và nước mắt của phong trào thợ thuyền đấu tranh sống còn với giới chủ tư bản - thời đại sinh ra chủ nghĩa Mác - vẫn còn đeo đuổi dai dẳng sinh hoạt của các đảng chính trị này. Trong một thời gian rất dài, công đoàn vẫn là xương sống của họ. Quan tâm hàng đầu của các đảng này khi cầm quyền là thực thi bình đẳng xã hội cho giới thợ thuyền. Bình đẳng, trong khái niệm của những người theo khuynh hướng dân chủ xã hội, là bình đẳng về thành quả (equality of outcome). Do đó, theo họ, vai trò chính yếu của nhà nước trong việc thực thi bình đẳng là cào bằng thành quả xã hội. Không phải ngẫu nhiên mà tất cả các nền dân chủ xã hội đều xây dựng nên một nhà nước phúc lợi (welfare state). Nhà nước phúc lợi dùng thuế để “chia lại tài sản”. Thuế thu nhập ở các quốc gia rất này rất cao; chiếm gần 50%, hoặc cao hơn, ở vài quốc gia Bắc Âu.

Như một dấu vết khác của chủ nghĩa Mác - quốc hữu hóa phương tiện sản xuất, trước khi buộc phải xóa bỏ kinh tế tập trung để chấp nhận kinh tế thị trường tự do, nhà nước trong các quốc gia dân chủ xã hội đóng một vai trò rất lớn và nặng nề trong sinh hoạt kinh tế. Nhà nước gánh vác nhiều trách nhiệm của xã hội dân sự.

Hơn một thế kỷ qua, các đảng dân chủ xã hội đã không ngừng lột xác để thích nghi với điều kiện chính trị mới. Là những đảng chính trị ra đời và đựơc nuôi dưỡng bởi chủ nghĩa Mác và phong trào công nhân, nhưng các đảng dân chủ xã hội đã không thương tiếc từ giã cả hai khi cần thiết. Khi hệ phống phúc lợi xã hội, niềm kiêu hãnh của các nước dân chủ xã hội trong những thập niên '70 và '80, trở nên một gánh nặng làm trì trệ nền kinh tế và triệt tiêu năng động và sáng kiến cá nhân - động lực chủ yếu của đời sống kinh tế, thì các quốc gia này đã không ngần ngại thay đổi chính sách. Mấy thập niên qua, họ đang theo đuổi một chính sách chú trọng đến thị trường tự do, giới hạn ảnh hưởng của chính quyền trong sinh hoạt kinh tế, giảm thuế, cải cách an sinh xã hội để khuyến khích trách nhiệm cá nhân. Seymour Martin Lipset, giáo sư Viện Đại học George Mason, đã dùng cụm từ “sự Mỹ hóa của chính trị cánh tả Âu châu” để miêu tả sự lột xác này của các đảng dân chủ xã hội Âu châu.

Dân chủ tự do, tồn tại ở Mỹ và ở các quốc gia Á châu không bị ảnh hưởng của lịch sử phát triển tiền tư bản Âu châu, chú trọng vào quyền và trách nhiệm tự do cá nhân. Nếu bất bình đẳng xã hội là quan tâm lịch sử của dân chủ xã hội thì sự lạm dụng quyền lực nhà nước để khống chế tự do cá nhân là quan tâm lịch sử của dân chủ tự do. Chống lại nhà nước độc tôn là căn cước chính trị của những người dân chủ tự do. Những người theo khuynh hướng này quan niệm bình đẳng là bình đẳng về cơ hội, thay vì bình đẳng về thành quả và phúc lợi xã hội. Họ chấp nhận sự bất bình đẳng về phúc lợi và thành quả xã hội như một điều kiện tự nhiên để thúc đẩy xã hội phát triển. Tuy nhiên, mọi cá nhân trong xã hội cần được bảo đảm những cơ hội thăng tiến ngang nhau. Cá nhân, khi có được cơ hội thăng tiến, có quyền và trách nhiệm về sự lựa chọn của họ. Vai trò chính yếu của nhà nước là bảo vệ tự do của công dân, bảm bảo quyền bình đẳng về cơ hội thăng tiến này. Công dân, không phải nhà nước, quyết định cuộc sống của họ. Dân chủ tự do cổ xúy một nhà nước nhẹ, một nhà nước không nhúng tay vào những công việc mà xã hội dân sự và cá nhân có thể tự do lấy. Nhà nước chỉ đóng vai trò điều khiển chính sách kinh tế vĩ mô, cơ chế luật pháp, bảo vệ công lý, môi trường. Những đặc điểm khác của dân chủ tự do là hoàn toàn tư hữu hóa nền kinh tế, chính sách thuế nhẹ, tự do kinh doanh, chính sách nhằm khuyến khích năng động và sáng kiến cá nhân. Hệ thống phúc lợi xã hội trong các quốc gia dân chủ tự do không nhằm mục đích tái phân phối thành quả xã hội mà chỉ nhằm mục đích cung cấp phương tiện để tái hội nhập với lực lượng sản xuất và tạo sự bình đẳng cơ hội thăng tiến.

Dân chủ nào?

Không nghi ngờ gì, và lịch sử các đảng cộng sản Đông Âu cho thấy như thế, dân chủ xã hội là lối thoát duy nhất, lối thoát vinh quang nhất, cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản có khả năng sẽ vỡ làm hai: i) những người thủ cựu duy trì một đảng cộng sản dựa trên nền tảng của một giai cấp công nhân, một cơ cấu sinh hoạt đảng, và phương pháp tiếp cận chính trị chuyên chính được định nghĩa trong chủ nghĩa Mác-Lênin, và ii) những người cấp tiến tiếp tục tham gia sinh hoạt chính trị quốc gia dưới một bình phong mới: dân chủ xã hội. Ngoài những liên hệ lịch sử từ chủ nghĩa Mác - các đảng dân chủ xã hội đều xuất thân từ Quốc tế II hoặc hiện nay có chân trong Quốc tế Xã hội chủ nghĩa, một tổ chức quốc tế của các đảng dân chủ xã hội, những người cộng sản cấp tiến có thể tìm thấy trong dân chủ xã hội cái lý tưởng mời gọi đầu tiên khi họ đến với chủ nghĩa cộng sản: bình đẳng về thành quả và phúc lợi xã hội.

Điều này không có nghĩa dân chủ xã hội là tương lai của dân chủ Việt Nam. Ưu tiên lớn nhất trong tiến trình chuyển tiếp dân chủ là loại bỏ sự độc tôn của quyền lực nhà nước mà thể chế độc tài toàn trị đã xây dựng trong suốt mấy thập niên qua, tháo gỡ các cơ cấu nhằm kiểm sóat và đàn áp sinh hoạt của xã hội dân sự, gây dựng lại các nền tảng giá trị đạo đức và văn hóa, phục hồi sự cân bằng về bình đẳng cơ hội thăng tiến, kích thích năng động chính trị và sáng kiến cá nhân. Cuộc chuyển tiếp dân chủ của Việt Nam phải nhằm giải quyết cùng một lúc nhiều vấn đề khác nhau, trong đó có vấn đề quyền lực nhà nước. Việt Nam đã đi tụt hậu quá xa đối với thế giới. Chúng ta không có cái xa xỉ về thời gian để từ từ giải quyết từng vấn đề một.

Dân chủ nào?”, trên thực tế, là quan tâm của các tổ chức đảng chính trị, hơn là quan tâm của cử tri, trong việc xây dựng chỗ đứng có thể nhận diện được của họ trên băng tần chính trị Việt Nam. Điều quan trọng là những tổ chức đảng chính trị này phải đủ đa dạng để đại diện cho những giải pháp khác nhau cho một sự lựa chọn đầy đủ của cử tri. Có quyền chọn nhưng thiếu cái để chọn cũng nguy hiểm như không được lựa chọn vậy. Và đây chính là điều rất đáng lo ngại của chuyển tiếp dân chủ Việt Nam: sau hơn 30 năm vận động dân chủ kể từ khi chiến tranh chấp dứt, các khái niệm và giá trị căn bản của dân chủ tự do, một mô hình dân chủ đang phát triển mạnh mẻ ở các nền dân chủ trẻ Á châu, vẫn chưa bén rễ trong phong trào dân chủ Việt Nam. Nếu có một lựa chọn lúc này ở các thùng phiếu thì sự lựa chọn của cử tri Việt Nam vẫn còn rất nghèo nàn.

Phụ chú: sự lành mạnh của dân chủ và của phong trào dân chủ

“Phong trào dân chủ lớn hơn tổ chức chính trị, lớn hơn tất cả các tổ chức chính trị hợp lại,” Trần Trung Việt — Nguồn: social-ecology.org
Dân chủ nào thì trước hết phải là một nền dân chủ lành mạnh. Trái với trực giác, sự lành mạnh của sinh hoạt chính trị dân chủ trong một quốc gia tùy thuộc rất ít vào sự lành mạnh của sinh hoạt tổ chức chính đảng. Nó tùy thuộc nhiều hơn, có tính quyết định hơn, vào sự trưởng thành của các tổ chức của xã hội dân sự. Quan tâm lớn nhất, có tính bản chất, của đảng chính trị là quyền lực. Thực tế cho thấy ngay cả những tổ chức đảng lý tưởng nhất, trong sạch nhất cũng sẳn sàng thỏa hiệp, thao túng hoặc bị thao túng, vì quyền lực. Các tổ chức của xã hội dân sự, đặc biệt là các tổ chức truyền thông đại chúng, do đó, phải có khả năng kiểm soát các đảng chính trị. Các tổ chức của xã hội dân sự phải luôn luôn nhắc nhở cho các tổ chức đảng biết rằng mọi hành xử của họ đang được giám sát chặt chẽ.

Sự lành mạnh của chuyển tiếp dân chủ phụ thuộc rất lớn vào sự lành mạnh của phong trào dân chủ tiền chuyển tiếp. Và vấn đề trở nên: làm sao để giữ cho phong trào dân chủ phát triển lành mạnh trong một môi trường toàn trị mà ở đó i) mọi phương tiện thông tin đều nằm trong tay đảng cầm quyền và ii) thường xuyên phải đối diện với sự chống phá, bôi nhọ không ngừng nghỉ của các thế lực phản dân chủ đang cầm quyền? Không có cách nào khác hơn là dùng các cơ chế dân chủ. Phong trào dân chủ phải vận hành trên những nguyên tắc mở, có cơ chế tự kiểm soát và khả năng tự điều chỉnh và đào thải. Hiện nay đang tồn tại một lập luận có tính ngụy biện cho rằng không cần có dân chủ trong một tổ chức chính trị đang đấu tranh cho dân chủ. Những người cổ xúy cho lập luận này đưa ra nhiều lý do: thiếu phương tiện liên lạc, là tổ chức cách mạng, dân chủ không tồn tại ở tầm mức tổ chức. Vân vân và vân vân. Từ đó đưa đến một thực tế rất cay đắng là phần lớn các tổ chức chính trị trong phong trào dân chủ đều là những tổ chức phi dân chủ từ trong cơ cấu. Một phong trào dân chủ nếu chỉ là tập hợp của những tổ chức phi dân chủ không thể là một phong trào dân chủ lành mạnh được.

Phong trào dân chủ lớn hơn tổ chức chính trị, lớn hơn tất cả các tổ chức chính trị hợp lại. Do đó, nó không thể giao hẳn sự sống còn của nó cho các tổ chức chính trị. Nó không thể chỉ trông chờ vào sự lành mạnh của các tổ chức đảng cho sự lành mạnh của nó. Để phát triển lành mạnh, ngay từ lúc hình thành, phong trào dân chủ cần phải có những cơ chế tự kiểm soát. Đối với một cuộc vận động dân chủ, cứu cánh và phương tiện là một. Nếu cứu cánh là dân chủ thì phương tiện phải là dân chủ. Những hành xử phi dân chủ, những ý tưởng phi dân chủ, những cơ cấu tổ chức phi dân chủ - ngay cả khi từ những người đang đứng mũi chịu sào của phong trào, cần phải được cơ chế tự kiểm soát này phát hiện và chấn chỉnh lập tức trước khi chúng có nguy cơ trở thành những ung nhọt trong giai đọan chuyển tiếp.

Cơ chế tự kiểm soát này là gì? Là công luận. Có một lập luận khá phổ biến hiện nay cho rằng công chúng chưa đủ trưởng thành, hoặc phong trào dân chủ chưa đủ mạnh, hoặc cả hai, để có thể tiếp nhận sự phê phán, rằng các thế lực chống phá sẽ lợi dụng sự phê phán này để làm suy yếu phong trào. Lập luận này chỉ là dấu vết của sự sợ hãi còn sót lại hơn là kết quả của những lý luận có chứng cớ. Trước hết, công chúng bao giờ cũng đủ trưởng thành. Đây là không là một suy diễn hay một kết quả thực nghiệm mà, hơn thế, là một niềm tin. Nền tảng căn bản của những cố gắng vận động dân chủ là niềm tin cho rằng tất cả mọi công dân đều có quyền bình đẳng về chính trị, đều có khả năng quyết định sinh mạng chính trị của mình. Không thể vừa đấu tranh để công chúng có được quyền chỉ định người lãnh đạo quốc gia vừa cho rằng công chúng này không đủ khả năng để phân biệt phải trái. Các thế lực chống phá bao giờ cũng có - bây giờ là đảng cộng sản, sau này là các lực lượng phản dân chủ khác. Hiện nay các lực lượng này đang len lỏi trong bóng tối, trong các egroups, các mailing-list, các hộp thư điện tử để tiến hành một cuộc chiến tâm lý và tuyên truyền nhằm bôi nhọ những gương mặt đấu tranh cho dân chủ. Tuy nhiên, ngoài sự sợ hãi của chúng ta, không có bằng chứng gì cho thấy những cố gắng này đã làm tổn thất gì cho phong trào.

Không có lựa chọn nào khác hơn là phải dựa vào công luận để lành mạnh hóa sinh hoạt của phong trào dân chủ. Để phát huy được sức mạnh công luận thì phải cần đến các tổ chức truyền thông độc lập. Đây là vai trò của các cơ quan truyền thông độc lập trong phong trào dân chủ. Quan hệ giữa một cơ quan truyền thông độc lập với các tổ chức, cá nhân đấu tranh khác với quan hệ của "báo đảng" và đảng cộng sản, khác với quan hệ giữa các tổ chức và cơ quan ngôn luận của họ. Một cơ quan truyền thông độc lập là cơ quan ngôn luận của công chúng. Đối tượng phục vụ của một cơ quan truyền thông độc lập là xã hội dân sự - hoặc phong trào dân chủ trong giai đoạn tiền chuyển tiếp. Một cơ quan truyền thông độc lập không phục vụ bất cứ một tổ chức hoặc cá nhân đấu tranh nào.

Nói tóm lại, không có những cơ quan truyền thông độc lập thì không phát huy được sức mạnh công luận. Không có sức mạnh công luận thì không có một phong trào dân chủ lành mạnh. Không có một phong trào lành mạnh thì sẽ không giải quyết được những vấn đề nan giải của giai đoạn chuyển tiếp. Và hậu quả của những cái "không" này là một nền dân chủ bệnh hoạn với những ám ảnh dai dẳng của những tàn dư còn sót lại của cái xã hội toàn trị.

Mà đã bệnh hoạn thì dân chủ nào cũng thế thôi.

Pennsylvania, 6/5/2006

Copyright © 2006 by DCVOnline

Categories

Leave a comment

About this Entry

This page contains a single entry by dcvblogs published on October 22, 2007 3:44 AM.

Tuyên ngôn 2006 và não trạng sứ quân was the previous entry in this blog.

Tạp ghi TTV (4) is the next entry in this blog.

Find recent content on the main index or look in the archives to find all content.

danchimviet
danchimviet