Tam điểm tại Việt Nam
Mùa Hạ 2007 - Số 24
Été 2007 N° 24
Phạm Hữu Trác
Người Pháp đã dùng văn hóa khai hóa dân “bản xứ”, hầu lôi kéo một số trí thức ngả theo văn minh Âu Tây, trong đó hoạt động của hội Tam Điểm Pháp góp phần đáng kể.
Bài viết dưới đây thử tìm lại hoạt động của Tam Điểm Pháp trên cõi Đông Duơng và sự tham dự của những người Việt Nam trong nửa đầu của thế kỷ 20.
Người Pháp đã dùng văn hóa khai hóa dân “bản xứ”, hầu lôi kéo một số trí thức ngả theo văn minh Âu Tây, trong đó hoạt động của hội Tam Điểm1 Pháp góp phần đáng kể.
Bài viết dưới đây thử tìm lại hoạt động của Tam Điểm Pháp trên cõi Đông Duơng và sự tham dự của những người Việt Nam trong nửa đầu của thế kỷ 20.
Hoạt
động của giới trí thức Việt Nam cuối thế kỷ
19 và đầu thế kỷ 20 có những giai đoạn
chuyển mình rõ rệt, tuơng ứng với tình
hình chính trị thuộc địa của người Pháp
tại Đông Dương. Phong trào Cần Vương lấy sự
chống Pháp bằng quân sự do hịch hiệu triệu
của vua Hàm Nghi từ đất lưu vong Quảng Trị chẳng
kéo dài bao lâu. Phong trào Duy tân
và Đông du do nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục
mà trụ cốt là Phan Chu Trinh và Phan Bội
Châu cũng tan rã trước sự đàn áp
của chính quyền thuộc địa.
Người Pháp đã dùng văn hóa khai hóa dân “bản xứ”, hầu lôi kéo một số trí thức ngả theo văn minh Âu Tây, trong đó hoạt động của hội Tam Điểm2 Pháp góp phần đáng kể.
Bài viết dưới đây thử tìm lại hoạt động của Tam Điểm Pháp trên cõi Đông Duơng và sự tham dự của những người Việt Nam trong nửa đầu của thế kỷ 20.
Lúc Napoléon III quyết định mở cuộc xâm chiếm Việt Nam từ 1858 thì bộ trưởng hải quân Chasseloup-Laubat, một hội viên tam điểm, tán thành nhiệt liệt.
Nam kỳ vừa được hoàn toàn “bình định” tháng 12 năm 1867, ngay khi Saigon còn là một thành phố chưa mở mang với dân số khoảng 50.000 người (gồm cả Hoa kiều trong Chợ Lớn) và 500 người Pháp, ngày 10-11-1868, mười tám người Pháp đã thành lập loge tam điểm đầu tiên, lấy tên là “Le Réveil de l”Orient”. Tính đến năm 1870 loge này có 37 hội viên và năm 1876 đã có 69 người gia nhập.
Sau khi chiếm xong Trung và Bắc kỳ, năm 1887 Paris quyết định thành lập Union Indochinoise, gom lại dưới quyền cai trị thống nhất, ba miền Trung Nam Bắc Việt Nam, Cao Mên và Lào, Constans (Bộ Trưởng Nội Vụ tương lai), một hội viên tam điểm, mở đầu chế độ toàn quyền Đông Dương.
Ở Hà Nội, loge “Fraternité Tonki-noise” thành lập năm 1886 do bác sĩ Jean-Marie de Lanessan đứng đầu, gồm có các nhân vật: hai anh em nhà Schneider, thuyền trưởng Robin, trung úy Hossinger và ông Charles Halais. Lúc đầu có khoảng ba chục hội viên, năm 1892 lên tới 54 hội viên
Tại Hải Phòng “L’Étoile du Tonkin” thành lập năm 1892.
Năm 1907, Đà Nẵng thành lập loge “La Libre Pensée d’Annam” 1907, đến 1911 loge này chuyển về Huế.
Từ 1897, các Toàn Quyền tại Đông Dương phần nhiều đều là hội viên tam điểm: Paul Doumer, Beau (1902-1908) Klobukowski(1908-1911) Đến thời Albert Sarrault, thời kỳ trước thế chiến thư nhất, có rất nhiều loges thành lập: bốn loges thuộc hệ thống GLDF (Grand Loge de France). Nhân số năm 1906 có 500 hội viên.
Sau một thời gian ít hoạt động do chiến tranh 1914-1918, kể từ 1919 các loges trở lại hoạt động mạnh hơn: tại Saigon Les Abeilles d’Orient và la Fraternité d‘Extrême-Orient.
Cũng như trước thế chiến thứ nhất, các Toàn quyền sau đó phần nhiều là nhân viên tam điểm: Long, Merlin, Varenne.
Alexandre Varenne, thuộc nhóm xã hội rất được lòng giới trí thức cấp tiến, đã dùng nhiều người bản xứ trong hệ thống hành chánh của ông. Dưới thời Varenne có nhiều người Việt nam gia nhập tam điểm như sẽ trình bày sau.
Nhưng phe bảo thủ Pháp lo ngại, dưới sự điều động của Jean Lan, La Fraternité Tonkinoise chỉ trích Varenne là mị dân, bất tài. Năm 1927 chính phủ Point Carré thay thế Varenne bằng Pasquier. Khi Pasquier chết năm 1933, loge l’Avenir Khmer đề nghị tái bổ nhậm Varenne, nhưng cuộc vận động bất thành
Sau
cuộc khủng hoảng kinh tế 1930, Đông Dương có
nhiều biến động. Người Pháp phải đối phó
với cuộc vận động phục quốc của Quốc Dân Đảng,
sự thành lập Cộng Sản Đông Dương, Toàn
quyền Pasquier thi hành chính sách đàn
áp. Tình trạng này chia rẽ giới tam điểm,
Jean Lan thuộc loge Fraternité Tonkinoise đề nghị với
Grand Loge tán trợ hành động của Pasquier, trong
khi Jean Bouault thuộc Écossais du Tonkin và La Ruche
d’Orient chỉ trích chính sách Pasquier, họ
gọi đó là một chế độ độc tài cảnh
sát (dictature policière).
Một số nhân
vật tam điểm Pháp ở trong phe đàn áp,
Maurice Weil, thuộc loge Khong Phu Tseu, chủ tọa tòa án
đề hình, chỉ trong 5 ngày đã xử 121
người Việt Nam tham gia cách mạng, trong khi hai nhà
giáo tam điểm khác, Constant Metter và Marcel
Ner gửi phúc trình về ủy ban trung ương Ligue
des droits de l’homme chỉ trích hành động của
Weil.
Thời kỳ đen tối của Tam Điểm tại Việt
Nam khi Chiến tranh 1939 bắt đầu tại Âu Châu,
trong thời kỳ Đức chiếm đóng, chính quyền
Pháp do thống chế Pétain cầm đầu cấm Tam
Điểm họat động. Toàn quyền Decoux áp dụng
chính sách cấm đoán các hội kín
do Vichy chủ xướng từ tháng 8 năm 1940. Tài sản
và của các loges bị xung công hay phát
mãi. Luật ngày 11 tháng 8 năm 1941 cấm giới
cao cấp tam điểm giữ các chức vụ công
lập.
Hết chiến tranh thứ hai, người Pháp trở
lại Đông Dương với Đô Đốc d’Argenlieu làm
Cao Ủy, Tam Điểm khôi phục lại một cách khó
khăn. Tại Sài gòn, ngay từ tháng 10 năm
1945 Ủy viên Cộng hòa Cédile thúc đẩy
Maurice Weil làm sống lại các loges.
Ngày
11/12/1945, một cuộc họp khôi phục lại loge Khong Phu
Tseu, gồm có 10 nhân vật, trong đó chỉ có
một người Việt là bác sĩ Tân Hàm
Nghiệp.
Theo
chân tướng Leclerc vào Bắc Việt đầu năm 1946,
tại Hà nội đã có vận động tái
lập loge La Fraternité Tonkinoise. Hai loges Confucius và
Les Écossais du Tonkin không hoạt động lại, Chỉ
có La Fraternité tonkinoise hồi phục dưới sự
chủ tọa của Eugène Berthet. Lúc đó độc
lập và thống nhất Việt Nam là vấn đề then
chốt, sự tham dự của người Việt trong tam điểm tại
Hà Nội hầu như rất giới hạn.
Thời
đệ nhất cộng hòa của tổng thống Ngô Đình
Diệm, nhân số tam điểm ít dần, và hoạt
động thưa thớt. Chính quyền thời đó bắt
đầu ghé mắt đến trụ sở của hai loges “Khong
Phu Tseu” và “Réveil de l’Orient”. Năm 1960,
đô trưởng Sài gòn gửi văn thư cho
l’Association Le Réveil de l’Orient và Khong phu
Tseu yêu cầu hoàn lại bất động sản cho chính
quyền Việt nam. Cũng trong thời kỳ này một số tam
điểm Mỹ, mà nhân số lên đến 80 người,
vận động thành lập tam điểm hệ thống Phi Luật
Tân, nhưng không có kết qủa cụ thể.
Sang
đệ nhị cộng hòa, năm 1965, Raymond Guilmet tổ chức
lại tam điểm nhờ sự trợ giúp của một nhân
viên trong Mission Culturelle, nhưng hoạt động yếu ớt,
nhân số năm 1972 vẻn vẹn còn 10 người, rồi
chấm dứt hoạt động hẳn từ 1975.
Người Việt Nam trong hội Tam Đìểm
Mặc dầu tam điểm đã hoạt động tại Việt Nam trong buổi đầu của chế độ thuộc địa, nhưng chỉ dành cho người Pháp. Tuy nhiên trong Franc-Macons d’Indochine, Jacques Dalloz có ghi lại một người Việt tên là Trần Nguyên Hanh đã gia nhập “Le Réveil de l’Orient” năm 1884, nhưng bị khai trừ vì không đóng niên liễm!
Đầu
thế kỷ 20, thường chỉ có người Việt Nam sinh
sống trên đất Pháp gia nhập tam điểm.
Ông
Đỗ Hữu Trí, luật sư tại Paris, hội viên của
loge “Libre Examen” từ 1903 đến 1904, sau vào loge
Action de Paris.
Ông
Cao Triều Phát, thuộc một dòng họ trung lưu
Nam Kỳ, thông ngôn trong thế chiến thứ nhất,
gia nhập tam điểm tại Bordeaux năm 1917. Khi trở về nước,
ông hoạt động trong tam điểm tại Sài gòn,
nhưng sau đó ông sang hàng ngũ Việt
Minh.
Trong thập niên 20, một số người Việt
Nam phần đông là các du học sinh tại Paris
và tại các tỉnh phía nam nước Pháp,
gia nhập các loges “Vrais Fidèles” và “A.
Comte”. Có hai nhân vật nổi tiếng trong nhóm
này, là Bùi Quang Chiêu và Dương
Văn Giáo.
Ông Bùi Quang Chiêu sinh năm 1873 du học ngành canh nông tại Alger rồi sang Paris. Ông sáng lập đẳng lập Hiến năm 1919, ông vào loge tam điểm ”France-Colonnies” năm 1925, ông muốn lợi dụng tinh thần cấp tiến để cải tiến tình trạng thuộc địa. Trong cuộc bầu cử hội đồng thuộc địa, 10 người nhóm Lập Hiến của ông trúng cử và ông được bầu làm Phó Chủ tịch Hội đồng, riêng ông bị cánh thực dân bảo thủ công kích, nên ông không tiến xa trong hệ thống của tam điểm.
Ông
Dương Văn Giáo sinh năm 1988, du học tại Pháp,
gia nhập loge Jean Jaurès năm 1924.
Cũng phải kể
đến Hồ Chí Minh3,
gia nhập loge Fedération Universelle năm 1922 dưới tên
Nguyễn Ái Quấc, khai ngày sinh là 15-2-1895,
nghề nghiệp thợ ảnh, do sự giới thiệu của Boulanger.
Theo hồ sơ cảnh sát Pháp, trong năm 1922 ông
Hồ có tham dự nhiều buổi họp của tổ chức tam
điểm.
Một
trường hợp đáng chú ý khác là
cựu hoàng Duy Tân, bị chính quyền bảo hộ
truất phế năm 1917, đầy sang đảo Réunion, làm
nghề sửa máy radio, lúc ấy người Pháp
gọi ông là hoàng tử Vĩnh San. Ông gia
nhập loge “L’Amitié” năm 1927.
Trong
khi tại chính quốc người Việt gia nhập tam điểm
dễ dàng, thì ở trong nước, người Pháp
tranh luận khá lâu để “cho phép” người
“bản xứ” gia nhập Tam điểm.
Sau thế chiến
1914-1918, tam điểm thuộc hệ thống Grand Orient de France
(GODF)có các loges “Le Réveil de l’Orient”
và “Les Fidèles du Progrès” tại Sài
gòn, loge “La Fraternité Tonkinoise” tại Hà
Nội, loge “l’Étoile du Tonkin” tại Hải Phòng,
loge “l’Avenir Khmer” tại Pnom Penh; thuộc hệ thống
Grand Loge de France (GLDF) có loge “Ruche d’Orient” tại
Sài gòn, và “Les Écossais du Tonkin”
tại Hà Nội. Thành viên là người
Pháp, hoặc người Việt đã gia nhập tam điểm
tại Pháp, nhưng đối với dân thuộc địa thì
lại khác. Cuộc tranh luận bắt đầu từ thập niên
20.
Năm
1922, Goupillon trao cho thuộc viên làm một cuộc
nghiên cứu về vấn đề này. Trong tờ trình
ngày 22-1-1924 gửi về tổng thư ký Grand Loge De
France, ông đề cập đến dân bản xứ đến nay
vẫn chưa có mặt trong các loge tam điểm, ông
kết luận phải để dân thuộc địa gia nhập tam
điểm vào các loges hiện hữu một cách
khôn khéo, hoặc là thành lập các
loges đặc biệt. Paris trả lời để cho địa phương tùy
nghi, nếu thấy hợp lý, vì chưa bao giờ cấm
sắc dân da vàng gia nhập tam điểm. Ngày 23
tháng 12 năm 1924, Goupillon trả lời “Les indigènes
ne sont pas assez évolués et ne seront pas avant
longtemps”.
Với sự tán trợ của Toàn
quyền Maurice Long và Thống đốc Nam Kỳ Cognacq,
Goupillon thiết lập một văn phòng bảo trợ (cho tập
sự tam điểm) gồm có người Pháp và hai
người Việt là Bùi Quang Chiêu và
Nguyễn Văn Thinh.
Một số hội viên tam điểm người Pháp chống lại các loge tam điểm mà người Việt Nam chiếm đa số, Jean Lan trong loge “Fraternité Tonkinoise”, Paquin thuộc loge “l’Étoile du Tonkin”, Bouault thuộc loge “Le Réveil de l’Orient”, đã tỏ ý lo ngại người Việt có thể biến tam điểm thành các tổ chiến đấu chống Pháp. Trong bức thư ngày 10 tháng 1 năm 1934 gửi về Paris cho Grand Orient de France, Jean Lan tố cáo loge Confucius chỉ có 8 người mà người Việt đã chiếm 5 chỗ với Phạm Huy Lục chủ tọa. Jean Lan đưa ý kiến là nếu một người Pháp làm chủ tịch loge sẽ tránh được các âm mưu bài thực dân. Vì vậy toàn quyền lâm thời hồi đó đã có dự định đóng cửa loge “Confucius” và được Jean Lan tán thành. Nhưng vì ngại nhiều phản ứng người Pháp chưa dám ra tay, loge “Confucius” vẫn tồn tại đến năm 1940.
Thời
kỳ phát triển mạnh của tam điểm trong giới trí
thức Việt Nam bắt đầu từ năm 1925. Tại Hà Nội
Albert Janvier thành lập loge Confucius, loge này ủng
hộ chính sách của Toàn quyền Varenne và
nhận được cấp viện của chính quyền thực dân.
Loge Confucius gồm có một số trí thức người
Việt chịu ảnh hưởng của văn hóa Pháp, nổi
bật hơn cả là các ông Nguyễn Văn Vĩnh,
Phạm Huy Lục, Phạm Quỳnh.
Ông Nguyễn Văn Vĩnh, sinh năm 1882, hơn Phạm Quỳnh 10 tuổi, nhưng hai người có nhiều điểm tương tự, cùng tốt nghiệp trường thông ngôn, thông thạo văn hóa Pháp và Việt, hiểu biết thêm về nước Pháp qua việc tham dự đấu xảo thuộc địa Marseille, hai ông cùng trong giới báo chí, dịch sách Pháp văn, truyền bá quốc ngữ.
Tuy
nhiên Phạm Quỳnh thiên về quân chủ trong
khi Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương cộng hòa. Sau này
ông Phạm Quỳnh trở thành thượng thư trong
triều đình Bảo Đại.
Ông
Phạm Huy Lục, đảng viên đảng xã hội (SFIO),
là Chủ Tịch Viện Dân Biểu Bắc kỳ
Tại
Sài gòn, ngày 19-12-1929 có cuộc họp
sơ khởi thành lập một loge mới, do Weil chủ trì,
loge sẽ gồm một số trí thức, theo nghi thức
écossais, niên liễm cao, làm việc bằng
tiếng Pháp. Ngày 4-1-1930, lại họp để đặt
tên cho loge, giữa các đề nghị Thích Ca,
Khổng Mạnh, Lão Tử, cuối cùng theo đề nghị
của Bùi Quang Chiêu, danh xưng “Khong Phu Tseu”
được chấp nhận; buổi họp gồm có Bùi Quang
Chiêu, Dương Văn Giáo, Cao Triều Phát, Cao
Sĩ Tấn, Nguyễn Xuân Bái, Đỗ Hữu Bưu, Trần
Văn Tý.
Loge Khong Phu Tseu gốm phần đông luật gia như Weil Lavau, đặc biệt có hai luật sư Việt từ Pháp về nước, các ông Trịnh Đình Thảo và Dương Văn Giáo.
Ông
Trịnh Đình Thảo sinh năm 1901, con của một viên
chức trong chính quyền thời đó, ông được
thống đốc Cognacq giúp đỡ đi du học luật tại
Aix-en-Provence, ở đó năm 1927 trong hội nghị Aix, với
hơn trăm sinh viên “annamites”, ông chỉ trích
chính sách thuộc địa. Năm 1931 ông gia nhập
loge “La Ruche”, về sau vào loge “Khong Phu Tseu”.
Năm 1935 ông ứng cử vào hội đồng thuộc địa
Nam Kỳ, nhưng bị thống đốc Pagès từ chối. Trong
hệ thống tam điểm ông có chức tước cao lên
đến hàng 31 trong 33 trong phẩm trật tam điểm. (Hình dưới: Trích
Historia Special N48 Juillet - Aout 1997, trang 71).

Dương
Văn Giáo, vào tam điểm tại Pháp năm 1924,
là chủ tich hội sinh viên Việt nam tại Pháp,
ông đã tham dự và diễn thuyêt tại
hội nghị Aix (congrès d’Aix). Là sáng lập
viên của loge “Khong phu Tseu”, ông đã thay
thế Weil năm 1934, và đắc cử vào hội đồng
thuộc địa năm 1935. Nhưng ông bị khai trừ khỏi
luật sư đoàn, ông rời Sài gòn và
sang Thái Lan, trở thành cố vấn cho Pridi
Banomyong, một nhân vật chính trị quan trọng
trong việc canh tân Thái lan, mà ông đã
quen biết khi còn là sinh viên luật bên
Pháp.
Theo Nguyễn Ngọc Châu, loge “Carrefour
International de Fraternité” được thiết lập năm
1935 tại Tây Ninh, gồm có nhiều nhóm khác
nhau Trần Trọng Kim, Tạ Thu Thâu , Mỹ, tuớng
Chennault và Stilwell, Anh, Nhật, Tầu và Phi Luật
Tân (Osmena), Hợp tác với nhóm này còn
có Bùi Quang Chiêu, Trần Quang Nghiêm,
Cao Triều Phát, Đặng Trung Chu; về sau một số tách
ra như Bùi Quang Chiêu, Tạ Thu Thâu, Trần
Trọng Kim...
Do
sáng kiến của Dương Văn Giáo, hai loges La Ruche
và Khong Phu Tseu đề nghị thành lập một loge
cho Hoa Kiều tại Việt Nam, viện lý là mặc dù
bên Tàu đã có Tam Điểm, nhưng chịu
ảnh hưởng phe anglo-saxon (Tưởng Giới Thạch cũng là
một hội viên tam điểm). Do đó, ngày 28
tháng 2 năm 1940, loge chinoise “Minh Luen Thang” (temple
de Confucius) được thành lập với Tan Jou Ky làm
chủ tịch.
Cũng
nên kể tên vài nhân vật khác có
sinh hoạt ít nhiều trong tam điểm, như Hoàng
minh Giám, Lê Thước, Tạ Thu Thâu (hồi du
học bên Pháp), Vương Quang Nhường, Phạm Ngọc
Thạch, Phạm Văn Quang, Thẩm Hoàng Tín, Vũ Đình
Mân, Lê Thăng, Nguyễn Quang Oánh, Vương Tử
Đại, Nguyễn Công Chiêu, Lê Thành Ý,
Trần Văn Lai.
Vài nhận định
Dường như sau khi các cuộc vận động dành tự chủ bất thành, từ cần vương, duy tân, đông du, đến chính trị hay cách mạng, trong tình huống còn phải lệ thuộc người Pháp, một số trí thức Việt nam muốn chuyển sang con đường hoạt động văn hóa, kỹ thuật hay xã hội.
Mặt
khác, người Pháp phải bảo vệ quyền lợi của
họ bằng cách ngăn ngừa các dòng tư tưởng
văn minh khác của Anh và Đức xâm nhập vào
Việt Nam, nhất là sau thế chiến thứ nhất, đã
mở cửa cho người “bản xứ” vào hội tam điểm.
Toàn
quyền Albert Sarraut trong hai nhiệm kỳ 1911-1913 và
1917-1919 chủ trương đem văn hóa Pháp ngăn chặn
sĩ phu Việt nam thời đó thường ham chuộng các
dịch phẩm Trung Hoa.
Sarraut
báo cáo về bộ thuộc địa rằng dân Việt
rất ít thông thạo về văn hóa Pháp.
Ông viết tiếp Anh văn và Đức văn có rất
nhiều ảnh hưởng tại viễn đông, các dịch
phẩm xuất bản tại Thượng hải do các cửa biển
đã du nhập vào VN. Ông tỏ ra bực bội khi
thấy người Việt thích đọc Khang Hữu Vi và
Lương Khải Siêu.
Trong
bản tường thuật trên tờ Viễn Đông Bác
Cổ năm 1911 về kỳ thi quan trường, Noel Péri tiết
lộ rằng không thấy công luận chú trọng
vào Pháp quốc, và sách báo Trung
Hoa đầy rẫy trên các tủ sách của giới
quan lại Việt Nam tại miền bắc, nhất là sách
của Khang Hữu Vi, mặc dù đã có lệnh
cấm.
Nhận
xét thấy vào năm 1917 có khoảng 75.000 học
sinh tại Việt nam, năm 1921 lên đến 150.000, năm 1931,
số người đọc sách báo tại Bắc kỳ vào
khoảng 10.000, người Pháp chú trọng trợ giúp
giới trí thức Việt Nam để phát triển văn
hóa Pháp. Các ông Phạm Quỳnh, Bùi
Quang Chiêu, Nguyễn Văn Vĩnh với các cơ quan ngôn
luận Nam Phong, La tribune Indigène Đông Dương tạp
chí, rồi Trung Bắc Tân văn là những ví
dụ cụ thể.
Theo Vatrac, đến năm 1930 người Việt
còn tiếp tục đọc sách báo Trung Hoa in
tại Quảng Châu và Thượng Hải, bán rẻ
với giá từ 10 tới 12 xu. Trong cuộc chiến văn hóa
chính trị này, người Pháp liền mua sách
nói về tư tưởng tây phương của Nguyễn Văn
Vĩnh và phân phối miễn phí 65.000 tập sách
và 1.800.000 truyền đơn.
Albert
Sarraut tín nhiệm hai cố vấn chính trị văn hoá
Marty và Schneider trong các kế hoạch dùng
người Việt Nam và phương tiện văn hóa Việt
Nam để ngăn chặn các ảnh hưởng văn hóa tây
phương khác. Ông muốn đưa văn minh Pháp
xích gần lại với người Việt nam.
Câu
hỏi đặt ra là nhóm người Việt trong các
hội tam điểm đã làm được những gì.
Âu
hóa, duy tân theo phương cách của họ kết
quả ra sao. Đáp số có lẽ cần một công
trình nghiên cứu có chiều sâu đáng
kể.
Tuy
không lập thành một nhóm riêng biệt
có mục tiêu rõ rệt, nhưng họ có địa
vị uy tín. Từ khi Toàn Quyền Varenne nhậm chức,
trong khoảng 16 năm (1925-1940), người “bản xứ” gia
nhập đông đảo vào tam điểm, tiến cao thêm
trong phẩm trật của hội kín. Dù có va
chạm với một vài người Pháp (như Jean Lan,
Paquet ...) hội viên vẫn còn mầu sắc bình
đẳng trong sinh hoạt của họ, nhất là trong hai
loges “Confucius” và “Khong Phu Tseu”, ở đó
người Việt chiếm đa số. Về điểm này, có
thể nói Tam Điểm là một trong ba tổ chức cấp
tiến dưới chế độ thuộc địa hồi đó, hai tổ
chức khác là đảng xã hội SFIO, và
hội Nhân Quyền.
Thế
nhưng hoài bão canh tân đất nước trong sự
liên kết với chính quyền thuộc địa là
một thất bại của những người tam điểm Việt nam, tuy
họ có nhiều thiện chí và nhiệt thành.
Không như các nước tự chủ Thái Lan và
Nhật Bản đã thành công trong việc canh tân
đất nước của họ đầu thế kỷ 20, ở Việt Nam sự
thành công trong việc hợp tác với phe thống
trị để dành lại chủ quyền cho người dân
chưa có một kết quả nào đáng kể.
Sự
nghiệp của nhiều nhân vật mai một dần. Dương Văn
Giáo sang Thái Lan làm cố vấn cho ông
bạn Pridi, Nguyễn Văn Vĩnh chết khi đi tìm vàng
tại Lào, trong khi người bạn Thái lan Vichit
Vathakan của ông trở thành bộ trưởng văn hóa,
Trần Trọng Kim chưa làm được gì trong chức
vụ thủ tướng, Nguyễn Văn Thinh oan nghiệt chấm dứt
đời mình ngay khi còn tại chức thủ tướng,
Tạ Thu Thâu bị Việt minh giết, Phạm Quỳnh tuy gây
được sự nghiệp văn học, nhưng cuộc đời kết liễu
thảm thuơng, một số khác theo đảng cộng sản.
Có
thể lấy ngày 27-6-1952 đánh dấu cuộc chia tay
tam điểm Việt Pháp. Hôm ấy, Thị trưởng Hà
Nội Thẩm Hoàng Tín, trước đây là
một nhân vật trong loge “La Fraternité
tonkinoise”, gặp các nhân vật tam điểm Pháp
(Gréberg, Barjon, Jiffard) yêu cầu Pháp trao
trả độc lập hoàn toàn trong vòng 18 tháng
cho Việt Nam. Vénérable Grébert phản kích
đề nghị này, trong báo cáo về Paris ông
mệnh danh nguời “anh em cũ” này thuộc bọn hăm hở
bài Pháp (acharnés propagandistes antifrancais).
Cho
đến năm 1954 ở Hà Nội không còn người
Việt sinh hoạt trong tam điểm, tại Saigon bác sĩ Tân
Hàm Nghiệp lẻ loi giữa đám người Pháp.
29/07/2007

Trích Historia Special N48 Juillet - Aout 1997, trang 127
1 Danh xưng Tam Điểm do cách viết trong nội bộ của hội từ 1775, dùng ba chấm, tượng trưng cho Tự Do, Bình Đẳng, Bác Ái.
2 Danh xưng Tam Điểm do cách viết trong nội bộ của hội từ 1775, dùng ba chấm, tượng trưng cho Tự Do, Bình Đẳng, Bác Ái.
3 Trích revue francaise d'Histoire d'Outre-mer 3e trimestre 1998
0 TrackBacks
Listed below are links to blogs that reference this entry: Tam điểm tại Việt Nam .
TrackBack URL for this entry: http://www.dcvblogs.com/mt/mt-tb.cgi/401


Leave a comment