Cái chết định trước
Trần Trung Việt
30/4/1975 đánh dấu sự kết thúc 19 năm của nền cộng hòa non trẻ ở miền Nam. Tuy nhiên cái chết của nó đã được định đoạt gần ba mươi năm trước đó.
Lý do mà nền cộng hòa ở miền Nam bị bức tử rất đơn giản: những người thật sự có tài đảm lược để lèo lái con thuyền Quốc gia, những người có đủ gia sản chính trị để đại diện cho chính thống dân tộc đã bị cộng sản giết chết từ những năm 1945 rồi!
Tại sao Hồ Chí Minh không giết Ngô Đình Diệm, Bảo Đại, không giết Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam, v.v
mà chỉ giết Huỳnh Phú Sổ, Trương Tử Anh, Lý Đông A, v.v...?
Trong những cái “tài” chính trị của Hồ Chí Minh, cái tài đáng kể nhất là nhìn ra kẻ thù từ đằng xa. Hồ Chí Minh, từ những năm ’45, đã hiểu rằng những người Quốc gia chân chính này là hiểm họa cho đảng cộng sản non trẻ của ông ta. Giết họ là “thượng sách” trong cái văn hóa chính trị bạo lực hai phần phương Đông tám phần cộng sản của Hồ Chí Minh.
Nền tự do ngắn ngủi mà miền Nam có được sau 1954 từ đâu mà có? Chắc chắn không phải do ngoại bang ban phát. Nền tự do đó có được là do máu và nước mắt của người Việt Nam, và người miền Nam nói riêng, đã đổ ra trong suốt gần 100 năm chống thực dân Pháp.
Ngô Đình Diệm, và những người lãnh đạo miền Nam sau ông, không đem lại tự do cho miền Nam. Họ chỉ được lịch sử đặt để với trách nhiệm bảo vệ nền tự do mà người miền Nam đã đổ máu để có được đó. Và họ đã thất bại. Các thể chế chính trị của Việt Nam Cộng Hòa đã thất bại trong việc bảo vệ nền tự do của miền Nam mà lịch sử đã giao cho họ. Không thể đổ lỗi cho ai khác.
Năm mươi năm sau ngày Ngô Đình Diệm được Bảo Đại chọn làm thủ tướng, người ta vẫn còn tranh cãi về những lý do đằng sau quyết định này. Phần lớn người ta tin rằng việc chọn Ngô Đình Diệm làm thủ tướng là ý muốn của Mỹ. Tuy nhiên, gần đây ông Trần Minh Châm, một quan chức cao cấp của Bộ Ngoại giao Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa, qua ông Nguyễn Gia Kiểng ở Paris, đã đưa ra những bằng chứng cho thấy đó chính là ý muốn của người Pháp. Dù Pháp hay Mỹ thì một điều trở nên hiển nhiên là Ngô Đình Diệm làm thủ tướng là quyết định của những người không đại diện cho người miền Nam lúc đó. Nếu Phan Huy Quát được chọn, thay vì Ngô Đình Diệm, thì số phận của nền cộng hòa miền Nam sẽ khác đi chăng? Không có bằng chứng gì củng cố luận điểm này. Trong bối cảnh lịch sử của thời điểm đó, và trong tất cả những người Quốc gia còn lại có thể được chọn, Ngô Đình Diệm là người xứng đáng nhất.
Trong một thời gian rất ngắn, Ngô Đình Diệm đã làm đựơc nhiều việc để củng cố nền cộng hòa non trẻ, kể cả việc truất phế Bảo Đại, người đại diện cho một triều đại từ rất lâu không còn là hiện thân của quyền lợi dân tộc.
Điều mà ông không làm được, mà cộng sản đã làm được, là biết tận dụng những lực lượng chính thống dân tộc để chính thống hóa cơ chế chính trị của mình.
Chính thống dân tộc trong giai đoạn lịch sử đó, và trong gần như toàn bộ chiều dài lịch sử của dân tộc Việt, là đấu tranh chống ngoại xâm. Lực lượng nào, cầm quyền hay không cầm quyền, tham gia đấu tranh chống ngoại xâm thì lực lượng đó đại điện cho chính thống dân tộc. Chính thống dân tộc, từ sau Vua Duy Tân, ông vua chống Pháp cuối cùng của Triều Nguyễn, đã đi ra khỏi triều đình Huế. Việc chính phủ Quốc Gia Việt Nam của Bảo Đại được Pháp trao trả độc lập năm 1949 có thể có một vài ý nghĩa pháp lý nào đó nhưng không có ý nghĩa lịch sử gì vì Bảo Đại không còn đại diện cho chính thống dân tộc Việt nữa. Trước khi là thủ tướng của Bảo Đại, Ngô Đình Diệm là quan thượng thư của Triều đình Huế. Ông hiểu rất rõ việc phải rũ bỏ cái quá khứ không chính thống này. Việc truất phế Bảo Đại, do đó, là việc cần làm. Và nền đệ nhất cộng hòa được thiết lập này 26/10/1956.
Tuy nhiên, kịch bản trưng cầu dân ý không đem lại đủ tính chính thống cho nó. Và ông Diệm đã không làm gì hơn. Xuất thân từ văn hóa chính trị Nho giáo, có lẽ Ngô Đình Diệm tin rằng việc lịch sử đẩy đưa ông vào cương vị nguyên thủ quốc gia đã đủ để chính thống hóa vị trí chính trị của ông.
Không thu phục đựơc các lực lượng thân Pháp, Ngô Đình Diệm cũng không đoàn kết được các lực lượng chống Pháp không cộng sản ở miền Nam. Cái xương sống của nền đệ nhất cộng hòa không phải là các lực lượng kháng chiến chống Pháp cũ mà là các lực lượng công giáo, phần lớn di cư từ miền Bắc. Ngô Đình Diệm đã không xây dựng được những cơ chế dân chủ đủ mạnh để đoàn kết các lực lượng này. Các lực lượng kháng Pháp không cộng sản miền Nam dần dần bị thanh trừng, bị đẩy sang bên lề của sinh hoạt chính trị. Phần khác đi theo cộng sản rồi chỉ để, sau khi chiến tranh chấm dứt, vỡ mộng khi hiểu ra họ đã bị cộng sản lợi dụng. (Cho đến hôm nay, lực lượng chính thống dân tộc đi theo cộng sản ở miền Nam vẫn không có mặt trong các vai trò quan trọng của chính quyền. Đây là một đề tài khác cho một dịp khác). Những người lãnh đạo quân đội, chổ dựa của chính quyền, trở nên xa lánh và phản trắc.
Cuộc đảo chánh của quân đội và cái chết của Ngô Đình Diệm dọn đường cho sự thất bại toàn diện của miền Nam năm 1975. Mười hai năm kế tiếp của Việt Nam Cộng Hòa chỉ là giai đoạn thoi thóp của một con bệnh không còn thuốc chữa. Quân đội viễn chinh Mỹ vào miền Nam đem theo cổ quan tài cho Việt Nam Cộng Hòa. Người Việt không chấp nhận sự có mặt của quân đội ngoại bang trên lãnh thổ của mình. Đơn giản như thế!
Cần phải mở một dấu ngoặc để nhắc nhở đến một lực lượng quốc gia đông đảo khác đang lớn lên trong lòng Việt Nam Cộng Hòa. Khác với những người lãnh đạo miền Nam thế hệ trước, họ không có liên lụy gì đến chính quyền thực dân trước 1954. Họ là những người lính quốc gia thực thụ không xuất thân từ quân đội viễn chinh Pháp. Họ chống cộng sản và yêu dân chủ. Rất tiếc lịch sử đã không cho họ đủ thời gian. Lúc nền cộng hòa ở miền Nam sụp đổ họ là những sĩ quan cấp trung, nhận lệnh từ những tướng lãnh vong thân và bất tài. Và họ hy sinh. Những người không chết trong cuộc chiến tiếp tục những năm tháng kế tiếp trong các trại tù dã man của kẻ thắng trận. Họ là những người đã trả giá đắt nhất cho nền tự do của miền Nam.
Hành trình của nhân loại là hình trình đi tìm tự do. Tự do đó, trong đời sống của một dân tộc, là độc lập với ngoại bang. Ước vọng tự do là sinh lực chính duy trì sự tồn tại của dân tộc Việt trong suốt chiều dài lịch sử chống ngoại xâm. Khi dân tộc chưa được độc lập thì chính thống dân tộc thuộc về các lực lượng chống ngoại xâm. Một khi dân tộc được độc lập, cuộc hành trình tìm tự do tiếp tục với mỗi cá nhân đi tìm tự do cho mình. Khi dân tộc đã có độc lập thì chính thống dân tộc thuộc về các lực lượng đấu tranh cho tự do của mỗi cá nhân. Đây chính là nội hàm của cuộc vận động cho dân chủ và nhân quyền hiện nay.
Biết dùng các lực lượng chính thống dân tộc để chính thống hóa cơ chế chính trị của mình là bài học lớn nhất từ cái chết của nền cộng hòa miền Nam. Một cơ chế chính trị tồi bại như Cộng sản Việt Nam mà vẫn còn tồn tại đến ngày nay phần lớn là dựa trên cái gia sản chính trị có được từ trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Cái gia sản này đang cạn kiệt. Những người lãnh đạo đảng Cộng sản hiểu rõ rằng nếu họ không biết dùng các lực lượng dân chủ để chính thống hóa và phục hồi cái cơ chế chính trị đang thối rữa của họ thì họ sẽ không đứng vững được bao lâu nữa.
Thật ra, họ đang đứng trước một cái chết định trước khác.
Pennsylvania, 1/11/2006
Phụ chú: Những ý tưởng trong bài viết này bắt nguồn từ những ý tưởng của anh Triệu Hải Âu ở Dallas trong những trao đổi với anh trước đây. Xin chân thành cảm tạ anh Triệu Hải Âu đã chia sẻ.
Copyright © 2006 DCVOnline

Leave a comment