Món nợ Thành Đô

| | Comments (0) | TrackBacks (0)

Hồi ức và Suy nghĩ - Trần Quang Cơ


nguyenductam.jpg

Sau Thành Đô, trong khi ta nới rộng phạm vi hoạt động của sứ quán Trung Quốc ở Việt Nam thì phía Trung Quốc lại tỏ ra lạnh nhạt với Bộ Ngoại Giao, công kích lãnh đạo Bộ Ngoại Giao Việt Nam; hạn chế hoạt động của đại sứ ta ở Bắc Kinh...

(Nguyễn Đức Tâm: UV Ban chấp hành TU, BCT, Ban Bí thư đảng CSVN khoá V, VI, Trưởng ban tổ chức TU. Nguồn: VNExpress)



Từ sau cuộc gặp Thành Đô, yêu sách chính của Trung Quốc đối với ta về vấn đề CPC chủ yếu là đòi ta thực hiện thỏa thuận Thành Đô, cụ thể là tác động với Nông Pênh nhận SNC (Supreme National Council) có 13 thành viên và do Sihanouk làm chủ tịch, chấp nhận văn kiện của P5. Trung Quốc thấy rằng việc thực hiện thỏa thuận Thành Đô gặp trở ngại chính từ Bộ Ngoại Giao Việt Nam nên chủ trương chia rẽ nội bộ ta càng trắng trợn hơn. Đại sứ mới của Malaysia ngày 03/10/90 đến chào xã giao, nói với tôi là ở Bắc Kinh người ta đưa tin là có sự khác nhau giữa Bộ Ngoại Giao và Lãnh đạo Đảng về chủ trương đối ngoại cho nên trong chuyến đi Thành Đô gặp cấp cao Trung Quốc không có ông Nguyễn Cơ Thạch. Sau Thành Đô, trong khi ta nới rộng phạm vi hoạt động của sứ quán Trung Quốc ở Việt Nam thì phía Trung Quốc lại tỏ ra lạnh nhạt với Bộ Ngoại Giao, công kích lãnh đạo Bộ Ngoại Giao Việt Nam; hạn chế hoạt động của đại sứ ta ở Bắc Kinh, không sắp xếp đại sứ ta tham dự các cuộc Lý Bằng tiếp anh Võ Nguyên Giáp, anh Vũ Oanh; cử cán bộ cấp thấp tiếp và làm việc với đại sứ ta. Trung Quốc một mặt khẳng định là vấn đề Campuchia chưa giải quyết thì quan hệ Trung-Việt “chỉ có bước đi nhỏ”, mặt khác thăm dò và tích cực tác động đến vấn đề nhân sự và phương hướng chuẩn bị Đại hội VII của Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ họp vào giữa năm 1991. Từ tháng 03/1991, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội Trung Quốc khoá 7, Lý Bằng tuyên bố “quan hệ Trung-Việt đã tan băng” và có một số điều chỉnh mềm dẻo hơn trong vấn đề Campuchia. Về vấn đề HĐDTTC của Campuchia, Trung Quốc không cố bám giữ con số 13, tạm gác vấn đề chủ tịch, phó chủ tịch, đưa ra công thức Sihanouk chủ trì các cuộc họp SNC. Từ chỗ chỉ có quan hệ với 3 phái, sau cuộc gặp SNC ở Pattaya (Thái Lan), Trung Quốc chuyển sang quan hệ trực tiếp với Nhà Nước Campuchia, mời Hun-xen thăm Bắc Kinh trong 3 ngày (22-24/07/1991). Những thỏa thuận cấp cao ở Thành Đô đã trở thành vô nghĩa,


Chiều chủ nhật 18/11/1990 họp BCT về vấn đề CPC. Từ sau khi 5 nước thường trực HĐBA thỏa hiệp về văn kiện khung (28/08/1990), cuộc đấu tranh về vấn đề CPC đi vào giai đoạn cuối, gay gắt và quyết định. Thay mặt BNG, tôi trình bày đề án để BCT cho ý kiến về nguyên tắc đấu tranh về văn kiện khung của P5 và về vấn đề Hội đồng Dân tộc Tối cao CPC. Khi tôi trình bày xong, anh Thạch đề nghị BCT khẳng định 2 điểm: 1) vấn đề HĐDTTC là vấn đề nội bộ của CPC, ta không ép bạn được; phải tôn trọng chủ quyền của bạn, 2) về văn kiện khung, ta phải bác những điểm vi phạm Hiến chương LHQ. Nếu không sau này có thể ảnh hưởng đến vấn đề xử lý Trường Sa… Ta thấy rõ TQ và Mỹ đều nhất trí xoá Nhà Nước CPC bằng cách khác nhau…


Cuối cuộc họp, Tổng Bí thư Linh kết luận:


về SNC ta không thể góp ý với bạn được… Nếu nói rằng TQ và Mỹ như nhau thì tôi không đồng ý. Sau hội nghị T.Ư., BCT sẽ định giá lại một số vấn đề liên quan đến Ngoại Giao như nhận định về Trung Quốc thế nào, tuyên bố hoặc nói về TQ như thế nào?


(Nguyễn Cơ Thạch nói luôn: Đồng ý đánh giá lại cả cuộc hội đàm ở Thành Đô).


Dự thảo Hiệp định toàn bộ về CPC ngày 21/6/90 do P5 thảo ra đã được các thành viên Hội Đồng Dân Tộc Tối Cao Campuchia chấp nhận về cơ bản tại cuộc họp ở Pa-ri ngày 23/12/1990. Chủ trương của ta là giải pháp chính trị về Campuchia, nhất là những vấn đề nội bộ Campuchia, phải do bạn tự quyết định và chịu trách nhiệm với dân tộc CPC. Ta hết sức giúp đỡ họ, gợi ý để họ tránh được những thất bại không đáng có, nhưng ta không thể làm thay. Như vậy ta vừa hết lòng giúp bạn vừa không để Việt Nam một lần nữa bị sa lầy vào cuộc đấu tranh nội bộ của CPC. Không để vấn đề giải pháp chính trị về CPC lại một lần nữa trở thành vấn đề lịch sử trong quan hệ Việt Nam-Campuchia.


Theo yêu cầu của bạn, ngày 14/01/1991, tôi cùng các anh Huỳnh Anh Dũng, Lê Công Phụng, Vũ Tiến Phúc, chuyên viên về giải pháp Campuchia, sang Nông Pênh làm việc với bạn với mục đích:


  1. tìm hiểu suy nghĩ và ý định của bạn về giải pháp Campuchia sau khi bạn đã chấp nhận văn kiện khung của P5 tại cuộc họp Gia-các-ta 10/09/1990 và chấp nhận về cơ bản dự thảo Hiệp định 26/11 của P5 tại cuộc họp Pa-ri 23/12/1990;

  2. thuyết phục bạn kiên quyết tách riêng các vấn đề nội bộ thuộc chủ quyền Campuchia để chỉ thảo luận và giải quyết trong SNC;

  3. thỏa thuận kế hoạch chuẩn bị cho việc họp lại Hội nghị quốc tế Pa-ri.


Khi tiếp tôi, anh Hun-xen nói: Trong nội bộ Campuchia, xu hướng mạnh nhất là muốn có một giải pháp chính trị giữ được thành quả cách mạng, không để cho Polpot quay trở lại … Tình hình hiện nay rất tế nhị. Tình hình phức tạp sẽ xảy ra nếu ta chấp nhận một giải pháp vô nguyên tắc. Chỉ cần chấp nhận một giải pháp như vậy thì nội bộ Campuchia đã hỗn loạn rồi chứ chưa nói là ký kết. Ta giữ lập trường cứng như vừa qua là tốt. Đề nghị Việt Nam không để đẩy quá nhanh tiến trình giải pháp.


Như vậy, qua các cuộc gặp Bộ trưởng Hor Nam Hong, thứ trưởng Dith Munty và thứ trưởng Sok An, nhất là qua phát biểu của Chủ tịch Hun-xen chiều 16/11, có thể thấy được chủ trương của bạn là cố kéo dài trạng thái đánh đàm hiện tại vì nhiều yếu tố chủ quan khách quan khác nhau, song chủ yếu vì trong nội bộ lãnh đạo bạn xu hướng chưa muốn đi vào giải pháp còn rất mạnh. Hun-xen cho biết là theo quyết định của BCT, trong cuộc họp Trung ương ngày 17/01/1991, ông ta sẽ thông báo cho Trung ương là năm 1991 sẽ chưa có giải pháp. Tuy nhiên tôi lại có cảm thấy trong suy nghĩ cũng như trong hành động lãnh đạo CPC đang có nhiều mâu thuẫn lúng túng, chưa xác định được cho mình một đường lối rõ ràng mạch lạc, mà chỉ lo đối phó từng bước với những vấn đề trong nội bộ cũng như với đối phương.


Trong lần gặp Heng Somrin ở Hà Nội ngày 24/02/1991, anh Nguyễn Văn Linh vẫn cố ép bạn “cần thực hiện tốt chính sách hoà hợp dân tộc, không nên nhấn mạnh vấn đề diệt chủng, nên nhận HĐDTTC gồm 13 thành viên và Sihanouk làm chủ tịch”. Heng Somrin về nói lại với Bộ Chính trị đảng CPC thì tất cả đều băn khoăn và ngại rằng Heng Somrin không thạo tiếng Việt nên nghe có thể sai sót.


Thực ra, như Hun-xen nói với anh Ngô Điền, khi nghe Heng Somrin nói lại những ý kiến của anh Linh, BCT Campuchia rất lo vì thấy Việt Nam khác Campuchia nhiều quá. Ngày 13/03/1991 Hun-xen nói với anh Thạch:


Có thể bỏ sách lược phân hoá Khơ-me đỏ, nhưng dứt khoát không thể bỏ vấn đề diệt chủng. Nếu bỏ sẽ có 3 mối nguy hiểm: sẽ mất con bài mặc cả trong đàm phán ngay từ đầu; mất lợi thế trong tổng tuyển cử; kẻ thù sẽ có lợi trong việc vu cáo Việt Nam là mọi chuyện xảy ra 12 năm qua đều do Việt Nam gây ra cả. Số lượng thành viên HĐDTTC có thể là 12 hoặc 14, không thể chấp nhận con số 13, sẵn sàng cho Sihanouk làm chủ tịch, Hun-xen làm phó, không đòi chức chủ tịch luân phiên hay đồng chủ tịch nữa.


Trong cách làm này của ta cho thấy ta chỉ quan tâm đến điều mà ta cho là có lợi ích đối với ta mà thiếu cân nhắc xem điều đó có phù hợp với lợi ích của bạn không. Cách làm đó tất yếu sẽ ảnh hưởng xấu đến quan hệ gắn bó lâu nay giữa ta với Nông Pênh.


Đầu năm 1991, BCT đã có cuộc họp tại T78 Thành phố HCM (24-25/01/1991) để bàn về vấn đề Campuchia. Tôi trình bày chủ trương tách hai mặt quốc tế với mặt nội bộ của giải pháp CPC, đồng thời báo cáo ý kiến của Hun-xen cho biết là Bộ chính trị CPC quyết định không đi vào giải pháp trong năm 1991. BCT quyết định cần thăm dò khả năng họp BCT 3 nước để hướng CPC đi vào giải pháp, họp có tính chất trao đổi, gợi ý chứ không quyết định. Ta không ép bạn, đồng thời phải tỏ được thiện chí, tránh mọi việc làm ta bị cô lập.


Nhân dịp này, tôi đã ngỏ ý với anh Thạch là tôi muốn rút khỏi Trung ương khoá tới. Anh Thạch tỏ ý không tán thành. Đến tháng 2/1991, khi có cuộc bàn đại biểu ở các tỉnh để đi dự Đại hội VII, tôi đã gửi thư cho anh Nguyễn Đức Tâm, trưởng ban Tổ chức Trung Ương, xin rút khỏi danh sách dự Đại hội VII. Lúc này tinh thần tôi đã có phần mệt mỏi vì những sự việc trong thời gian qua. Nhưng yêu cầu của tôi không được đáp ứng. Tháng 6/1991, tôi vẫn có giấy đi dự Đại hội Đảng với tư cách đại biểu tỉnh Sơn La tôi tiếp tục tham gia T.Ư. khoá VII.


Tình hình bất đồng ý kiến trong BCT càng đến gần Đại hội càng bộc lộ gay gắt. Ngày 13/04/1991, trong cuộc họp BCT bàn về tình hình thế giới và đường lối đối ngoại để chuẩn bị báo cáo chính trị tại Đại hội, sau khi anh Thạch báo cáo về “Tình hình thế giới và chiến lược đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta”, Lê Đức Anh giới thiệu đại tá Lân, cán bộ Cục II Bộ Quốc Phòng, trình bày về “tình hình thế giới và mưu đồ đế quốc”. Nghe xong, TBT Nguyễn Văn Linh phát biểu:


Chủ quan tôi nghĩ giữa bản trình bày sáng nay (của Bộ Ngoại giao) và bản trình bày tình hình quân sự chiều nay (của Bộ Quốc phòng) có nhiều chỗ khác nhau. Muốn thảo luận chủ trương thì phải thảo luận tình hình trước, nhưng cách đánh giá tình hình còn khác nhau.


Cố vấn Phạm Văn Đồng:


Nói khôi hài lúc này thật không phải lẽ. Chúng ta cần cố gắng làm việc đúng lương tâm, nghiêm chỉnh, đúng trách nhiệm của mình. Bộ Chính trị đã giao cho 3 đồng chí phụ trách 3 ngành làm nhưng lại chưa làm.


Lê Đức Anh:


BCT nên nghe tình hình nhiều mặt, ngay trong nước chúng ta cũng đánh giá khác nhau. Căn cứ vào đánh giá chung, mỗi ngành có đề án riêng, không làm chung được. Nguyễn Cơ Thạch đồng ý ngành thảo luận để đi tới nhất trí về tình hình, còn công tác thì mỗi ngành làm.


Trên tinh thần đó, ngày 02/05/1991, đã có cuộc họp giữa Ngoại giao, An ninh và Quốc phòng để thống nhất nhận định tình hình thế giới. Dự họp về phía Quốc phòng có Lê Đức Anh, Trần Văn Quang, đại tá Lân (Lân thọt); Bộ Nội vụ có Mai Chí Thọ; Ngoại giao có Nguyễn Cơ Thạch và 4 thứ trưởng. Còn có 3 phó ban đối ngoại (Nguyễn Thị Bình, Trịnh Ngọc Thái, Nguyễn Quang Tạo). Thu hoạch của cuộc họp khá nghèo nàn, không đem lại được sự nhất trí trong nhận định tình hình, chỉ nhất trí được mấy điểm lý luận chung chung.


Chỉ còn một tháng đến ngày họp Đại hội VII. BCT họp liền gần 3 ngày (15, 16 và 17/05/1991) để thảo luận bản dự thảo “Báo cáo về tình hình thế giới và việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đại hội VI và phương hướng tới”. BCT có mặt đông đủ. Theo dõi cuộc họp ở ghế dự thính (số dự thính lúc đầu có 10 người, từ chiều 16/05 khi đi vào kiểm điểm việc thực hiện các Nghị quyết về đối ngoại của Đại hội VI thì số dự thính thu hẹp lại chỉ còn có Hồng Hà, Hoàng Bích Sơn, Đinh Nho Liêm và tôi) từ đầu đến cuối, tôi cảm nhận rõ sự đấu tranh giữa hai quan điểm về mặt quốc tế, nhất là khi đi vào phần kiểm điểm thực hiện đường lối đối ngoại, nói đến vấn đề CPC và quan hệ với Trung Quốc. Bản dự thảo báo cáo của Bộ ngoại giao có nêu “đã có một số việc làm không đúng với các Nghị quyết của Bộ Chính trị”, “thái độ đối với Trung Quốc có sự thay đổi qua 2 giai đoạn (trước và sau năm 1989) trái với Nghị quyết 13”, “một số việc làm không đúng với các Nghị quyết của Bộ Chính trị về vấn đề Campuchia”, “giữa ta và bạn Lào đã bộc lộ sự khác nhau rõ rệt” về đối ngoại, ta “lúng túng, thiếu bình tĩnh” trước cuộc khủng hoảng chính trị ở Đông Âu và Liên Xô … đã bỏ lỡ cơ hội cải thiện với ASEAN (khi Thái Lan mời Thủ tướng Đỗ Mười sang thăm, nhưng anh Mười nói phải đi Liên Xô, đi Ấn-độ rồi mới đi Thái), đã làm nảy sinh tranh cãi khá căng, đặc biệt khi bàn đến đúng sai trong chuyện gặp cấp cao TQ ở Thành Đô tháng 9/1990 và vấn đề chống diệt chủng và “giải pháp đỏ”.


Anh Võ Chí Công:


Về TQ rất phức tạp …BCT đã đánh giá TQ có hai mặt XHCN và bá quyền. Về XHCN cũng cần thấy là trong “nháy nháy”… Khó khăn là chưa bình thường hoá quan hệ… Họ đưa ra 5 trở ngại, có cái hàng trăm năm không giải quyết nổi. Ví dụ như Liên bang Đông Dương, họ biết ta không có ý đồ song cứ nêu lên cốt để chia rẽ và giành lấy Lào và Campuchia, gạt ta ra … Chuyện “giải pháp đỏ” là không được, vì như vậy thì có nghĩa là TQ sẽ đi với ta chống Mỹ trong lúc chủ trương của họ là tranh thủ khoa học kỹ thuật của phương Tây để hiện đại hoá, còn gì là TQ nữa?


Tới cuộc họp, Nguyễn Đức Tâm còn nói:


Chưa làm dự thảo Nghị quyết ngay được vì qua thảo luận thấy ý kiến Bộ Chính trị còn khác nhau về đánh giá đúng thành tích, đúng bạn-thù, đối sách Đại hội đến nơi, sau Đại hội không còn Bộ Chính trị này nữa, tuy một số đồng chí còn ở lại… Mặc dù vậy, Nguyễn Thanh Bình, chủ trì cuộc họp, vẫn kết luận làm dự thảo Nghị quyết về Đối ngoại.


Mục lục “Hồi ức và Suy nghĩ”


Categories

0 TrackBacks

Listed below are links to blogs that reference this entry: Món nợ Thành Đô.

TrackBack URL for this entry: http://www.dcvblogs.com/mt/mt-tb.cgi/390

Leave a comment

About this Entry

This page contains a single entry by Tran Giao Thuy published on January 15, 2008 12:00 AM.

Ai là người đáng lý ra phải nhớ dai? was the previous entry in this blog.

Tình hình quốc tế và chính sách đối ngoại is the next entry in this blog.

Find recent content on the main index or look in the archives to find all content.

danchimviet
danchimviet