<?xml version="1.0" encoding="utf-8"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom">
    <title>Truyền Thông</title>
    <link rel="alternate" type="text/html" href="http://www.dcvblogs.com/truyen-thong/" />
    <link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.dcvblogs.com/truyen-thong/atom.xml" />
    <id>tag:www.dcvblogs.com,2007-10-22:/truyen-thong//22</id>
    <updated>2008-01-20T01:14:13Z</updated>
    
    <generator uri="http://www.sixapart.com/movabletype/">Movable Type Publishing Platform 4.0</generator>

<entry>
    <title>Tam điểm tại Việt Nam </title>
    <link rel="alternate" type="text/html" href="http://www.dcvblogs.com/truyen-thong/2008/01/tam-dim-ti-vit-nam.html" />
    <id>tag:www.dcvblogs.com,2008:/truyen-thong//22.606</id>

    <published>2008-01-19T23:24:47Z</published>
    <updated>2008-01-20T01:14:13Z</updated>

    <summary>Mùa Hạ 2007 - Số 24Été 2007 N° 24 Phạm Hữu Trác Người Pháp đã dùng văn hóa khai hóa dân &amp;#8220;bản xứ&amp;#8221;, hầu lôi kéo một số trí thức ngả theo văn minh Âu Tây, trong đó hoạt động...</summary>
    <author>
        <name>Tran Giao Thuy</name>
        
    </author>
    
    
    <content type="html" xml:lang="en-us" xml:base="http://www.dcvblogs.com/truyen-thong/">
        <![CDATA[<p><font style="font-size: 0.8em;"><span style="font-family: Tahoma;"><font size="3"><font color="#000000"><font style="font-size: 0.8em;"><font style="font-size: 1em;">Mùa Hạ 2007 - Số 24</font><br /></font></font></font></span></font>Été 2007 N° 24</p><span style="font-family: Tahoma;"></span>
<p style="font-style: normal;" align="left"><font color="#000000"><font face="Verdana, sans-serif"><font size="4">Phạm
Hữu Trác</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><font style="font-size: 1.95312em;">N</font>gười
Pháp đã dùng văn hóa khai hóa
dân &#8220;bản xứ&#8221;, hầu lôi kéo một số trí
thức ngả theo văn minh Âu Tây, trong đó hoạt
động của hội Tam Điểm
Pháp góp phần đáng kể. </font></font>
</p>
<p style="font-style: normal;" align="justify"><font color="#000000"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Bài
viết dưới đây thử tìm lại hoạt động của
Tam Điểm Pháp trên cõi Đông Duơng và
sự tham dự của những người Việt Nam trong nửa đầu
của thế kỷ 20. </font></font></font>
</p>
<div id="sdfootnote1">
	<p class="sdfootnote"><a class="sdfootnotesym" name="sdfootnote1sym" href="http://www.dcvblogs.com/mt/mt-static/html/editor-content.html?cs=utf-8#sdfootnote1anc"><br /></a> 
	</p>
</div>
 ]]>
        <![CDATA[
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><font style="font-size: 1.95312em;">N</font>gười
Pháp đã dùng văn hóa khai hóa
dân &#8220;bản xứ&#8221;, hầu lôi kéo một số trí
thức ngả theo văn minh Âu Tây, trong đó hoạt
động của hội Tam Điểm<a class="sdfootnoteanc" name="sdfootnote1anc" href="http://www.dcvblogs.com/mt/mt-static/html/editor-content.html?cs=utf-8#sdfootnote1sym"><sup>1</sup></a>
Pháp góp phần đáng kể. </font></font>
</p>
<p style="font-style: normal;" align="justify"><font color="#000000"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Bài
viết dưới đây thử tìm lại hoạt động của
Tam Điểm Pháp trên cõi Đông Duơng và
sự tham dự của những người Việt Nam trong nửa đầu
của thế kỷ 20. </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><font face="Verdana, sans-serif"><br />Hoạt
động của giới trí thức Việt Nam cuối thế kỷ
19 và đầu thế kỷ 20 có những giai đoạn
chuyển mình rõ rệt, tuơng ứng với tình
hình chính trị thuộc địa của người Pháp
tại Đông Dương. Phong trào Cần Vương lấy sự
chống Pháp bằng quân sự do hịch hiệu triệu
của vua Hàm Nghi từ đất lưu vong Quảng Trị chẳng
kéo dài bao lâu. Phong trào Duy tân
và Đông du do nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục
mà trụ cốt là Phan Chu Trinh và Phan Bội
Châu cũng tan rã trước sự đàn áp
của chính quyền thuộc địa.</font></font></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Người
Pháp đã dùng văn hóa khai hóa
dân &#8220;bản xứ&#8221;, hầu lôi kéo một số trí
thức ngả theo văn minh Âu Tây, trong đó hoạt
động của hội Tam Điểm<a class="sdfootnoteanc" name="sdfootnote2anc" href="http://www.dcvblogs.com/mt/mt-static/html/editor-content.html?cs=utf-8#sdfootnote2sym"><sup>2</sup></a>
Pháp góp phần đáng kể. </font></font>
</p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Bài
viết dưới đây thử tìm lại hoạt động của
Tam Điểm Pháp trên cõi Đông Duơng và
sự tham dự của những người Việt Nam trong nửa đầu
của thế kỷ 20. </font></font>
</p>

<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Lúc
Napoléon III quyết định mở cuộc xâm chiếm
Việt Nam từ 1858 thì bộ trưởng hải quân
Chasseloup-Laubat, một hội viên tam điểm, tán
thành nhiệt liệt. </font></font>
</p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Nam
kỳ vừa được hoàn toàn &#8220;bình định&#8221;
tháng 12 năm 1867, ngay khi Saigon còn là một
thành phố chưa mở mang với dân số khoảng
50.000 người (gồm cả Hoa kiều trong Chợ Lớn) và
500 người Pháp, ngày 10-11-1868, mười tám
người Pháp đã thành lập loge tam điểm
đầu tiên, lấy tên là &#8220;Le Réveil de
l&#8221;Orient&#8221;. Tính đến năm 1870 loge này có
37 hội viên và năm 1876 đã có 69 người
gia nhập. </font></font>
</p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Sau
khi chiếm xong Trung và Bắc kỳ, năm 1887 Paris quyết
định thành lập Union Indochinoise, gom lại dưới
quyền cai trị thống nhất, ba miền Trung Nam Bắc Việt
Nam, Cao Mên và Lào, Constans (Bộ Trưởng Nội
Vụ tương lai), một hội viên tam điểm, mở đầu
chế độ toàn quyền Đông Dương. </font></font>
</p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Ở
Hà Nội, loge &#8220;Fraternité Tonki-noise&#8221; thành
lập năm 1886 do bác sĩ Jean-Marie de Lanessan đứng đầu,
gồm có các nhân vật: hai anh em nhà
Schneider, thuyền trưởng Robin, trung úy Hossinger và
ông Charles Halais. Lúc đầu có khoảng ba
chục hội viên, năm 1892 lên tới 54 hội viên
</font></font>
</p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Tại
Hải Phòng &#8220;L&#8217;Étoile du Tonkin&#8221; thành lập
năm 1892. </font></font>
</p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Năm
1907, Đà Nẵng thành lập loge &#8220;La Libre Pensée
d&#8217;Annam&#8221; 1907, đến 1911 loge này chuyển về Huế. </font></font>
</p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Từ
1897, các Toàn Quyền tại Đông Dương phần
nhiều đều là hội viên tam điểm: Paul Doumer,
Beau (1902-1908) Klobukowski(1908-1911) Đến thời Albert
Sarrault, thời kỳ trước thế chiến thư nhất, có
rất nhiều loges thành lập: bốn loges thuộc hệ
thống GLDF (Grand Loge de France). Nhân số năm 1906 có
500 hội viên. </font></font>
</p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Sau
một thời gian ít hoạt động do chiến tranh
1914-1918, kể từ 1919 các loges trở lại hoạt động
mạnh hơn: tại Saigon Les Abeilles d&#8217;Orient và la
Fraternité d&#8216;Extrême-Orient. </font></font>
</p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Cũng
như trước thế chiến thứ nhất, các Toàn
quyền sau đó phần nhiều là nhân viên
tam điểm: Long, Merlin, Varenne. </font></font>
</p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Alexandre
Varenne, thuộc nhóm xã hội rất được lòng
giới trí thức cấp tiến, đã dùng nhiều
người bản xứ trong hệ thống hành chánh của
ông. Dưới thời Varenne có nhiều người Việt
nam gia nhập tam điểm như sẽ trình bày sau. </font></font>
</p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Nhưng
phe bảo thủ Pháp lo ngại, dưới sự điều động
của Jean Lan, La Fraternité Tonkinoise chỉ trích
Varenne là mị dân, bất tài. Năm 1927 chính
phủ Point Carré thay thế Varenne bằng Pasquier. Khi
Pasquier chết năm 1933, loge l&#8217;Avenir Khmer đề nghị tái
bổ nhậm Varenne, nhưng cuộc vận động bất thành </font></font>
</p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Sau
cuộc khủng hoảng kinh tế 1930, Đông Dương có
nhiều biến động. Người Pháp phải đối phó
với cuộc vận động phục quốc của Quốc Dân Đảng,
sự thành lập Cộng Sản Đông Dương, Toàn
quyền Pasquier thi hành chính sách đàn
áp. Tình trạng này chia rẽ giới tam điểm,
Jean Lan thuộc loge Fraternité Tonkinoise đề nghị với
Grand Loge tán trợ hành động của Pasquier, trong
khi Jean Bouault thuộc Écossais du Tonkin và La Ruche
d&#8217;Orient chỉ trích chính sách Pasquier, họ
gọi đó là một chế độ độc tài cảnh
sát (dictature policière).<br /><br />Một số nhân
vật tam điểm Pháp ở trong phe đàn áp,
Maurice Weil, thuộc loge Khong Phu Tseu, chủ tọa tòa án
đề hình, chỉ trong 5 ngày đã xử 121
người Việt Nam tham gia cách mạng, trong khi hai nhà
giáo tam điểm khác, Constant Metter và Marcel
Ner gửi phúc trình về ủy ban trung ương Ligue
des droits de l&#8217;homme chỉ trích hành động của
Weil.<br /><br />Thời kỳ đen tối của Tam Điểm tại Việt
Nam khi Chiến tranh 1939 bắt đầu tại Âu Châu,
trong thời kỳ Đức chiếm đóng, chính quyền
Pháp do thống chế Pétain cầm đầu cấm Tam
Điểm họat động. Toàn quyền Decoux áp dụng
chính sách cấm đoán các hội kín
do Vichy chủ xướng từ tháng 8 năm 1940. Tài sản
và của các loges bị xung công hay phát
mãi. Luật ngày 11 tháng 8 năm 1941 cấm giới
cao cấp tam điểm giữ các chức vụ công
lập.<br /><br />Hết chiến tranh thứ hai, người Pháp trở
lại Đông Dương với Đô Đốc d&#8217;Argenlieu làm
Cao Ủy, Tam Điểm khôi phục lại một cách khó
khăn. Tại Sài gòn, ngay từ tháng 10 năm
1945 Ủy viên Cộng hòa Cédile thúc đẩy
Maurice Weil làm sống lại các loges. <br /><br />Ngày
11/12/1945, một cuộc họp khôi phục lại loge Khong Phu
Tseu, gồm có 10 nhân vật, trong đó chỉ có
một người Việt là bác sĩ Tân Hàm
Nghiệp.</font></font></p>
<p align="justify"> <font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><br />Theo
chân tướng Leclerc vào Bắc Việt đầu năm 1946,
tại Hà nội đã có vận động tái
lập loge La Fraternité Tonkinoise. Hai loges Confucius và
Les Écossais du Tonkin không hoạt động lại, Chỉ
có La Fraternité tonkinoise hồi phục dưới sự
chủ tọa của Eugène Berthet. Lúc đó độc
lập và thống nhất Việt Nam là vấn đề then
chốt, sự tham dự của người Việt trong tam điểm tại
Hà Nội hầu như rất giới hạn. </font></font>
</p>

<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Thời
đệ nhất cộng hòa của tổng thống Ngô Đình
Diệm, nhân số tam điểm ít dần, và hoạt
động thưa thớt. Chính quyền thời đó bắt
đầu ghé mắt đến trụ sở của hai loges &#8220;Khong
Phu Tseu&#8221; và &#8220;Réveil de l&#8217;Orient&#8221;. Năm 1960,
đô trưởng Sài gòn gửi văn thư cho
l&#8217;Association Le Réveil de l&#8217;Orient và Khong phu
Tseu yêu cầu hoàn lại bất động sản cho chính
quyền Việt nam. Cũng trong thời kỳ này một số tam
điểm Mỹ, mà nhân số lên đến 80 người,
vận động thành lập tam điểm hệ thống Phi Luật
Tân, nhưng không có kết qủa cụ thể.<br /><br />Sang
đệ nhị cộng hòa, năm 1965, Raymond Guilmet tổ chức
lại tam điểm nhờ sự trợ giúp của một nhân
viên trong Mission Culturelle, nhưng hoạt động yếu ớt,
nhân số năm 1972 vẻn vẹn còn 10 người, rồi
chấm dứt hoạt động hẳn từ 1975. </font></font>
</p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><br /></font></font></p><p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><b>Người
Việt Nam trong hội Tam Đìểm</b> </font></font>
</p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Mặc
dầu tam điểm đã hoạt động tại Việt Nam trong
buổi đầu của chế độ thuộc địa, nhưng chỉ dành
cho người Pháp. Tuy nhiên trong Franc-Macons
d&#8217;Indochine, Jacques Dalloz có ghi lại một người Việt
tên là Trần Nguyên Hanh đã gia nhập
&#8220;Le Réveil de l&#8217;Orient&#8221; năm 1884, nhưng bị khai trừ
vì không đóng niên liễm!</font></font></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><br />Đầu
thế kỷ 20, thường chỉ có người Việt Nam sinh
sống trên đất Pháp gia nhập tam điểm.<br /><br />Ông
Đỗ Hữu Trí, luật sư tại Paris, hội viên của
loge &#8220;Libre Examen&#8221; từ 1903 đến 1904, sau vào loge
Action de Paris.</font></font></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><br />Ông
Cao Triều Phát, thuộc một dòng họ trung lưu
Nam Kỳ, thông ngôn trong thế chiến thứ nhất,
gia nhập tam điểm tại Bordeaux năm 1917. Khi trở về nước,
ông hoạt động trong tam điểm tại Sài gòn,
nhưng sau đó ông sang hàng ngũ Việt
Minh.<br /><br />Trong thập niên 20, một số người Việt
Nam phần đông là các du học sinh tại Paris
và tại các tỉnh phía nam nước Pháp,
gia nhập các loges &#8220;Vrais Fidèles&#8221; và &#8220;A.
Comte&#8221;. Có hai nhân vật nổi tiếng trong nhóm
này, là Bùi Quang Chiêu và Dương
Văn Giáo.<br /></font></font><br /></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Ông
Bùi Quang Chiêu sinh năm 1873 du học ngành
canh nông tại Alger rồi sang Paris. Ông sáng
lập đẳng lập Hiến năm 1919, ông vào loge tam
điểm &#8221;France-Colonnies&#8221; năm 1925, ông muốn lợi dụng
tinh thần cấp tiến để cải tiến tình trạng thuộc
địa. Trong cuộc bầu cử hội đồng thuộc địa, 10
người nhóm Lập Hiến của ông trúng cử
và ông được bầu làm Phó Chủ tịch
Hội đồng, riêng ông bị cánh thực dân
bảo thủ công kích, nên ông không
tiến xa trong hệ thống của tam điểm.</font></font></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Ông
Dương Văn Giáo sinh năm 1988, du học tại Pháp,
gia nhập loge Jean Jaurès năm 1924.<br /><br />Cũng phải kể
đến Hồ Chí Minh<a class="sdfootnoteanc" name="sdfootnote3anc" href="http://www.dcvblogs.com/mt/mt-static/html/editor-content.html?cs=utf-8#sdfootnote3sym"><sup>3</sup></a>,
gia nhập loge Fedération Universelle năm 1922 dưới tên
Nguyễn Ái Quấc, khai ngày sinh là 15-2-1895,
nghề nghiệp thợ ảnh, do sự giới thiệu của Boulanger.
Theo hồ sơ cảnh sát Pháp, trong năm 1922 ông
Hồ có tham dự nhiều buổi họp của tổ chức tam
điểm.</font></font></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><br />Một
trường hợp đáng chú ý khác là
cựu hoàng Duy Tân, bị chính quyền bảo hộ
truất phế năm 1917, đầy sang đảo Réunion, làm
nghề sửa máy radio, lúc ấy người Pháp
gọi ông là hoàng tử Vĩnh San. Ông gia
nhập loge &#8220;L&#8217;Amitié&#8221; năm 1927.</font></font></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><br />Trong
khi tại chính quốc người Việt gia nhập tam điểm
dễ dàng, thì ở trong nước, người Pháp
tranh luận khá lâu để &#8220;cho phép&#8221; người
&#8220;bản xứ&#8221; gia nhập Tam điểm.<br /><br />Sau thế chiến
1914-1918, tam điểm thuộc hệ thống Grand Orient de France
(GODF)có các loges &#8220;Le Réveil de l&#8217;Orient&#8221;
và &#8220;Les Fidèles du Progrès&#8221; tại Sài
gòn, loge &#8220;La Fraternité Tonkinoise&#8221; tại Hà
Nội, loge &#8220;l&#8217;Étoile du Tonkin&#8221; tại Hải Phòng,
loge &#8220;l&#8217;Avenir Khmer&#8221; tại Pnom Penh; thuộc hệ thống
Grand Loge de France (GLDF) có loge &#8220;Ruche d&#8217;Orient&#8221; tại
Sài gòn, và &#8220;Les Écossais du Tonkin&#8221;
tại Hà Nội. Thành viên là người
Pháp, hoặc người Việt đã gia nhập tam điểm
tại Pháp, nhưng đối với dân thuộc địa thì
lại khác. Cuộc tranh luận bắt đầu từ thập niên
20.</font></font></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><br />Năm
1922, Goupillon trao cho thuộc viên làm một cuộc
nghiên cứu về vấn đề này. Trong tờ trình
ngày 22-1-1924 gửi về tổng thư ký Grand Loge De
France, ông đề cập đến dân bản xứ đến nay
vẫn chưa có mặt trong các loge tam điểm, ông
kết luận phải để dân thuộc địa gia nhập tam
điểm vào các loges hiện hữu một cách
khôn khéo, hoặc là thành lập các
loges đặc biệt. Paris trả lời để cho địa phương tùy
nghi, nếu thấy hợp lý, vì chưa bao giờ cấm
sắc dân da vàng gia nhập tam điểm. Ngày 23
tháng 12 năm 1924, Goupillon trả lời &#8220;Les indigènes
ne sont pas assez évolués et ne seront pas avant
longtemps&#8221;.<br /><br />Với sự tán trợ của Toàn
quyền Maurice Long và Thống đốc Nam Kỳ Cognacq,
Goupillon thiết lập một văn phòng bảo trợ (cho tập
sự tam điểm) gồm có người Pháp và hai
người Việt là Bùi Quang Chiêu và
Nguyễn Văn Thinh.</font></font></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Một
số hội viên tam điểm người Pháp chống lại
các loge tam điểm mà người Việt Nam chiếm đa
số, Jean Lan trong loge &#8220;Fraternité Tonkinoise&#8221;, Paquin
thuộc loge &#8220;l&#8217;Étoile du Tonkin&#8221;, Bouault thuộc loge
&#8220;Le Réveil de l&#8217;Orient&#8221;, đã tỏ ý lo
ngại người Việt có thể biến tam điểm thành
các tổ chiến đấu chống Pháp. Trong bức thư
ngày 10 tháng 1 năm 1934 gửi về Paris cho Grand
Orient de France, Jean Lan tố cáo loge Confucius chỉ có
8 người mà người Việt đã chiếm 5 chỗ với
Phạm Huy Lục chủ tọa. Jean Lan đưa ý kiến là
nếu một người Pháp làm chủ tịch loge sẽ
tránh được các âm mưu bài thực dân.
Vì vậy toàn quyền lâm thời hồi đó
đã có dự định đóng cửa loge &#8220;Confucius&#8221;
và được Jean Lan tán thành. Nhưng vì
ngại nhiều phản ứng người Pháp chưa dám ra
tay, loge &#8220;Confucius&#8221; vẫn tồn tại đến năm 1940.</font></font></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><br />Thời
kỳ phát triển mạnh của tam điểm trong giới trí
thức Việt Nam bắt đầu từ năm 1925. Tại Hà Nội
Albert Janvier thành lập loge Confucius, loge này ủng
hộ chính sách của Toàn quyền Varenne và
nhận được cấp viện của chính quyền thực dân.
Loge Confucius gồm có một số trí thức người
Việt chịu ảnh hưởng của văn hóa Pháp, nổi
bật hơn cả là các ông Nguyễn Văn Vĩnh,
Phạm Huy Lục, Phạm Quỳnh.</font></font></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Ông
Nguyễn Văn Vĩnh, sinh năm 1882, hơn Phạm Quỳnh 10 tuổi,
nhưng hai người có nhiều điểm tương tự, cùng
tốt nghiệp trường thông ngôn, thông thạo
văn hóa Pháp và Việt, hiểu biết thêm
về nước Pháp qua việc tham dự đấu xảo thuộc
địa Marseille, hai ông cùng trong giới báo
chí, dịch sách Pháp văn, truyền bá
quốc ngữ.</font></font></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><br />Tuy
nhiên Phạm Quỳnh thiên về quân chủ trong
khi Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương cộng hòa. Sau này
ông Phạm Quỳnh trở thành thượng thư trong
triều đình Bảo Đại.</font></font></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><br />Ông
Phạm Huy Lục, đảng viên đảng xã hội (SFIO),
là Chủ Tịch Viện Dân Biểu Bắc kỳ<br /><br />Tại
Sài gòn, ngày 19-12-1929 có cuộc họp
sơ khởi thành lập một loge mới, do Weil chủ trì,
loge sẽ gồm một số trí thức, theo nghi thức
écossais, niên liễm cao, làm việc bằng
tiếng Pháp. Ngày 4-1-1930, lại họp để đặt
tên cho loge, giữa các đề nghị Thích Ca,
Khổng Mạnh, Lão Tử, cuối cùng theo đề nghị
của Bùi Quang Chiêu, danh xưng &#8220;Khong Phu Tseu&#8221;
được chấp nhận; buổi họp gồm có Bùi Quang
Chiêu, Dương Văn Giáo, Cao Triều Phát, Cao
Sĩ Tấn, Nguyễn Xuân Bái, Đỗ Hữu Bưu, Trần
Văn Tý.</font></font></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Loge
Khong Phu Tseu gốm phần đông luật gia như Weil Lavau,
đặc biệt có hai luật sư Việt từ Pháp về
nước, các ông Trịnh Đình Thảo và
Dương Văn Giáo.</font></font></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><br />Ông
Trịnh Đình Thảo sinh năm 1901, con của một viên
chức trong chính quyền thời đó, ông được
thống đốc Cognacq giúp đỡ đi du học luật tại
Aix-en-Provence, ở đó năm 1927 trong hội nghị Aix, với
hơn trăm sinh viên &#8220;annamites&#8221;, ông chỉ trích
chính sách thuộc địa. Năm 1931 ông gia nhập
loge &#8220;La Ruche&#8221;, về sau vào loge &#8220;Khong Phu Tseu&#8221;.
Năm 1935 ông ứng cử vào hội đồng thuộc địa
Nam Kỳ, nhưng bị thống đốc Pagès từ chối. Trong
hệ thống tam điểm ông có chức tước cao lên
đến hàng 31 trong 33 trong phẩm trật tam điểm.</font> </font><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><i>(Hình dưới: Trích
Historia Special N48 Juillet - Aout 1997, trang 71)</i>.</font></font></p><br />
<span class="mt-enclosure mt-enclosure-image"><img alt="tamdiem1.jpg" src="http://www.dcvblogs.com/truyen-thong/tamdiem1.jpg" class="mt-image-left" style="margin: 0pt 20px 20px 0pt; float: left;" height="1072" width="300" /></span><p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Dương
Văn Giáo, vào tam điểm tại Pháp năm 1924,
là chủ tich hội sinh viên Việt nam tại Pháp,
ông đã tham dự và diễn thuyêt tại
hội nghị Aix (congrès d&#8217;Aix). Là sáng lập
viên của loge &#8220;Khong phu Tseu&#8221;, ông đã thay
thế Weil năm 1934, và đắc cử vào hội đồng
thuộc địa năm 1935. Nhưng ông bị khai trừ khỏi
luật sư đoàn, ông rời Sài gòn và
sang Thái Lan, trở thành cố vấn cho Pridi
Banomyong, một nhân vật chính trị quan trọng
trong việc canh tân Thái lan, mà ông đã
quen biết khi còn là sinh viên luật bên
Pháp.<br /><br />Theo Nguyễn Ngọc Châu, loge &#8220;Carrefour
International de Fraternité&#8221; được thiết lập năm
1935 tại Tây Ninh, gồm có nhiều nhóm khác
nhau Trần Trọng Kim, Tạ Thu Thâu , Mỹ, tuớng
Chennault và Stilwell, Anh, Nhật, Tầu và Phi Luật
Tân (Osmena), Hợp tác với nhóm này còn
có Bùi Quang Chiêu, Trần Quang Nghiêm,
Cao Triều Phát, Đặng Trung Chu; về sau một số tách
ra như Bùi Quang Chiêu, Tạ Thu Thâu, Trần
Trọng Kim...</font></font></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><br />Do
sáng kiến của Dương Văn Giáo, hai loges La Ruche
và Khong Phu Tseu đề nghị thành lập một loge
cho Hoa Kiều tại Việt Nam, viện lý là mặc dù
bên Tàu đã có Tam Điểm, nhưng chịu
ảnh hưởng phe anglo-saxon (Tưởng Giới Thạch cũng là
một hội viên tam điểm). Do đó, ngày 28
tháng 2 năm 1940, loge chinoise &#8220;Minh Luen Thang&#8221; (temple
de Confucius) được thành lập với Tan Jou Ky làm
chủ tịch.</font></font></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><br />Cũng
nên kể tên vài nhân vật khác có
sinh hoạt ít nhiều trong tam điểm, như Hoàng
minh Giám, Lê Thước, Tạ Thu Thâu (hồi du
học bên Pháp), Vương Quang Nhường, Phạm Ngọc
Thạch, Phạm Văn Quang, Thẩm Hoàng Tín, Vũ Đình
Mân, Lê Thăng, Nguyễn Quang Oánh, Vương Tử
Đại, Nguyễn Công Chiêu, Lê Thành Ý,
Trần Văn Lai.</font></font></p>
<p align="justify"><br /><br />
</p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><b>Vài
nhận định</b> </font></font>
</p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Dường
như sau khi các cuộc vận động dành tự chủ
bất thành, từ cần vương, duy tân, đông
du, đến chính trị hay cách mạng, trong tình
huống còn phải lệ thuộc người Pháp, một số
trí thức Việt nam muốn chuyển sang con đường hoạt
động văn hóa, kỹ thuật hay xã hội.</font></font></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><br />Mặt
khác, người Pháp phải bảo vệ quyền lợi của
họ bằng cách ngăn ngừa các dòng tư tưởng
văn minh khác của Anh và Đức xâm nhập vào
Việt Nam, nhất là sau thế chiến thứ nhất, đã
mở cửa cho người &#8220;bản xứ&#8221; vào hội tam điểm.</font></font></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><br />Toàn
quyền Albert Sarraut trong hai nhiệm kỳ 1911-1913 và
1917-1919 chủ trương đem văn hóa Pháp ngăn chặn
sĩ phu Việt nam thời đó thường ham chuộng các
dịch phẩm Trung Hoa.</font></font></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><br />Sarraut
báo cáo về bộ thuộc địa rằng dân Việt
rất ít thông thạo về văn hóa Pháp.
Ông viết tiếp Anh văn và Đức văn có rất
nhiều ảnh hưởng tại viễn đông, các dịch
phẩm xuất bản tại Thượng hải do các cửa biển
đã du nhập vào VN. Ông tỏ ra bực bội khi
thấy người Việt thích đọc Khang Hữu Vi và
Lương Khải Siêu.</font></font></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><br />Trong
bản tường thuật trên tờ Viễn Đông Bác
Cổ năm 1911 về kỳ thi quan trường, Noel Péri tiết
lộ rằng không thấy công luận chú trọng
vào Pháp quốc, và sách báo Trung
Hoa đầy rẫy trên các tủ sách của giới
quan lại Việt Nam tại miền bắc, nhất là sách
của Khang Hữu Vi, mặc dù đã có lệnh
cấm.</font></font></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><br />Nhận
xét thấy vào năm 1917 có khoảng 75.000 học
sinh tại Việt nam, năm 1921 lên đến 150.000, năm 1931,
số người đọc sách báo tại Bắc kỳ vào
khoảng 10.000, người Pháp chú trọng trợ giúp
giới trí thức Việt Nam để phát triển văn
hóa Pháp. Các ông Phạm Quỳnh, Bùi
Quang Chiêu, Nguyễn Văn Vĩnh với các cơ quan ngôn
luận Nam Phong, La tribune Indigène Đông Dương tạp
chí, rồi Trung Bắc Tân văn là những ví
dụ cụ thể.<br /><br />Theo Vatrac, đến năm 1930 người Việt
còn tiếp tục đọc sách báo Trung Hoa in
tại Quảng Châu và Thượng Hải, bán rẻ
với giá từ 10 tới 12 xu. Trong cuộc chiến văn hóa
chính trị này, người Pháp liền mua sách
nói về tư tưởng tây phương của Nguyễn Văn
Vĩnh và phân phối miễn phí 65.000 tập sách
và 1.800.000 truyền đơn.</font></font></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><br />Albert
Sarraut tín nhiệm hai cố vấn chính trị văn hoá
Marty và Schneider trong các kế hoạch dùng
người Việt Nam và phương tiện văn hóa Việt
Nam để ngăn chặn các ảnh hưởng văn hóa tây
phương khác. Ông muốn đưa văn minh Pháp
xích gần lại với người Việt nam.</font></font></p>
<br />
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Câu
hỏi đặt ra là nhóm người Việt trong các
hội tam điểm đã làm được những gì.<br /><br />Âu
hóa, duy tân theo phương cách của họ kết
quả ra sao. Đáp số có lẽ cần một công
trình nghiên cứu có chiều sâu đáng
kể.</font></font></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><br />Tuy
không lập thành một nhóm riêng biệt
có mục tiêu rõ rệt, nhưng họ có địa
vị uy tín. Từ khi Toàn Quyền Varenne nhậm chức,
trong khoảng 16 năm (1925-1940), người &#8220;bản xứ&#8221; gia
nhập đông đảo vào tam điểm, tiến cao thêm
trong phẩm trật của hội kín. Dù có va
chạm với một vài người Pháp (như Jean Lan,
Paquet ...) hội viên vẫn còn mầu sắc bình
đẳng trong sinh hoạt của họ, nhất là trong hai
loges &#8220;Confucius&#8221; và &#8220;Khong Phu Tseu&#8221;, ở đó
người Việt chiếm đa số. Về điểm này, có
thể nói Tam Điểm là một trong ba tổ chức cấp
tiến dưới chế độ thuộc địa hồi đó, hai tổ
chức khác là đảng xã hội SFIO, và
hội Nhân Quyền.</font></font></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2">Thế
nhưng hoài bão canh tân đất nước trong sự
liên kết với chính quyền thuộc địa là
một thất bại của những người tam điểm Việt nam, tuy
họ có nhiều thiện chí và nhiệt thành.
Không như các nước tự chủ Thái Lan và
Nhật Bản đã thành công trong việc canh tân
đất nước của họ đầu thế kỷ 20, ở Việt Nam sự
thành công trong việc hợp tác với phe thống
trị để dành lại chủ quyền cho người dân
chưa có một kết quả nào đáng kể.<br /><br />Sự
nghiệp của nhiều nhân vật mai một dần. Dương Văn
Giáo sang Thái Lan làm cố vấn cho ông
bạn Pridi, Nguyễn Văn Vĩnh chết khi đi tìm vàng
tại Lào, trong khi người bạn Thái lan Vichit
Vathakan của ông trở thành bộ trưởng văn hóa,
Trần Trọng Kim chưa làm được gì trong chức
vụ thủ tướng, Nguyễn Văn Thinh oan nghiệt chấm dứt
đời mình ngay khi còn tại chức thủ tướng,
Tạ Thu Thâu bị Việt minh giết, Phạm Quỳnh tuy gây
được sự nghiệp văn học, nhưng cuộc đời kết liễu
thảm thuơng, một số khác theo đảng cộng sản.<br /><br />Có
thể lấy ngày 27-6-1952 đánh dấu cuộc chia tay
tam điểm Việt Pháp. Hôm ấy, Thị trưởng Hà
Nội Thẩm Hoàng Tín, trước đây là
một nhân vật trong loge &#8220;La Fraternité
tonkinoise&#8221;, gặp các nhân vật tam điểm Pháp
(Gréberg, Barjon, Jiffard) yêu cầu Pháp trao
trả độc lập hoàn toàn trong vòng 18 tháng
cho Việt Nam. Vénérable Grébert phản kích
đề nghị này, trong báo cáo về Paris ông
mệnh danh nguời &#8220;anh em cũ&#8221; này thuộc bọn hăm hở
bài Pháp (acharnés propagandistes antifrancais).
</font></font>
</p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><br />Cho
đến năm 1954 ở Hà Nội không còn người
Việt sinh hoạt trong tam điểm, tại Saigon bác sĩ Tân
Hàm Nghiệp lẻ loi giữa đám người Pháp.</font></font></p>
<p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><br /><i>29/07/2007</i><br /></font></font></p><p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><br /></font></font></p><span class="mt-enclosure mt-enclosure-image"><img alt="tamdiem2.jpg" src="http://www.dcvblogs.com/truyen-thong/tamdiem2.jpg" class="mt-image-center" style="margin: 0pt auto 20px; text-align: center; display: block;" height="209" width="390" /></span><p align="justify"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"></font></font></p><p align="justify">
</p><blockquote><blockquote><blockquote><blockquote><p style="margin-left: 1.25cm; margin-right: 1.43cm;" align="left">
<font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><i>Trích
Historia Special N48 Juillet - Aout 1997, trang 127</i><br /></font></font></p><p style="margin-left: 1.25cm; margin-right: 1.43cm;" align="left"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"><br /></font></font></p></blockquote></blockquote><span class="mt-enclosure mt-enclosure-image"><img alt="tamdiem3.jpg" src="http://www.dcvblogs.com/truyen-thong/tamdiem3.jpg" class="mt-image-left" style="margin: 0pt 20px 20px 0pt; float: left;" height="95" width="400" /></span><blockquote><blockquote><p style="margin-left: 1.25cm; margin-right: 1.43cm;" align="left"><font face="Verdana, sans-serif"><font style="font-size: 11pt;" size="2"></font></font></p></blockquote></blockquote></blockquote></blockquote>
<p align="justify"><br /></p>
<div id="sdfootnote1">
	<p class="sdfootnote"><br /></p><p class="sdfootnote"><br /></p><p class="sdfootnote"><br /></p><p class="sdfootnote"><br /></p><p class="sdfootnote"><a class="sdfootnotesym" name="sdfootnote1sym" href="http://www.dcvblogs.com/mt/mt-static/html/editor-content.html?cs=utf-8#sdfootnote1anc">1</a> Danh
	xưng Tam Điểm do cách viết trong nội bộ của hội
	từ 1775, dùng ba chấm, tượng trưng cho Tự Do, Bình
	Đẳng, Bác Ái. 
	</p>
</div>
<div id="sdfootnote2">
	<p class="sdfootnote"><a class="sdfootnotesym" name="sdfootnote2sym" href="http://www.dcvblogs.com/mt/mt-static/html/editor-content.html?cs=utf-8#sdfootnote2anc">2</a> Danh
	xưng Tam Điểm do cách viết trong nội bộ của hội
	từ 1775, dùng ba chấm, tượng trưng cho Tự Do, Bình
	Đẳng, Bác Ái. 
	</p>
</div>
<div id="sdfootnote3">
	<p class="sdfootnote"><a class="sdfootnotesym" name="sdfootnote3sym" href="http://www.dcvblogs.com/mt/mt-static/html/editor-content.html?cs=utf-8#sdfootnote3anc">3</a> Trích
	revue francaise d'Histoire d'Outre-mer 3e trimestre 1998 
	</p>
</div>
]]>
    </content>
</entry>

<entry>
    <title>Những mẩu đời thường</title>
    <link rel="alternate" type="text/html" href="http://www.dcvblogs.com/truyen-thong/2007/10/nhng-mu-di-thng.html" />
    <id>tag:www.dcvblogs.com,2007:/truyen-thong//22.103</id>

    <published>2007-10-22T17:14:21Z</published>
    <updated>2007-11-21T00:19:36Z</updated>

    <summary><![CDATA[ Mùa Thu 2006 Số 21Automme 2006 N° 21 &nbsp; Những mẩu đời thườngHoàng Tường Anh Tôi gọi thêm cốc rượu mạnh, nhấp từng ngụm nhỏ, nhìn cô ca sĩ không tên tuổi uốn éo trong bản nhạc giật gân,...]]></summary>
    <author>
        <name>dcvblogs</name>
        
    </author>
    
        <category term="Số 21" scheme="http://www.sixapart.com/ns/types#category" />
    
    <category term="nhữngmẩuđờithường" label="Những mẩu đời thường" scheme="http://www.sixapart.com/ns/types#tag" />
    
    <content type="html" xml:lang="en-us" xml:base="http://www.dcvblogs.com/truyen-thong/">
        <![CDATA[<div align="left">
<p class="MsoNormal" style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><font style="FONT-SIZE: 1em" color="#000000" size="3"><font style="FONT-SIZE: 1em" size="3">Mùa Thu 2006 Số 21</font><br />Automme 2006 N° 21</font></p></div>
<p class="MsoNormal" style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><b><?xml:namespace prefix = o /><o:p><font color="#000000" size="3">&nbsp;</font></o:p></b></p>
<p class="MsoNormal" style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><b><font size="3"><font color="#000000"><font style="FONT-SIZE: 1.25em">Những mẩu đời thường<br /></font>Hoàng Tường Anh</font></font></b></p>
<p class="MsoBodyText" style="MARGIN: 0in 0in 6pt"><span style="FONT-FAMILY: Tahoma"><font size="3"><br /></font></span></p>
<p>
<p class="MsoBodyText" style="MARGIN: 0in 0in 6pt"></p><font color="#000000"><font face="Tahoma"><font size="3"><font face="Tahoma"><font size="2"><font style="FONT-SIZE: 1.95em">T</font>ôi gọi thêm cốc rượu mạnh, nhấp từng ngụm nhỏ, nhìn cô ca sĩ không tên tuổi uốn éo trong bản nhạc giật gân, sàn nhẩy lèo tèo vài ba người, thiên hạ vào đây chủ yếu là đỏ đen, còn phần ca nhạc chỉ là phụ. T. gọi báo cho tôi biết tin buồn từ Sydney là nàng có khả năng bị ung thư tử cung, giọng nấc nghẹn trong điện thoại.</font></font></font></font></font>
<p></p>]]>
        <![CDATA[<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma"><font size="2">Tôi
ôm, vỗ về, vuốt ve nỗi đau của T. cả giờ đồng
hồ qua đường dây viễn liên. <br /></font></font></font></p><p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma"><font size="2">Chợt thèm
môi hôn của N. mỗi khi xe dừng lại chờ đèn
đường, khoảnh khắc ấy thật ngắn mà nhiều cảm
xúc, tôi yêu những hành động thú
vị của N. đến bất ngờ như vậy. Lần dạo biển
chung, N. thủ thỉ với tôi ước gì sau này
chúng mình về dưỡng già ở đây anh
nhỉ, N. yêu thành phố biển này, Fort
Lauderdale, chỉ trừ tháng 3 là bọn học sinh
thường tụ tập về đây quậy phá trong dịp
spring break, làm mất vẻ trầm lặng của biển; Nhưng
nhìn ánh mắt nàng, hình như trong giấc
mơ ấy, N. biết không thể có tôi, dù
nàng rất mong mỏi; N. ngả vào lòng tôi
với những giọt nước mắt dấu kín.</font></font></font><font color="#000000"><font face="Tahoma"><font size="3">
</font><br /></font></font></p><p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma"></font></font><font face="Tahoma"><font size="2">Ở lứa tuổi
ngoài 40, qua một đời chồng, một mình nuôi
con, có lẽ vì quá tất bật với đời
sống hàng ngày, D. trông già dặn hơn
tuổi, với bản tính cần cù, nàng quần
quật cả ngày trong nhà hàng, hầu như mở
cửa 7 ngày trên 7. D. rủ tôi qua Boston dự
lễ phát bằng ra trường của cô con gái
lớn, tôi từ chối với lý do phải dành
thì giờ đi thăm T.. <br /></font></font></p><p align="justify"><font face="Tahoma"><font size="2">Tôi đặt nụ hôn lên
trán T., sau khi rời phòng mổ khẩn cấp, gương
mặt T. tái xanh nhợt nhạt, thờ thẫn trong hôn
mê; Tôi cắm bó hoa và những lời chúc
an lành lên bàn. T. kể cho tôi nghe những
bất hạnh trải qua đời mình trên đường vượt
biển khi lọt vào tay hải tặc lúc T. chưa tròn
13 tuổi, nỗi sợ hãi, những ám ảnh cũ cứ
theo đuổi nàng trong giấc ngủ, ác mộng cứ về
như cuộn phim được quay ngược lại nhiều lần; Tôi
hứa đến Vancouver đón T. ở phi trường khi nàng
từ Sydney xuyên đại dương, quay về đây để
chữa bịnh, nơi mà phúc lợi bảo hiểm y tế
tương đối hoàn hảo nhất thế giới. <br /></font></font></p><p align="justify"><font face="Tahoma"><font size="2">Tôi đến
nơi khoảng hơn 5 giờ chiều, sau vụ 911, sân bay nào
cũng vắng hẳn người, tôi phải đợi N. đến đón
ở phi trường Fort Worth, sau khi nàng rời bệnh viện
quãng 7 giờ tối, tôi chưa từng nhìn N.
trong bộ y phục trắng của nhà thương, nhưng mường
tượng chắc là xinh xắn lắm. Về nhà mở
email đọc, T. không hề trách việc tôi thất
hẹn, không đi đón nàng như đã hứa,
chỉ tiếc là không gặp được nhau vì tôi
phải rời nàng quá sớm sau khi mổ, T. cám
ơn bó hoa và thiệp của tôi để lại, T.
cảm thấy trống trải, đơn độc. <br /></font></font></p><p align="justify"><font face="Tahoma"><font size="2">Đã đến lúc
cần một người đàn ông để chia sẻ, đi nốt
quãng đời còn lại của mình, D. nói
với tôi ước muốn của nàng như thế; Lâu
nay mải làm lụng sinh sống, nuôi con, D. không
có thì giờ cho riêng mình, con cái
giờ đã trưởng thành, D. thì quá uể
oải với công việc hàng ngày, quyết định
giao lại nhà hàng cho cô em quản trị; D.
tâm sự, anh nghĩ xem, tuổi em bây giờ khó
quá, đàn ông bên Việt Nam thì
cuộc sống dễ bê tha, thêm suy nghĩ lại có
cách biệt giữa hai xã hội Âu-Á, khó
hoà đồng; Đàn ông Việt ở đây, cùng
thế hệ thì đã yên ấm, nếu ly dị thì
họ lại ưa về Việt Nam tìm vơ. Trẻ đẹp, số còn
lại mà vẫn độc thân, nói theo kiểu &#8216;vẹm&#8217;
thì quả là thuộc diện... &#8216;có vấn đề&#8217;,
những &#8216;ông già&#8217; thế hệ trước, lấy về,
không lẽ vài năm sau em lại phải ở nhà
&#8216;giữ trẻ&#8217;? Tôi mỉm cười cảm thông sự hóm
hỉnh của nàng. D. hỏi tôi nghĩ gì về
nàng.</font></font></p>
<p style="margin-bottom: 0cm;" align="justify"><font face="Tahoma"><font size="2">Đêm
cuối bên nhau, N. bảo lúc về già nàng
sẽ kể chuyện tình mình cho đàn cháu
nàng nghe như một cổ tích xa xưa, tôi nói
biết đâu lúc đó tôi còn sống,
có dịp ghé Arlington, tình cờ chống gậy
vào Phở 99 gặp lại được N. và đàn
con? N. cười nụ hồn nhiên buồn, bỗng chợt oà
lên, ôm tôi khóc như một đứa trẻ
thơ; Tôi cách N. hơn một thế hê. Tuổi, tôi
không muốn sau này N. phải ở nhà &#8216;giữ
trẻ&#8217; như D. nói, mà nhất là đứa trẻ
ấy, lại là tôi. Tôi vân vê những
giọt nước mắt của N. </font></font>
</p>

<p style="margin-bottom: 0cm;" align="justify"><br />
</p>

<p align="justify"><font face="Tahoma"><font size="2">Giọng nghẹn
ngào qua điện thoại, T. bảo sau lần mổ, nàng
bị cắt lấy đi buồng trứng để ngăn chận ung thư, T.
định bụng có một đứa con vô điều kiện với
tôi, muốn giữ hình ảnh tôi qua đứa bé,
nhưng bây giờ đã mất hẳn ước vọng ấy Sau
5 năm, nếu mầm ung thư không phát triển, hy vọng
sẽ khỏi hẳn, T. bảo nếu tình hình sức khoẻ
không khá, T. sẽ quay về sống chuỗi ngày
còn lại ở quê nhà và hỏi bao giờ
tôi đi thăm T.. </font></font>
</p>

<p align="justify"><font face="Tahoma"><font size="2">Tôi thả cái
jeton 5 đồng cuối cùng vào slot machine, những
vòng quay tiếp nối vô tận, chạy đều theo ước
mơ của những người mong thành triệu phú trong
chốc lát ở sòng bạc. </font></font>
</p>

<p align="justify"><font face="Tahoma"><font size="2">Đã gần
nửa đêm, thả xe dọc xuống phố, rẽ vào gần
ngã tư Ste-Catherine - St-Laurent, nơi được gọi là
&#8216;ngã tư Quốc Tế&#8217;, những cô gái ăn
sương nghiêng ngả chào mời khách, hoà
lẫn vào những vị hành khất muôn thủa
trong dòng người xuôi ngược của thành phố
Montréal về đêm. Chiếc Bus của nhà dòng
thường làm việc thiện, đến bố thí cà
phê và mền cho những kẻ vô gia cư hầu
chống chỏi với cái lạnh buốt ngoài trời,
đặc biệt đêm nay, Good Friday, kéo theo cả căn
nhà di động chứa đầy thức ăn. Tôi xin ly cà
phê và mẩu bánh mì ngọt, lân la
đến đám hành khất vô gia cư, để được
nghe kể, về những mẩu đời thường giẫy dụa, những
thiên thần rách, đang chắp cánh bay cao và
thật xa.</font></font></p>

<p><font face="Tahoma" size="2"> </font></p>
]]>
    </content>
</entry>

<entry>
    <title>Tư Duy Trong Thơ Nguyễn Khuyến</title>
    <link rel="alternate" type="text/html" href="http://www.dcvblogs.com/truyen-thong/2007/10/t-duy-trong-th-nguyn-khuyn.html" />
    <id>tag:www.dcvblogs.com,2007:/truyen-thong//22.102</id>

    <published>2007-10-22T17:11:24Z</published>
    <updated>2007-11-21T00:20:17Z</updated>

    <summary><![CDATA[ Mùa Xuân và Mùa Hè 2006 Số 19&amp;20Printemps &amp; Été 2006 N° 19&amp;20 Tư Duy Trong Thơ Nguyễn Khuyến Lê phụng Hơn nửa thế kỷ vừa qua, trong chính sách văn hóa, chính quyền toàn trị đã thuyên chuyển...]]></summary>
    <author>
        <name>dcvblogs</name>
        
    </author>
    
        <category term="Số 19 &amp; 20" scheme="http://www.sixapart.com/ns/types#category" />
    
    <category term="tưduytrongthơnguyễnkhuyến" label="Tư Duy Trong Thơ Nguyễn Khuyến" scheme="http://www.sixapart.com/ns/types#tag" />
    
    <content type="html" xml:lang="en-us" xml:base="http://www.dcvblogs.com/truyen-thong/">
        <![CDATA[<form class="mt-enclosure mt-enclosure-image" contenteditable="false" mt:asset-id="49"><font style="FONT-SIZE: 1.25em"><span style="FONT-FAMILY: Tahoma"><font size="3"></font></span></font>
<p class="MsoBodyText" style="MARGIN: 0in 0in 6pt"><font style="FONT-SIZE: 1em" size="3"><font color="#000000"><font style="FONT-SIZE: 0.8em">Mùa Xuân và Mùa Hè 2006 Số 19&amp;20</font></font></font><font style="FONT-SIZE: 1em"><br /></font><font style="FONT-SIZE: 1.25em"><span style="FONT-FAMILY: Tahoma"><font size="3"><font color="#000000"><font style="FONT-SIZE: 0.8em"><font style="FONT-SIZE: 0.8em">Printemps &amp; Été 2006 N° 19&amp;20</font><br /><br /><?xml:namespace prefix = o /><o:p></o:p></font></font></font></span></font></p></form>
<p class="MsoBodyText" style="MARGIN: 0in 0in 6pt"><b><span style="FONT-FAMILY: Tahoma"><font size="3"><font color="#000000">Tư Duy Trong Thơ Nguyễn Khuyến<o:p></o:p></font></font></span></b></p>
<p class="MsoBodyText" style="MARGIN: 0in 0in 6pt"><b><span style="FONT-FAMILY: Tahoma"><font size="3"><font color="#000000">Lê phụng<o:p></o:p></font></font></span></b></p><font color="#000000"><font size="3"><br /></font></font>
<p align="justify"><font size="2"><font color="#000000"><font face="Tahoma"><font style="FONT-SIZE: 1.95em">H</font>ơn nửa thế kỷ vừa qua, trong chính sách văn hóa, chính quyền toàn trị đã thuyên chuyển Nguyễn Khuyến vào ngạch văn công yêu nước, thơ Nguyễn Khuyến trở thành những bài vè đả kích giới quan lại. Tình trạng này không có thể nào kéo dài lâu hơn nữa, vì tự do văn học là quyền sống của nhân dân và vì trào lưu văn học ngày nay trên toàn thế giới là coi tác giả là người quá cố, l&#8217;auteur est mort, đồng thời tìm hiểu tư duy tác giả theo văn bản không nhất thiết căn cứ trên tiểu sử.</font></font></font></p><br />]]>
        <![CDATA[
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Trong
trào lưu văn học nói trên, và bởi
người Đông Á thường không bàn cãi
về triết học, nhưng biểu lộ nhân sinh quan trong nếp
sống hàng ngày, hơn nữa người xưa thường
ghi lại nếp sống đó trong thơ, do đó dưới
chủ đề Tư Duy của Nguyễn Khuyến Trong Thơ, Truyền
Thông sô 19-20, đặt việc đọc thơ Nguyễn Khuyến
ra ngoài sôi động của thời thế, không căn
cứ trên những thoại về Nguyễn Khuyến, sơ lược
đối chiếu ngoài một trăm bài thơ của Nguyễn
Khuyến với thơ của các vua Trần Nhân Tôn,
Trần Minh Tôn, Tam Tổ Lý Đạo Tái và
Nguyễn Trãi, tiếp tới Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát
trong thơ Việt Âm; đồng thời đối chiếu thơ Nguyễn
Khuyến với thơ của Đào Tiềm cùng các
nhà thơ Đường quen biết như Đỗ Phủ, Bạch Cư
Di, v.v...tại Trung Quốc, Ba Tiêu tại Nhật Bản và
kinh sách Khổng, Lão, Phật học.</font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Kết
quả cho thấy, dòng tư duy của Nguyễn Khuyến trong
nếp sống hàng ngày, như ông ghi lại trong
bài Úy Thạch Lão Nhân, khác vói
tư duy của các triết gia hiện sinh dấy loạn như
Albert Camus, Jean Paul Sartre và song song với dòng
tư tưởng của Gariel Marcel, một triết thuyết mà
giới nghiên cứu gọi là triết thuyết hiện
sinh Công Giáo, dẫu là Nguyễn Khuyến không
về dưới chân Chúa như Gabriel Marcel, mà
tìm thấy được niềm hòa đồng giữa ông
và Nguyễn-Khuyến-giữa-những-người-chung-quanh; tìm
thấy cái tĩnh của chân nhân trên chiếc
thuyền câu không phải tại nơi suối rừng mà
ngay trên ao nhà, cũng như nhìn thấy vầng
trăng sáng không cần nhìn thấy ngón
tay chỉ mặt trăng.</font></font></font></p>
<p align="justify"><br /><br />
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">I.
Mở Lời</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Xét
những nhà văn nhà thơ nôm cận đại, vào
khoảng thập niên 1930-40, Dương Quảng Hàm [1]
viết về Nguyễn Khuyến như sau:</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Nguyễn
Khuyến (1835-1909). Ông là một người từng trải
việc đời, lại có biệt tài về văn nôm.
Văn ông làm đủ các lối: thơ, ca, hát
nói, câu đối, văn tế, v.v... Ông thích
tự vịnh tự trào, có vẻ ung dung phóng
khoáng. Ông cũng hay giễu cợt người đời, chỉ
trích thói đời một cách nhẹ nhàng
kín đáo, rõ ra một bậc đại nhân
quân tử muốn dùng lối văn trào phúng
để khuyên răn ngưòi đời.</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Việc
xếp loại Nguyễn Khuyến vào hàng các nhà
thơ trào phúng là một tiến bộ theo quan
niệm giới phê bình văn học dùng phương
pháp của phái hiện đại thời đó.</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Trong
phần tổng kết cuốn Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Dương
Quảng Hàm[2] đặt Nguyễn Khuyến vào dòng
các nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân
Hưong, những ngưòi đã đưa văn học Việt Nam
thoát ly được cái ảnh hưởng nặng nề của
Hán văn và gây nên một dòng văn
học Việt Nam tự lập.</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Tiếp
đến xuốt gần nửa thế kỷ, đất nước bị lôi
cuốn vào cuộc chiến tranh gìữa các đại
cường, nhà cấm quyền đã dùng thơ văn
Nguyễn Khuyến làm một công cụ tuyên
truyền, Nguyễn Khuyến được thuyên chuyển sang
nghạch những nhà văn nhà thơ yêu nước.
Đồng thời, một số thơ nôm của Nguyễn Khuyến
được dùng làm vè đả kích giới
quan lại trong phong trào bài phong đả thực</font></font></font></p>
<p align="justify"> 
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><img src="http://www.dcvblogs.com/truyen-thong/2007/10/22/chandungnguyenkhuyen.jpg" name="graphics2" alt="chandungnguyenkhuyen.jpg" align="bottom" border="0" height="228" vspace="10" width="178" /></font>
</p>
<p style="margin-top: 0.21cm;" align="justify"><em><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Phụ
bản 1. Chân dung Nguyễn Khuyến</font></font></font></em></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Cảo
luận này đọc thơ Việt Âm và thơ Nôm
của Nguyễn Khuyến, đứng ngoài mọi sôi động
thời thế, và không căn cứ trên những
thoại về nhà thơ, nhất là nhưng thoại về sự
giao dịch giữa nhà thơ với giới quyền thế đương
thời với mục đích tìm hiểu dòng tư duy
biểu hiện trong thơ Tam Nguyên Yên Đổ và
mối tương giao giữa thơ Nguyễn Khuyến với dòng
thơ Việt Âm cùng thơ Trung Quốc và Nhật
Bản cùng kinh sách Phật Lão.</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Tiêu
biểu cho tư duy của Nguyễn Khuyến có bài thơ
Việt Âm:</font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>慰石</i>
<i>老</i> <i>人</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Úy
Thạch Lão Nhân</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>案</i>
<i>上</i> <i>書一</i> <i>卷</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Án
thượng thư nhất quyển</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>筒</i>
<i>上</i> <i>筆一</i> <i>把</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Đồng
thượng bút nhất bả</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>無弦</i>
<i>琴</i> <i>一</i> <i>張</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Vô
huyền cầm nhất trương</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>無</i>
<i>方</i> <i>藥一</i> <i>窠</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Vô
phương dược nhất khỏa</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>潤</i>
<i>渴</i> <i>一瓶</i> <i>茶</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Nhuận
khát nhất bình trà</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>袪</i>
<i>寒</i> <i>一爐</i> <i>火</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Khư
hàn nhất lô hỏa</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>石</i>
<i>盆</i> <i>一仙</i> <i>花</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Thạch
bồn nhất tiên hoa</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>土</i>
<i>鉡</i> <i>一佛</i> <i>果</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Thổ
bát nhất phật quả</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>與</i>
<i>我</i> <i>相為</i> <i>娛</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Dữ
ngã tương vi ngu</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>亦</i>
<i>有</i> <i>石老</i> <i>者</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Diệc
hữu thạch lão giả</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>靜</i>
<i>澡</i> <i>殊不</i> <i>同</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Tĩnh
táo thù bất đồng</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>性</i>
<i>情各相</i> <i>左</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Tính
tình các tương tả</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>石</i>
<i>老</i> <i>無一</i> <i>好</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Thạch
lão vô nhất hiếu</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>而</i>
<i>我</i> <i>無不</i> <i>可</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Nhi
ngã vô bất khả</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>我</i>
<i>性</i> <i>懶好</i> <i>臥</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Ngã
tính lãn hiếu ngọa</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>石</i>
<i>老終日坐</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Thạch
lão chung nhật tọa</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>石</i>
<i>老</i> <i>默不</i> <i>言</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Thạch
lão mặc bất ngôn</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>而</i>
<i>我</i> <i>好吟</i> <i>寫</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Nhi
ngã hiếu ngâm tả</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>相</i>
<i>狎</i> <i>無</i> <i>相</i> <i>猜</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Tương
hiệp vô tương sai</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>神</i>
<i>交</i> <i>信因</i> <i>果</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Thần
giao tín nhân quả</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>與</i>
<i>化</i> <i>為往來</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Dũ
hóa vi vãng lai</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>安知</i>
<i>子</i> <i>非</i> <i>我</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>An
tri tử phi ngã.</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><br /><br />
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">dịch
là:</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">An
Ủi Ông Lão Đá</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000"><i>Một
quyển sách đặt trên bàn</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Một
ống bút cũ viết mòn chưa thay</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Một
cây đàn không có dây</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Một
thang thuốc bốc mấy ngày chưa phong</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Một
khay trà uống ấm lòng</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Một
lò sưởi rực than hồng kế bên</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Một
chậu đá trồng thuỷ tiên</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Một
trái phật thủ đặt trên bát sành</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Chung
vui năm tháng chân thành</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Có
ông lão đá chung tình này thôi</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Nếp
trời trái ngược lạ đời</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Ông
tĩnh ta động đôi người khác nhau</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Ông
lão đá chẳng ước ao</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Còn
ta chẳng thiếu thức nào chẳng ham</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Tính
ta lười nhác hay nằm</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Còn
ông lão đá tháng năm chỉ ngồi</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Ông
lão đá chằng hé môi</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Còn
ta ngâm vịnh suốt đời nghêu ngao</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Thân
nhau chẳng dối lừa nhau</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Bạn
bè nhân quả thần giao duyên trời</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Lẽ
thường cõi hóa chuyền dời</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><i>Biết
đâu ông chẳng đổi đời cùng ta.</i></font></font></font></p>
<p align="justify"><br /><br />
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Bài
thơ có nhiều điểm đáng lưu ý. Trước
hết là trong tám câu đầu mỗi câu có
một chữ một, nhất. Chắc chắn đó là chủ ý
của tác giả. Mỗi câu có một hình
ảnh của một vật: quyển sách, ống bút, cây
đàn, thang thuốc, khay trà, lò sưởi, chậu
thuỷ tiên, và trái phật thủ. Sau đó
là tượng ông lão đá với bốn nét
biểu thị một nếp sống trái ngược với nếp sống
người thơ: Ông lão đá tĩnh, nhà thơ
động, ông lão đá không hề có
ước ao một điều gì, nhà thơ ao ước mọi
thứ; người thơ lười nhác hay nằm, ông lão
đá suốt năm tháng chỉ ngồi; ông lão
đá không hề hé môi, nhà thơ suốt
đời nghêu ngao. Tuy nhiên tình bạn luôn
luôn thành thực không ai dối lừa ai; rồi
như có lẽ biến đổi diệu huyền, khiến người
thơ hy vọng có ngày có sự đổi đời
giữa ông lão đá và nhà thơ.</font></font></font></p>
<p align="justify"><br /><br />
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><img src="http://www.dcvblogs.com/truyen-thong/2007/10/22/tuongonlaoda.jpg" name="graphics3" alt="tuongonlaoda.jpg" align="bottom" border="0" height="251" vspace="10" width="192" /></font></p>
<p style="margin-top: 0.21cm;" align="justify"><em><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Phụ
bản 2. Tượng Ông Lão Đá</font></font></font></em></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Chuỗi
hình ảnh tám vật, bắt đầu từ quyển sách
và ống bút dưòng như là hai hình
ảnh tượng trưng cho cái có của nhà thơ,
cái có tiêu biểu cho nề nếp nhà nho
của nhà thơ. Cây đàn không có
dây, gợi cho người đọc cây đàn không
dây của Đào Tiềm (365-427) một thi nhân đời
Tấn, Trung Quốc, người chỉ muốn nghe nhạc truyền cảm
mà không muốn nghe âm ba của dây
tơ.Thang thuốc bốc chưa phong gợi lên hình ảnh
luống cúc vàng bên chân rào trong
câu:</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">採</font><font color="#000000">
菊 東 籬 下</font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Thải
cúc đông lý hạ</font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">dịch
là:</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Chân
rào đông hái cúc vàng trong bài
Ẩm Tửu Đệ Ngũ Thủ cũng của Đào Tiềm, tạo nên
hình ảnh người thơ tới tuổi xế chiều, sức khỏe
cần có thuốc bồi bổ . Khay trà gợi lên
cảm giác ngọt ngào của chén trà
trên vị giác. Lò sưởi tí tách
tạo nên cảm giác ấm áp ngày đông
qua xúc giác và thính giác. Chậu
thuỷ tiên nở hoa ngào ngạt thỏa thích
khứu giác cùng hình ảnh cánh hoa tươi
đẹp thỏa mãn thị giác. Rồi sau hết là
trái phật thủ trên đĩa sành như gợi lên
ý muốn về với đạo giáo.</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Kể
từ quyển sách tới trái phật thủ, tám
vật trong cái có của Nguyễn Khuyến dường như
chuyển từ cái cụ thể người thơ cảm nhận qua
ngũ quan trên thân thể, tới cái sống, cái
lẽ huyền.</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Nhưng
rồi Nguyễn Khuyến dường như tạm dời bỏ tất cả
những cái có đó để nói với tượng
ông lão đá. Điều Nguyễn Khuyến nhấn
mạnh là nếp sống của ông trái ngược
với nếp sống của ông lão đá. Ông
lão đá không mảy may ước ao, nhà thơ
còn đầy ham muốn, ông lão suốt ngày
tháng chỉ ngồi, nhà thơ thì suốt ngày
lười nhác nằm dài; ông lão đá
không hé môi nhà thơ thì nghêu
ngao trọn đời. Hình ảnh Nguyễn Khuyến tự họa là
hình ảnh một con người đang ham sống trong thề
giới của cái có. Hình ảnh ông lão
đá dường như là hình ảnh một chân
nhân đã gần tới cõi huyền đồng. Nhưng
vì cái diệu huyền mà ông lão đá
cùng người thơ thành đôi bạn không
sao có thể rời nhau nổi. Mối tương quan này
phải chăng là hình ảnh của mối tương giữa
cái có và cái sống? Và Nguyễn
Khuyến hy vọng rằng một ngày nào đó hai
người sẽ đổi đời cho nhau.</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Đọc
bài thơ của Nguyễn Khuyến như trên, người đọc
thơ chợt nhớ tới Gabriel Marcel (1889-1973), triết gia người
Pháp tiêu biểu cho trường phái Hiện Sinh
Ky Tô, existentialisme chrétien, chủ trương một
dòng triết học cụ thể, philosophie concrète.</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Theo
giới nghiên cứu [3], tư tưởng của Gabriel Marcel dựng
trên một thế giới riêng của triết gia. Thế
giới đó là một thực thể, trong đó,
ngoài thiên nhiên và vũ trụ, có
vật thể và con người. Vật thể trong thế giới đó
giúp cho con người có phương tiện sinh sống,
nhưng vật thể cũng tạo cho con ngưòi nếp sống
vượt mọi khó khăn để chiếm đoạt vật thể làm
của riêng.</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Đoạt
được vật thể làm của riêng có làm
cho con người mãn nguyện và sung sướng không?
Hay tại sao chiếm đoạt đuợc môt vật làm cái
có lại chính là nỗi buồn bực lại là
nguồn thất vọng? Tại sao con người đã tích
lũy được của riêng đầy kho mà vẫn con lo sợ
như đúng bên bờ cái không? Đó
là những đề tài suy luận của Gabriel Marcel.</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Gabriel
Marcel quan sát thấy rằng cuộc chạy đua để thỏa
mãn cái khao khát chiếm đoạt vật thể
chính là cái khao khát được sống,
được làm người. Nhưng, sớm muộn rồi con người
cũng đối mặt với cái giới hạn của khả năng cá
nhân. Lúc đó con người đi tìm con
người khác để tìm sự thông cảm, để
thấy niềm vui trong tình yêu, trong tình bạn,
trong cái sống.</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Ngươi
và ta chúng ta. Đó là lẽ huyền,
mystère, của cuộc sống cụ thể. Trong một vở kịch
Gabriel Marcel đã cho hai vai đối thoại:</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">-
La réalité! je te demande un peu ... Qu&#8217;est ce que
c&#8217;est que la réalité?</font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">-
Un monde où on puisse grandir, aimer, créer ...[4]</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Đi
xa hơn nữa vào lẽ huyền, theo Gabriel Marcel, con người
còn có hy vọng tìm đươc nguồn an ủi
trước mọi đau đớn, cũng như nỗi sợ hãi khi phải
đối mặt với cái chết.</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Đó
là mấy nét đại cương về thế giới suy tư
của Gabriel Marcel. Nét thứ nhất biểu thị cái
có, một thực thể hiển nhiên trước mắt mọi
người; nét thứ hai biểu thị cái sống. Cả
cái có cùng cái sống chìm dưới
lẽ huyền, biểu thị bởi đặc tính tiềm ẩn của
sự tăng trưởng, tình yêu và việc tác
tạo.</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Ngày
nay, những thực thể xẩy ra biến đi rồi lại trở lại
trong đời sống hàng ngày là một đề tài
cho giới triết gia tây phương suy ngẫm. Một trong
những hướng suy ngẫm là tìm ra những giới
hạn giữa cá nhân và
chính-mình-trong-đời-sống-hàng-ngày
để đạt được an lạc trong đời sống hàng ngày.
Bên Đông phương, vấn đề này dường như
không phải là một vấn đề đem ra bàn cãi
của đạo học mà là nếp sống thực tế hàng
ngày. Nếp sống đó là là biểu tượng
cho tư duy con người. Đi tìm tư duy của Nguyễn
Khuyến trong thơ của Nguyễn Khuyến là chủ đích
của cảo luận này.</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Đối
chiếu mấy nét của chủ thuyết của Gabriel Marcel
tóm tắt trên đây với bài An Ủi Ông
Lão Đá, người đọc thấy tám hình
vật trong tám câu đầu bài thơ tiêu
biểu cho cái có theo triết thuyết của Gabriel
Marcel. Tiếp theo là bốn nét tương phản giữa
nếp sống của Nguyễn Khuyến và của Ông Lão
Đá, Nguyễn Khuyến vẫn thấy tình bạn giữa
ông và ông Lão Đá. Phải chăng đó
là một điểm khởi đầu lẽ huyền của cái
sống theo Nguyễn Khuyến? Trong lẽ huyền đó, Nguyễn
Khuyến nuôi hy vọng rồi ra sẽ có lúc đổi
đời cùng ông Lão Đá.</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Nhìn
rộng hơn, dường như Gabriel Marcel, coi thường những ai
coi nặng cái có hơn cái sống. Điểm đó
người đọc cũng thấy trong nhưng bài thơ Nguyễn
Khuyến hoặc tự trào hoặc nhạo báng những kẻ
chạy theo danh lợi.</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Cái
lẽ huyền của Gabriel Marcel đưa người đọc ông về
Nước Chúa. Đằng khác, đường về lẽ huyền,
xuôi dòng thơ say trong thơ Nguyễn Khuyến, khi nhà
thơ buông bỏ lợi danh, về vui thú vườn ruộng,
không chỉ riêng mang hình ảnh của Đào
Tiềm qua bài Quy Khứ Lai Hề Từ, mà còn
là hình ảnh Đào Tiềm trong dường như
toàn bộ dòng thơ điền viên của Đào
Tiềm. Người đọc thấy rõ nét song song giữa
chủ thuyết của Gabriel Marcel và quan niệm về cuộc
sống của Nguyễn Khuyến qua bài Úy Thạch Lão
Nhân. Nét song song này gợi cho người đoc
gọi tên tiến trình buông bỏ cái có
để tiến tới lẽ huyền trong cuộc sống của Gabriel
Marcel là tiến trình Nguyễn Khuyến- Gariel
Marcel.</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Đằng
khác Nguyễn Khuyến là một thi tài nối
dài dòng tư tưởng trong thơ Việt Âm và
thơ nôm khởi từ Nguyễn Trãi (1380-1442), truyền
qua Nguyễn Du (1765-1825) qua hình ảnh con người đối
mặt với cái chết. Nhưng Nguyễn Trãi gặp nạn
Trại Vải năm sáu mươi hai tuổi khi còn tại
chức; Nguyễn Du cũng mất khi còn tại chức năm năm
mươi lăm tuổi. Riêng Nguyễn Khuyến mất năm bẩy
mươi bốn tuổi, sau hơn hai mươi năm nghỉ hưu, phải
chăng vì vậy mà qua thơ Nguyễn Khuyến người
đọc dường như thấy Nguyễn Khuyến thực hiện được
những ước vọng của Nguyễn Trãi và Nguyễn
Du còn ghi lại trong thơ.</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Tìm
hiểu tư duy đa dạng trong thơ Viêt Âm và
thơ nôm của Nguyễn Khuyến, theo chiều hướng kể
trên là diễn tiến của cảo luận này. Câu
hỏi là bằng cách nào đạt được tói
mực tiêu nói trên? Thật vậy, sách
Luận Ngữ[5] có câu:</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">天何</font><font color="#000000">
言哉</font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Thiên
hà ngôn tai</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">nghĩa
là:</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Trời
có nói đâu.</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Nguyễn
Khuyến có hai câu trong bài tứ tuyệt Trời
Nói dưới đây:</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Chót
vót trên này có một tao</font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Mày
xem tao có nói đâu nào</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Giới
bình thơ Nguyễn Khuyến thường coi hai câu này
của Nguyễn Khuyến biểu lộ ý muốn kiệm ngôn,
một đặc tính của ông Lão Đá mà
ông muốn tạo cho mình trên đương về lẽ
huyền như ông viết trong bài Ủy Thạch Lão
Nhân. Thế nên khó tìm thấy tư duy của
Nguyễn Khuyến trong thơ của ông. Nhưng thơ là
tiếng nói ngoài lời gửi trong những hình
ảnh tạo nên thi cảnh và tâm cảnh người
thơ. Vậy thì, phương pháp tìm ra tư duy
trong thơ Nguyễn Khuyến là đối chiếu những hình
ảnh trong thơ Nguyễn Khuyến với chính những hình
ảnh đó mà ông dùng trong những bài
khác, hoặc đối chiếu những hình ảnh trong
thơ Nguyễn Khuyến với những hình ảnh tương ứng
của các thi nhân Việt Nam hay Trung Quốc, Nhật
Bản, cũng như trong các kinh sách Phật học hoặc
Lão Trang. Những nét tương đồng hay khác
biệt người đọc thơ nhìn ra trong việc đối chiếu
này phải chăng là lời thi nhân gửi gắm
ngoài lời thơ?</font></font></font></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000">Kết
quả giúp người đọc nhìn thấy tư duy của
Nguyễn Khuyến qua những nếp sống cụ thể dưới đây
của người thơ</font></font></font></p>
<p align="justify"><br />
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">1.
Việc buông bỏ cái có</font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">2.
Truyện đối mặt với cái chết</font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">3.
Việc quyết định về Vườn Bùi</font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">4.
Vui sống với thiên nhiên</font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">5.
Đọc sách và uống rưọu</font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">6.
Cái Cười</font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">7.
Về với Đạo</font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">8.
Lên Chùa.</font></font></font></p>
<p align="justify"><br /></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Phải
chăng mầu nét hiện sinh trong tư duy của nhà
thạc nho Tam Nguyên Yên Đổ tiêu biểu nếp
sống của tiền nhân trước khi nếp sống này
thấm nhập tư tưởng Âu Mỹ? Câu hỏi này
xin dành cho gìới nghiên cứu giải đáp.</font></font></font></p>
<p align="justify"><br />
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">[1]
Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Xuân
Thu tái bản tại Hoa Kỳ, tr. 398.</font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">[2]
Dương Quảng Hàm sách đã dẫn, tr. 460.</font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">[3]
Simonne Plourde, Gabriel Marcel Philosophe et Témoin de
l&#8217;Espérance, Les Presses de l&#8217;Université du Québec,
Montréal, 1975, pp.9-11.</font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">[4]
Gabriel Marcel, L&#8217;Émissaire et le Signe de la Croix dans
Vers Un Autre Royaume, Plon, Paris, 1949, p.24</font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">[5]
Luận Ngữ, tiết Dương Hóa, chưong 17 bản dịch của
Lê Phục Thiện, nhà xuất bản Văn Học, Hà
Nội 1992, tr.643.</font></font></font></p>
<p align="justify"><br /><br />
</p>
<p align="justify"><br /><br />
</p>
]]>
    </content>
</entry>

<entry>
    <title>Vai trò của đại học về khảo cứu và phát triển</title>
    <link rel="alternate" type="text/html" href="http://www.dcvblogs.com/truyen-thong/2007/10/vai-tro-ca-di-hc-v-kho-cu-va-p.html" />
    <id>tag:www.dcvblogs.com,2007:/truyen-thong//22.101</id>

    <published>2007-10-22T17:08:09Z</published>
    <updated>2007-11-21T00:20:47Z</updated>

    <summary><![CDATA[Mùa Đông 2006 - Mùa Xuân 2007 Số 22 &amp; 23 Hiver 2006 - Printemps 2007 N° 22 &amp; 23 &nbsp; Vai trò của đại học về khảo cứu và phát triển: phương hướng, phương thức và phương tiện Bùi...]]></summary>
    <author>
        <name>dcvblogs</name>
        
    </author>
    
        <category term="Số 22 &amp; 23" scheme="http://www.sixapart.com/ns/types#category" />
    
    <category term="vaitròcủađạihọcvềkhảocứuvàpháttriển" label="Vai trò của đại học về khảo cứu và phát triển" scheme="http://www.sixapart.com/ns/types#tag" />
    
    <content type="html" xml:lang="en-us" xml:base="http://www.dcvblogs.com/truyen-thong/">
        <![CDATA[<p class="MsoNormal" style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><font style="FONT-SIZE: 0.8em"><span style="FONT-FAMILY: Tahoma"><font size="3"><font color="#000000"><font style="FONT-SIZE: 0.8em"><font style="FONT-SIZE: 0.8em">Mùa Đông 2006 - Mùa Xuân 2007 Số 22 &amp; 23</font><?xml:namespace prefix = o /><o:p></o:p></font></font></font></span></font></p>
<p class="MsoNormal" style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-FAMILY: Tahoma"><font size="3"><font color="#000000"><font style="FONT-SIZE: 0.8em"><font style="FONT-SIZE: 0.8em">Hiver 2006 - Printemps 2007 N° 22 &amp; 23</font><o:p></o:p></font></font></font></span></p>
<p class="MsoNormal" style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-FAMILY: Tahoma"><o:p><font style="FONT-SIZE: 0.8em" color="#000000" size="3">&nbsp;</font></o:p></span></p>
<p class="MsoNormal" style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><font style="FONT-SIZE: 1em"><b><font style="FONT-SIZE: 1.25em"><span style="FONT-FAMILY: Tahoma"><font style="FONT-SIZE: 1em" color="#000000" size="3">Vai trò của đại học về khảo cứu và phát triển: phương hướng, phương thức và phương tiện</font></span></font></b></font><span style="FONT-FAMILY: Tahoma"><br /><br /><o:p></o:p></span></p>
<p class="MsoNormal" style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><b><span style="FONT-FAMILY: Tahoma"><font size="3"><font color="#000000"><font style="FONT-SIZE: 0.8em"><font style="FONT-SIZE: 1.25em"><font style="FONT-SIZE: 0.8em"><font style="FONT-SIZE: 1.25em">Bùi Tiến Rũng</font><o:p></o:p></font></font></font></font></font></span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-FAMILY: Tahoma"><o:p><font color="#000000" size="3">&nbsp;</font></o:p></span></p>
<p class="MsoBodyText" style="MARGIN: 0in 0in 6pt"></p>
<p align="justify"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font color="#000000"><font face="Tahoma"><font size="2"><font style="FONT-SIZE: 1.95em">Đ</font>ây là một đề tài rộng lớn và tôi không có tham vọng bàn luận trong một bài viết ngắn ngủi, nên chỉ muốn đề cập đến vấn đề khảo cứu và phát triển trong các bộ môn kỹ thuật và khoa học áp dụng. Trong các bộ môn này, kể cả những phần liên quan đến việc phục vụ cho y tế và sức khỏe con người, từ gần ba thập niên nay người ta đã chấp nhận cái ý niệm gắn liền khảo cứu khoa học với phát triển kinh tế, gọi tắt là </font></font></font><font color="#000000"><font face="Tahoma"><font size="2"><i>khảo cứu phát triển </i></font></font></font><font color="#000000"><font face="Tahoma"><font size="2">( KCPT), từ pháp-anh gọi là Recherche-Développement hay Research-Development, viết tắt là RD. Dụng ý của nó là kết quả của công cuộc khảo cứu ở đại học cần sớm đưa đến những áp dụng cụ thể để đóng góp vào sự phát triển, lợi ích cho đời sống kinh tế và an sinh của con người và xã hội</font>.</font></font></font></font></p>]]>
        <![CDATA[
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Chính
vì thế mà các chính phủ cũng như
các nhà lãnh đạo ngành đại học
luôn nhắc nhở rằng đầu tư vào khảo cứu
phát triển là đầu tư trực tiếp vào
tương lai, và thương mại hóa các phát
minh là chìa khóa mở cửa cho sự cạnh
tranh hữu hiệu đem lại sự phồn thịnh. </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Người
viết bài này là một giáo sư đại
học làm việc tại tỉnh bang Québec, Canada từ
1975, và đã có cơ may đóng góp
nhiều năm cho những chương trình KCPT của Canada và
Québec, dưới dạng thức cộng tác giữa đại
học với kỹ nghệ, hay nói rộng hơn là với
giới tư doanh. Dạng này còn được gọi là
khảo cứu phát triển cộng tác (KCPTCT), từ
pháp-anh gọi là RD Coopérative viết tắt là
RDC hay Collaborative RD viết tắt là CRD. </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">CRD
đã được áp dụng nhiều và đem lại kết
quả tốt tại các nước mở mang, nên lại càng
có lý do để nó đáng được sự chú
ý của chính phủ và đại học tại những
nước đang mở mang, nơi mà đại học không thể
chỉ trông đợi vào chính phủ để có
ngân sách thích hợp cho việc giảng dạy,
chớ đừng vội nói đến ngân sách khảo
cứu. Một số quốc gia thuộc loại rồng lớn hay rồng
nhỏ ở châu Á đã áp dụng công
thức này. Người viết nêu ra ý kiến mong
phần nào đóng góp và trao đổi ngõ
hầu có thể giúp ích phần nào cho
nền đại học Việt Nam. </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Bài
này trình bày ba điểm. Thứ nhất, KCPT (
hay RD) chính là đầu tư trực tiếp vào
tương lai. Thứ hai, KCPTCT ( hay CRD) là cách rút
ngắn con đường để đầu tư ấy đưa đến kết quả
trong đó các bên cùng có lợi.
Thứ ba là phần đề cập đến những phương thức
và phương tiện để thực hiện, dựa trên kinh
nghiệm của các nước mở mang, nhấn mạnh vào
trường hợp Canada, nơi tác giả đang sinh sống. </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><br /><br />
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><b>RD
là đầu tư trực tiếp vào tương lai.</b> </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Những
ai đã từng làm khảo cứu ở đại học đều
biết rằng thực hiện được những phát minh là
một chuyện, từ đó áp dụng vào sản
xuất cho có kết quả để thương mại hóa lại
là một chuyện khác. Hai giai đoạn ấy có
khi cách nhau một cây cầu dài và đòi
hỏi thêm nỗ lực và đầu tư, nhưng cũng có
khi chúng gần nhau mà ta không nhận thức
được cơ hội, hoặc nhận thức được cơ hội mà
không động viên được ý chí hay
phương tiện cần thiết để thương mại hóa. Biết
bao phát minh có giá trị chỉ vì thế
mà mai một đi, hoặc bị phía cạnh tranh nhanh
tay giành mất cơ hội. </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Thương
mại hóa các phát minh là mở cửa cho
sự phồn thịnh, vì trong bối cảnh toàn cầu
hóa, muốn cho kinh tế tăng trưởng người ta không
thể lâu dài chỉ dựa vào nhân công
rẻ hay nguyên liệu rẻ. Ta hãy nhìn qua vài
ba trường hợp điển hình, từ một đề tài
thoạt nghe tưởng là chuyện nhỏ như cách gói
hàng bảo quản một loại thực phẩm hay chế phẩm
dễ biến chất, cho đến cách cải tiến vài
chi tiết của màn ảnh TV để lôi cuốn người
sử dụng, hay phương thức luyện kim để tạo một hợp
kim có lý tính đặc biệt, nâng giá
trị thị trường lên gấp nhiều lần những hợp kim
tương tự khác. Trong tất cả những trường hợp
ấy, RD có thể giữ vai trò quyết định thành
bại của một công ty. </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Một
số người trong chúng ta chưa nhận thức đúng
vai trò của sinh viên, nhất là sinh viên
cao học và nghiên cứu sinh, trong tiến trình
của RD và thương mại hóa . Khi ta giảng dạy
cho họ những khám phá mới nhất của khoa học,
khi ta tận tình hướng dẫn họ làm khảo cứu
trong những đề tài luận án có giá
trị, đó là ta đang đưa họ lên hàng
tiên phong của công cuộc thương mại hóa .
Thực vậy, sau khi tốt nghiệp, họ đi vào thị
trường nhân dụng của &#8220; chất xám &#8221;, họ góp
phần xây dựng kỹ nghệ, kinh tế, và đem áp
dụng những điều họ đã học, và hơn nữa,
những điều mới mẻ mà chính họ đã góp
phần khám phá. Vì thế, đào tạo
sinh viên giỏi và có khả năng sáng
tạo, chính là mài mũi dùi sắc bén
cho lợi khí kinh tế của quốc gia. </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Cùng
trong ý hướng ấy, gửi sinh viên ra nước ngoài
du học là một nhu cầu sách lược. Tất nhiên
là họ đi để thu thập kiến thức, nhưng ta đừng
quên họ còn tạo những mối liên lạc vô
giá với giới khoa học, kỹ nghệ và tư doanh
bên ngoài. Sau này, dù họ phục vụ ở
đâu, họ cũng là những người đem chuông
đi đấm, đấm gần hay xa . Dù chúng ta đang
sống ở đâu, xin hãy nhìn những sinh viên,
chuyên viên, giáo sư, những nhà khoa
học, nhà phát minh không thuộc thành
phần quốc tịch sở tại, đang bận rộn xung quanh ta.
Trong lãnh vực này không kém bất cứ
lãnh vực nào khác, trái đất nay chỉ
còn là một ngôi làng ngày càng
thu hẹp. </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Khi
các cấp lãnh đạo nhà nước và đại
học nhìn đúng vấn đề và tiếp tay khơi
nguồn cho dòng thác của tương lai, giới sinh
viên giỏi sẽ làm tiếp phần còn lại.
Trong những người này, một số sẽ trở lại giảng
đường để nối tiếp nghề dạy học và làm
khảo cứu, do đó chu trình tự nó khép
lại, và hệ thống này sẽ tự duy trì và
tự nuôi dưỡng. </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Như
vậy trong bối cảnh toàn cầu hóa mà dù
muốn hay không ta phải chấp nhận, hơn bao giờ hết
đại học, với thày dạy tốt, khảo cứu tốt và
sinh viên tốt, là đầu mối của sự phát
triển và là cửa mở cho kinh tế hiện đại
hóa. </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><br /><br />
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><b>CRD
là cách rút ngắn con đường đưa đến
kết quả trong đó các bên cùng có
lợi.</b> </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Giới
kỹ nghệ, hay nói chung giới tư doanh, không đủ
phương tiện để làm tất cả các công tác
khảo cứu dù là có tính cách áp
dụng. Họ lại càng không thể làm khảo
cứu cơ bản, vì lọai khảo cứu này vừa đòi
hỏi nhiều nỗ lực và tài nguyên, vừa có
bản chất bấp bênh, nghĩa là không đảm
bảo chắc chắn sẽ đem lại một kết luận hay kết quả
cụ thể. Nhưng kỹ nghệ có khả năng làm
thương mại hóa. Ngược lại đại học, hay nói
chung giới khoa học, có phương tiện làm khảo
cứu nhưng không có khả năng đi vào con
đường thương mại hóa. Nhà nước, hay nói
chung giới chính quyền, không thể làm việc
nào trong hai việc nói trên, nhưng ngược
lại họ có khả năng hướng dẫn, khuyến khích,
và ngay cả thúc đẩy hai bên ngồi lại với
nhau để mưu tìm sự cộng tác vì lợi ích
chung. </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Vì
thế, ngay tại các nước mở mang, sự cộng tác
mật thiết giữa đại học và tư doanh là điều
cần yếu cho việc thương mại hóa những kết quả
của các công trình khảo cứu vừa tốn
nhân lực, tiền của, thiết bị, thời giờ, và
nhất là &#8220;chất xám&#8221; quí báu. Và
dĩ nhiên điều này lại càng đúng hơn
đối với các nước đang mở mang, nơi mà
phương tiện làm khảo cứu khan hiếm về mọi mặt.
</font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Trong
các dự án CRD, phía đại học đóng
góp phần khảo cứu, phía tư doanh đóng
góp phần áp dụng để từ đó đi vào
thương mại hóa. Sự &#8220;đóng góp&#8221; ở đây
gồm cả nhân lực và tài lực, nghĩa là
cả &#8220;chất xám&#8221; lẫn &#8220;chất xanh&#8221;. Công việc
tìm tòi trong phòng thí nghiệm là
sở trường của giới đại học, nhưng họ không có
khả năng đem áp dụng thử tại cơ sở sản xuất,
nhà máy hay công trường, và đây
là sở trường của giới kỹ nghệ. Vì thế
đôi bên bổ túc cho nhau một cách đương
nhiên và hữu hiệu . </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Một
thí dụ </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Tôi
xin trích dẫn một thí dụ lấy từ một trong
những dự án cộng tác CRD giữa đại học và
kỹ nghệ kim khí, mà tôi đã hướng
dẫn trong những năm 1990. Đó là dự án
nung than đá trong kỹ nghệ làm nhôm, một
chương trình khảo cứu dựa trên sự áp
dụng những nguyên lý khoa học cơ bản nhưng đưa
đến kết quả thương mại hóa rất thành công.
Người ta dùng những lò lớn để nung than đá
theo một tiến trình nhiệt độ nhất định, sự
chính xác của tiến trình này là
tuyệt đối quan trọng để có được than nung với
tính chất lý học và điện học cần
thiết, với thành phần hóa học và cấu
tạo tinh thể thích hợp. Than nung được dùng
để đúc những cực âm và cực dương dẫn
điện có kích thước lớn, sử dụng đại qui
mô vào việc chế tạo nhôm trong những lò
điện giải. So với than non, còn gọi là than
xanh, thì giá trị thị trường của mỗi tấn
than nung, nếu có những đặc tính đúng
tiêu chuẩn, sẽ tăng lên gấp bội. Ngược lại
nếu không có đặc tính đúng, than
nung có thể bị phế thải, gây thất thu tài
chánh có thể lên đến hàng triệu mỹ
kim. </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Lò
nung được cấu tạo bằng một vỏ thép hình
ống nằm ngang, dài cỡ 60 mét, đường kính
2.5 mét. Vỏ thép này nằm nghiêng dốc
khoảng 2 đến 4 độ từ phía than vào lò
đến phía than ra lò. Vỏ thép xoay quanh
trục của hình ống với vận tốc chậm 2 đến 3
vòng mỗi phút, muc đích là làm
cho than dễ di chuyển theo chiều dốc của ống mà từ
từ đi ra. Trên suốt đường dài 60 mét,
than vừa tiến tới vừa xoay theo ống để được nung
theo một tiến trình nhịệt độ nhất định, lên
đến nhiệt độ cao nhất là 1250 độ C ở khoảng
giữa của chiều dài ống. Nguồn nhiệt là một
luồng khí nóng do khí đốt tạo nên,
lên đến khoảng 2500 độ C trên mặt lớp than
nơi gần ngọn lửa , luồng khí này thổi ngược
chiều với hướng đi của than, nghĩa là thổi lên
dốc. Điều trọng yếu là nhiệt độ của than phải
theo đúng tiến trình định trước thì
than nung mới có được những tính chất theo
qui định. Thoạt nghe, ta nghĩ có lẽ không có
gì là phức tạp lắm Thưc ra không phải
vậy. </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Nơi
phòng thí nghiệm đại học, người ta lập
khoảng 14 hay 15 mô hình toán để biểu
tượng cho mỗi thành phần của hệ thống hay là
mỗi hiện tượng vật lý diễn tiến trong đó,
đó là: lò nung, sự tạo nhiệt nơi ngọn
lửa của khí đốt, sự truyền nhiệt từ khí
sang lò, từ lò sang than, và từ khí
sang than, sự di chuyển của than trong lò, sư biến
thiên của mỗi đặc tính của than dọc theo lộ
trình di chuyển trong lò. Những mô hình
toán này rất phức tạp, nhưng nói cách
ngắn gọn thì người ta dựa trên ba phương
trình bảo tồn cơ bản là bảo tồn khối
lượng, bảo tồn năng lượng và bảo tồn động
lượng. Ghép những mô hình này lại
với nhau để có mô hình tổng quát và
giải bằng vi tính, người ta lấy ra được những
dữ kiện cần thiết cho sự cấu tạo và điều
khiển lò sao cho chính xác và hữu
hiệu. Những dữ kiện chính là quá trình
của năng suất nhiệt, của các hệ số truyền
nhiệt, của mật độ các chất khí còn
tích lũy trong than ở mỗi thời điểm, của mật độ
các thành phần chính trong khí đốt,
của vận tốc di chuyển của than dọc theo trục lò,
của nhiệt độ khí đốt, nhiệt độ thành lò,
và nhiệt độ than. Từ đó ta biết được
những đặc tính cần thiết của than có thực
hiện được hay không, và nếu không thì
phải điều chỉnh những thành phần nào của
lò nung và điều chỉnh bao nhiêu để đạt
được những đặc tính ấy. </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Muốn
có giá trị, những kết quả của khảo cứu
cần được thử nghiệm trước, xem có đáng
tin cậy không. Đại học có thể làm một
phần những việc thử nghiệm này, đó là
những việc có tầm vóc nhỏ, thực hiện trên
những mẫu nghiệm. Việc làm này là cần
thiết nhưng không đủ, vì trước khi áp
dụng vào những công trình sản xuất lớn,
người ta cần thử nghiệm đầy đủ và đi xa hơn
nữa. </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Thử
nghiệm xa hơn là việc của kỹ nghệ. Chỉ có
ở nhà máy sản xuất người ta mới có đủ
phương tiện về thiết bị và chuyên môn để
thử áp dụng những kết quả do đại học tìm
thấy, hầu tìm xem trong đời sống thực tế của kỹ
nghệ chúng có còn đúng hay không.
Nếu đúng thì người ta đem ra dùng, còn
nếu sai thì tìm hiểu vì sao có sự
sai biệt đó, và từ đó hồi báo lại
để bổ chính các mô hình toán,
ngõ hầu làm cho chúng có một mức độ
biểu tượng cao hơn. Trong thí dụ trên, điều
ta đi tìm là đạt được than nung đúng
phẩm chất. Do việc phân tích mô hình
toán ở đại học, người ta có thể thấy cần
thay đổi một hoặc nhiều thông số như độ dốc
hay vận tốc quay của lò nung, vị trí hay lưu
lượng của khí đốt, lưu lượng của than xanh được
đưa vô lò &#133;. Chỉ có cơ sở sản xuất
mới làm được những thử nghiệm to lớn này,
vừa phức tạp vừa tốn kém, và thường đòi
hỏi thời gian nhiều tháng với một ngân sách
đáng kể. </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Để
kết thúc phần này, tôi chỉ xin tóm
tắt rằng dự án CRD này đã hoàn tất
tốt đẹp cho cả đại học lẫn công ty cộng tác.
Những kết quả tìm thấy đã được đem ra áp
dụng và vẫn tiếp tục đem lại lợi ích đáng
kể cho công ty về kỹ thuật nung than, về tiết kiệm
năng lượng, về phẩm chất của than nung, và về
tài chánh, vì thế sau đó chúng
đã được bảo vệ bởi những bằng sáng chế.
</font></font></font>
</p>
<p align="justify"><br /><br />
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><b>Lưỡng
lợi.</b> </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Bằng
cách nào CRD tạo nên lưỡng lợi, và
đó là những lợi ích gì ? </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Khi
nói đến những lợi ích mà CRD đem lại
người ta thường nghĩ ngay đến những việc làm
nhằm tìm giải đáp cho những vấn đề kỹ
thuật hay sản xuất mà kỹ nghệ gặp phải, hoặc
nghĩ đến việc chia xẻ kinh phí giữa hai bên để
đỡ hao tổn ngân sách khảo cứu thường rất
eo hẹp nhất là đối với đại học. Nhìn xa
hơn thì ta cũng nghĩ đến sở hữu trí tuệ mà
việc khảo cứu có thể tạo nên. Những điều
này đúng cả, nhưng lợi ích của CRD còn
đi xa hơn thế nữa. Đại học có cơ hội phát
triển những lãnh vực nghiên cứu mới, và
có thể dẫn đến những chương trình đào
tạo mới, để đáp ứng những nhu cầu mới mà
giới kỹ nghệ hay tư doanh cảm thấy cần. Đại học có
dịp mở to cánh cửa của kỹ nghệ cho sinh viên,
nhiều khi đưa đến công việc làm đúng
khả năng của họ sau khi tốt nghiệp. Ai cũng biết kỹ
nghệ, nhất là các đại công ty, là
một thế giới riêng biệt, không dễ gì mà
người sinh viên nhìn thấy mọi cơ hội và
mọi khía cạnh của đời sống trong thế giới này.
Đại học cũng được hưởng một lợi ích lớn là
giáo sư và sinh viên có dịp sử dụng
những thiết bị hay vật liệu chuyên ngành mà
chỉ kỹ nghệ mới có. Đó là tóm
tắt những điểm lợi của phía đại học. </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Về
phía kỹ nghệ hay tư doanh, cộng tác với đại
học đem lại cho họ sự quảng bá rất cần thiết
trong bối cảnh cạnh tranh ráo riết ngày nay, và
làm tăng uy tín của công ty về mặt khoa
học kỹ thuật. Điều này tự nó vẫn đúng
lại càng đúng thêm đối với những ngành
đòi hỏi kỹ thuật cao và thay đổi nhanh chóng
như điện tử, tin học, sinh học, hàng không,
không gian hay là vật liệu mới. Cộng tác
với đại học là con đường ngắn để giúp
kỹ nghệ nâng cấp khả năng khảo cứu phát
minh của họ ngõ hầu giữ mức cạnh tranh. Cộng tác
với đại học giúp cho các chuyên viên
của kỹ nghệ, tuy đương nhiên là phải bận
rộn về sản xuất, vẫn có cơ hội cập nhật những
hiểu biết của mình. Sự cộng tác này
cũng giúp cho kỹ nghệ nhận thức được những cơ
hội mới dựa trên những kết quả hay khuynh hướng
của các hoạt động RD nơi đại học. Sau hết, cộng
tác với đại học là phương cách để kỹ
nghệ, nhất là các đại công ty, làm
bổn phận công dân của mình một cách
thông minh và mềm dẻo, vì ngày nay,
người dân nhận thức rằng kỹ nghệ phát triển
đươc là nhờ ở xã hội, nên kỹ nghệ
cần phải có sự hồi đáp, và giúp
đỡ các đại học là cách hồi đáp
trực tiếp nhất. </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Ngoài
những lợi ích cho bên này hay bên kia
như đã nói ở trên, còn có những
lợi ích song phương có giá trị đối với
cả đôi bên. Đôi bên chung nhau sử dụng
những tài năng khan hiếm, nhất là trong những
lãnh vực mới, vài ví dụ hiện đại là
vật liệu sinh học hay hợp chất nano. Đôi bên
cùng hưởng tính lưu động của nhân lực,
đó là trường hợp những giảng sư thỉnh
giảng từ kỹ nghệ biệt phái có hạn kỳ sang
đại học; ngoài vốn khoa học, họ đem theo nhiều
kinh nghiệm của nhà máy mà không dễ
gì người khác có được. Hoặc là
những giáo sư đại học biệt phái sang kỹ
nghệ để phụ trách một phần vụ giới hạn trong
một lãnh vực thu hẹp và đào sâu.
Qua những hình thức cộng tác ấy, sự tín
cẩn hỗ tương giữa hai bên được nuôi dưỡng
một cách tự nhiên, và dễ đưa đến những
cơ hội cộng tác mới. </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Ta
biết rằng đại học và tư doanh có nhiều khác
biệt trong tổ chức, trong lề lối quản lý, có
những mục tiêu và những thôi thúc
khác nhau, và vì thế lối nhìn và
lập luận cũng có phần khác nhau. Nhiều người
mô tả tóm lược những khác biệt này
bằng một từ ngắn gọn, gọi là &#8220;văn hóa&#8221;.
Đại học và tư doanh có &#8220;văn hóa&#8221; khác
nhau. Điều này đúng, nhưng ta cũng cần lưu ý
rằng sự khác biệt ấy thay vì gây khó
khăn, lại có tiềm năng làm cho sự hợp tác
càng thêm phong phú. Người làm khảo
cứu thường nhận thấy rằng trong sự tìm tòi,
một trong những điều kiện căn bản của thành công
là biết đặt câu hỏi cho đúng và
tìm giải đáp bằng cách nhìn dưới
nhiều góc cạnh khác nhau. Chính sự khác
biệt về &#8220;văn hóa&#8221; là một động lực giúp
ta thực hiện được điều kiện đó. </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><br /><br />
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><b>Yếu
tố thành bại.</b> </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Ta
vừa thảo luận về những lợi ích của CRD, nay thử
nói qua về những yếu tố định sự thành bại.
Trước hết, ta nên nhớ rằng tự bản chất của nó,
đại học luôn luôn gắn liền việc khảo cứu
với việc đào tạo sinh viên, nhất là đào
tạo ở cấp cao học và tiến sĩ. Đó là
sứ mạng hàng đầu của đại học, không có
nó thì đại học không có lý do
tồn tại. Điều đó cho thấy vai trò trung tâm
của sinh viên. Sinh viên làm hầu hết các
việc trong mọi giai đoạn của dự án, dĩ nhiên
là dưới sự chỉ dẫn của ông thầy. Sinh viên
phải gặt hái được lợi nhuận của những nỗ lực
và sáng kiến của họ. Về phần ông thầy
thì phải có khả năng và uy tín để
thu hút sinh viên tốt, mặt khác, thu hút
những kỹ nghệ tốt và tạo được sự cộng tác
thich hợp, và hơn nữa, ông thầy phải có
khả năng dựng nên những dự án khảo cứu có
tiềm năng phát minh, khả thi về mặt khoa học, và
thích ứng về mặt đào tạo sinh viên. </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face]]>
    </content>
</entry>

<entry>
    <title>Hội Tam Điểm</title>
    <link rel="alternate" type="text/html" href="http://www.dcvblogs.com/truyen-thong/2007/10/hi-tam-dim.html" />
    <id>tag:www.dcvblogs.com,2007:/truyen-thong//22.100</id>

    <published>2007-10-22T17:04:15Z</published>
    <updated>2007-11-21T00:21:23Z</updated>

    <summary><![CDATA[Mùa Hạ 2007 - Số 24 Été 2007 N° 24 &nbsp; Hội Tam Điểm Nguyễn Văn Hoàng &nbsp; I- Lịch sử hội Tam Điểm 1. Hội Tam Điểm là gì? Hội Tam Điểm tự coi như là một dòng hệ...]]></summary>
    <author>
        <name>dcvblogs</name>
        
    </author>
    
        <category term="Số 24" scheme="http://www.sixapart.com/ns/types#category" />
    
    <category term="hộitamĐiểm" label="Hội Tam Điểm" scheme="http://www.sixapart.com/ns/types#tag" />
    
    <content type="html" xml:lang="en-us" xml:base="http://www.dcvblogs.com/truyen-thong/">
        <![CDATA[ <font style="FONT-SIZE: 0.8em"><span style="FONT-FAMILY: Tahoma"><font size="3"><font color="#000000"><font style="FONT-SIZE: 0.8em"><font style="FONT-SIZE: 1em">Mùa Hạ 2007 - Số 24</font><?xml:namespace prefix = o /><o:p></o:p></font></font></font></span></font> 
<p class="MsoNormal" style="MARGIN: 0in 0in 0pt"><span style="FONT-FAMILY: Tahoma"><font size="3"><font color="#000000"><font style="FONT-SIZE: 0.8em"><font style="FONT-SIZE: 1em">Été 2007 N° 24</font><o:p></o:p></font></font></font></span></p>
<p class="MsoBodyText" style="MARGIN: 0in 0in 6pt"><span style="FONT-FAMILY: Tahoma"><font size="5"><font color="#000000"><span style="FONT-FAMILY: Tahoma"><font size="3"><strong><font style="FONT-SIZE: 1.25em"></font></strong></font></span></font></font></span><font style="FONT-SIZE: 0.8em">&nbsp;</font></p>
<p class="MsoBodyText" style="MARGIN: 0in 0in 6pt"><span style="FONT-FAMILY: Tahoma"><font size="5"><font color="#000000"><span style="FONT-FAMILY: Tahoma"><font size="3"><strong><font style="FONT-SIZE: 1.25em">Hội Tam Điểm<o:p></o:p></font></strong></font></span></font></font></span></p>
<H3 style="MARGIN: 12pt 0in 6pt; TEXT-INDENT: 0in"><font style="FONT-SIZE: 1.56em"><span style="FONT-FAMILY: Tahoma"><font size="5"><font color="#000000"><font style="FONT-SIZE: 0.8em"><font style="FONT-SIZE: 0.8em"><strong><font style="FONT-SIZE: 1.25em">Nguyễn Văn Hoàng</font><o:p></o:p></strong></font></font></font></font></span></font></H3>
<p class="MsoBodyText" style="MARGIN: 0in 0in 6pt"><font style="FONT-SIZE: 1.56em"><span style="FONT-FAMILY: Tahoma"><o:p><font color="#000000" size="3">&nbsp;</font></o:p></span></font> </p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><b>I- Lịch sử hội Tam Điểm</b></font></font></font></p>
<p style="MARGIN-LEFT: 1cm; MARGIN-RIGHT: 1cm" align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><b>1. Hội Tam Điểm là gì?</b> </font></font></font></p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><font style="FONT-SIZE: 1.95em">H</font>ội Tam Điểm tự coi như là một dòng hệ kết nạp (Ordre Initiatique) các hội viên để huấn luyện nhau bằng những biểu tượng (symbole) và các nghi lễ (rites) một cách bí truyền (Esotérique), phi giáo điều (adogmatique), lũy tiến (Progressif) tới sự hoàn thiện của nhân loại. Phương tiện hoạt động của họ là làm việc phước thiện, khuynh hướng của họ lại thay đổi tùy theo thời đại và xứ sở. Tổ chức Tam Điểm có rải rác trên nhiều quốc gia trên thế giới, quy tụ những hội viên cấp tiến với mục đích tự cải thiện đời sống tinh thần và đạo đức.</font></font></font></p>
<p class="MsoBodyText" style="MARGIN: 0in 0in 6pt"><span style="FONT-FAMILY: Tahoma"><o:p><font color="#000000" size="3"></font></o:p></span></p><br />
<p class="MsoBodyText" style="MARGIN: 0in 0in 6pt"><span style="FONT-FAMILY: Tahoma"><font size="3"><font color="#000000"><font style="FONT-SIZE: 0.8em">&nbsp;<o:p></o:p></font></font></font></span></p>
<p class="MsoBodyText" style="MARGIN: 0in 0in 6pt"><font size="3"><font color="#000000"><font style="FONT-SIZE: 0.8em"><b><span style="FONT-FAMILY: Tahoma"></span></b></font></font></font></p>]]>
        <![CDATA[<p style="" align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Hội
Tam Điểm thường được coi như là một tổ chức
đạo đức đặc biệt hình dung bằng những biểu
tượng. Họ tự cho như là một công cụ huấn
luyện ái hữu (outil fraternel) dùng những phương
pháp đặc biệt để huấn luyện các khả năng
nghe, suy nghĩ và đối thoại để có thể truyền
đạt các giá trị đã thâu hoạch được
cho các người chung quanh. </font></font></font>
</p>
<p style="" align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Nói
một cách đơn giản, hội Tam Điểm không phải
là một đảng chính trị vì không chủ
trương cướp chánh quyền, không phải là
một tôn giáo vì không loại bỏ tôn
giáo nào và không đi thuyết phục tín
đồ, không phải là một giáo phái
(secte) vì không theo một chủ thuyết nào
(doctrine). Sự kết nạp vào hội Tam Điểm rất khắt
khe, song sự ra hội lại rất tự do và thong thả. </font></font></font>
</p>
<p align="justify"><br />
</p>
<p align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><b>2.
Mục tiêu của hội Tam Điểm: </b></font></font></font>
</p>
<p style="" align="justify"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2">Mục
tiêu chính của hội Tam Điểm là xây
dựng. Họ làm việc để xây dựng Đền Nhân
Loại (temple de l&#8217;humanité), nhiệm vụ của họ chỉ
chấm dứt khi toàn thể nhân loại được phát
triển. Dĩ nhiên với ngưỡng vọng một tương lai như
vậy, lý tưởng Tam Điểm chỉ là một huyền
thoại (mythe), nhưng người Tam Điểm vẫn tin tưởng vào
ngày có rất nhiều hội viên Tam Điểm trên
toàn cầu để kết thành một chuỗi người
đoàn kết (chaine d&#8217;union) có khả năng cho nhu
cầu cần nhất của trí tuệ loài người.</font><br /></font></font></p><p style="" align="justify"><br /><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"></font></font></p>
<p align="justify"><font size="3"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><span style=""><b>3.
Nguồn gốc của Hội Tam Điểm</b> </span></font></font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font style="font-size: 1.25em;"><font size="3"><font color="#000000"><font size="2"><span style="">Tuy
là các tổ chức Tam Điểm thật sự không
phải là một nghiệp đoàn bắt đầu xuất hiện
đầu tiên ở Ecosse (Tô Cách Lan) vào
thế kỷ thứ XVII, song họ đã cho rằng họ có
những nguồn gốc huyền bí, huyền thoại từ thượng
cổ.</span></font></font></font><b><font size="3"><font color="#000000"><font size="2"><span style=""> </span></font></font></font></b></font>
</p>
<p align="justify"><font size="3"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><span style="">Theo
Thánh kinh thì Vua David cho xây đền Salomon
để chứa Arche Dalliance (cái rương chứa các
phiến đá có khắc 10 điều răn (commandements),
dấu hiện liên kết (signe d&#8217;alliance) giữa Thượng
Đế và người Do Thái) trước đền có
hai cột đồng đen Jakin và Boaz, một biểu tượng
Tam điểm do Hiram de Tyr. Sau này, Hiram bị ba người
thợ ám sát vì họ muốn có bí
mậy xây cất của Hiram và người ta cho rằng
Hiram và Salomon là thủy tổ của Franc-Maconnerie.
</span></font></font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font size="3"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><span style="">Theo
các bản viết tay (Manuscrit) gọi là Old charges
(các trách vụ cũ) có tên là
&#8220;Régius&#8221; vào thế kỷ thứ 14, thì ngành
xây cất liên hệ tới khoa hình học
(Géométrie) do đám con của Lamech viết trên
các cột bằng đá. Sau cơn Đại hồng thuỷ
(Deluge), một người cháu của Noé, tên
Hermanis tìm ra những bí mật xây cất và
hình học trên các cột đá này
để đem dậy cho các người thợ xây tháp
Babel. Sau đó Abraham sang Ai Cập dậy hình học
cho Euclide để ông này đem về dạy ở Hi Lạp.
Tiếp đó, các người xây cất trở về
Jérusalem để xây đền Salomon. </span></font></font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font size="3"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><span style="">Theo
bản Constitution d&#8217;Anderson (viết bên Anh năm 1723) thì
nghề xây cất đã khởi sự từ thời ông
Adam là người thợ xây cất đầu tiên đã
được Thượng Đế dạy cho hình học. Nhưng qua kinh
Cựu Ước (Ancien Testament) thì Vua Salomon là
Franc-Macon và là Grande Maitre của Loge (chi hội)
Jérusalem. Sau đó, &#8220;nghệ thuật hoàng gia&#8221;
(Art Royal) này mới truyền sang Hy Lạp, Ai Cập vào
đế quốc La Mã và người ta cho rằng Vua
Auguste (-14 cho tới 63 sau Công Nguyên) là
Grand Maitre du Loge de Rome vì ông ta đã là
người đỡ đầu cho kiến trúc sư Virtruve. </span></font></font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font size="3"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><span style="">Trong
thời đế quốc La Mã, những nhóm ngành
nghề tụ họp thành Collégium để lo các
việc kinh tế và xã hội của hội như các
collégium của các nhà buôn đứng ra
điều đình với chính quyền để giữ độc
quyền như ngành buôn bán ngũ cốc lại được
miễn sưu thuế [1] và miễn dịch vụ. Mỗi ngành
đều có Thánh tổ và hàng năm họ lo
sửa lễ để mừng Thánh tổ. Họ cũng mời những
người có quyền thế (dĩ nhiên là có
giầu có) để bảo trợ bằng tài chánh và
thế lực và họ đền bù sự đóng góp
này bằng cách tặng cho các ân nhân
danh hiệu Patron (quan thầy). </span></font></font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font size="3"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><span style="">Sau
đó, đế quốc La Mã bị các rợ Gothique
và Germanique từ Đức sang tàn phá vào
các thế kỷ từ VI tới thế kỷ IX thì không
còn thợ. Lần lần các ngành nghề mới
khôi phục lại thành các Guilde (gốc tiếng
Đức Gelt là đồng tiền)Thánh tổ của ngành
xây cất là thánh Jean d&#8217;Evangeliste và
ngày vía là ngày 27 tháng 12, Khi
được khai tên kết nạp (initier) người tập sự
phải tuyên thệ giữ bí mật nhà nghề. Vì
luôn luôn phải di chuyển từ công trường
tỉnh này sang công trường tỉnh khác, nên
họ có cách nhận nhau bằng những biểu tượng
(symbole) và những mật mã (code). Một người
thợ sang Pháp, được Charles Martel, ông của Vua
Charlemagne thâu nhận; một người khác là
Thánh Alban sang Anh và được Hoàng hậu
Edwin con ông Vua Anglo Saxon Athelstan bảo trợ tích
cực đến nỗi chính ông ta cũng thành maçon
(thợ xây cất) </span></font></font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font size="3"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><span style="">Tới
đây, cũng nên nói qua về Thập Tự quân
với Hiệp sĩ dòng Temple de Salomon và nhóm
Rose Croix vì có ảnh hưởng tới Hội Tam Điểm
sau này. </span></font></font></font><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><u><span style="">Prieurés
de Sion </span></u></font></font></font><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><span style="">Năm
1000, một lãnh chúa là Godefroi de Bouillon ở
đất Thánh lập ra abbaye de Notre Dame du Mont Sion: khi
thấy các tín đồ đi hành hương tại
Jérusalem bị cướp bóc, các tu sĩ dòng
này đã bí mật can dự vào việc
thành lập ra dòng Hiệp sĩ Temple (1118) de Salomon
là một dòng quân sự do Hugue de Payns chỉ
huy, lấy tên là Pauvres Chevaliers du Christ (Bần
Hiệp Sĩ Thiên Chúa) để bảo vệ khách
hành hương. Họ đóng quân ở địa điểm
đền Salomon do đó lấy tên là Chevaliers du
Temple. Được Giáo Hoàng Innocent II tin cậy, dòng
này trở nên quyền thế và giàu có,
khiến cho Vua Philippe le Bel đố kỵ và ra lệnh tiêu
diệt nhóm này vào ngày thứ sáu
13/10/1307 (do đó có tiếng là ngày xui
xẻo). Thủ lãnh Jacques de Molay bị thiêu (1314),
dư đảng trốn sang Ecosse, tài sản bị tịch thu cho
nhà chung Hospitaliers. Nhóm Prieuré de Sion rút
vào bí mật và lấy tên là Rose
Croix (Rosae crucis) họ thành lập một hội thần bí
nhưng không dính tới tôn giáo nào
nữa. Họ có triết lý siêu hình và
hữu hình (metaphysique et physique) mục đích để
gợi những năng khiếu của con người. Hội nhắc các
đoàn viên tầm quan trọng của các định
luật vũ trụ và thiên nhiên và nên
áp dụng các luật đó. Chữ Rose crucien từ
gốc Latin có nghĩa là chữ thập và hoa
hồng do ở biểu tượng chữ thập và hoa hồng của
họ. Thủ lãnh của họ gọi là nautonier, như
Leonardo da Vinci, Isaac Newton, Victor Hugo, Jean Cocteau và
gần đây Pierre Blanchard. Do đó, Franc Maconnerie là
hậu duệ của Prieurés de Sion. Vài dòng về
chữ Franc-Maconnerie. Năm 1015 sau Công nguyên, tại
Strasbourg, một chi hội (loge hay atelier) đầu tiên của
các người thờ đẽo đá nhà thờ
Strasbourg được thành lập. </span></font></font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font size="3"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><span style="">Năm
1119 Hội đồng các Giám mục thành Rouen
kết án các nghiệp đoàn (confrérie) </span></font></font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font size="3"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><span style="">Năm
1245, bắt đầu xuất hiện tại Strasbourg các tục lệ
tiếp nhận hội viên và khuyến cáo các
hội viên giữ tình huynh đệ và giữ bí
mật. Cũng vào năm này có đại hội tụ
họp 5 chi hội lớn, ấn định các điều lệ đạo
đức, tôn giáo và nghề nghiệp. </span></font></font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font size="3"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><span style="">Năm
1276 Vua Rodolphe 1er de Halsbourg ban miễn trừ (franchise) cho
các thợ đẽo đá nhà thờ Strasbourg. </span></font></font></font></font>
</p>
<p align="justify"><font size="3"><font color="#000000"><font face="Tahoma, sans-serif"><font size="2"><span style="">Năm
1315 tại Strasboug có đại hội các thợ đẽo
đá và thợ xây dựng và các
người xây dựng lại lấy năm này là năm
khởi sự của Hội Tam Điểm mà ta gọi là
franc-maconnerie opérative tạm gọi là xây cất
đặc miễn đương hành. Vào năm 1356 tại Luân
Đôn có sự tranh giành giữa những thợ đẽo
đá (tailleurs de pierre) và người xây dựng
(poseurs de pierre) do đó có luật lệ năm 1411 ấn
định việc kiểm soát nghề nghiệp: người học
việc học 7 năm trời, phải ra trước một uỷ ban để
tuyên thệ trung thành với nghề, với thị xã,
với vua và lúc đó họ mới trở thành
người tự do hành nghề xây cất (free mason), có
thể chữ này cũng rút ngắn từ chữ freestone
mason tức là maçon de pierre franche là thợ
xây cất đá mềm, dễ đẽo và dễ điêu
khắc. Chữ &#8220;free mason&#8221; (franc macon) đã chính
thức được dùng từ năm 1376 và năm 1390 người
