2008 - Dân giàu nước mạnh
Trần Giao Thủy

Trong những ngày đầu vào
năm 2008, khi đưa tin về Việt Nam đa số những mẩu tin
của báo chí thế giới đều chú trọng
đến về mức phát triển kinh tế rực rỡ ở đây,
nhất là báo chí từ các nước bạn
theo chủ nghĩa xã hội.
(Việt
Nam. Nguồn: exquisitesafaris.com)
Báo điện tử Prensa Latina (plenglish.com, Cuba) số ngày 03/01/2008 viết:
Đổi mới kinh tế tại Việt Nam đã không gây ra tình trạng bất bình đẳng, cách biệt giàu nghèo trong xã hội (inequalities in the distribution of wealth). [...] Tổng sản phẩm nội địa tăng 8,5% và tỉ lệ đói nghèo giảm từ 18% xuống 14,7% trong năm 2007 vừa qua.
(Vietnam's
GDP Grew in 2007, Prensa Latina, 03/01/2008)
Tin của
Bloomberg ngày 01/01/2008 viết,
“Nước Việt Nam cộng sản phát triển rất ấn tượng trên nhiều mặt, kể cả mức nhẩy vọt của đầu tư trực tiếp nước ngoài (foreign direct investment, FDI) và 8,5% tăng trưởng của GDP (Tổng sản phẩm nội địa) [...] Sau khi gia nhập WTO, kinh tế Việt Nam năm 2007 có độ phát triển nhanh nhất kể từ 1996, dẫn đầu là khu vực sản xuất.”
(“Vietnam's
economy grew by a decade high in 2007”, Bloomberg Tuesday, Jan
01, 2008, Page 11 ) Thiếu cơ sở tầng để đồng bộ hỗ trợ phát
triển kinh tế
Cũng theo tin Bloomberg, ngày
03/01/2008, công ty Quanta Computer Inc của Taiwan (có
thu nhập hàng năm trên 10 tỉ đô-la) là
hãng làm laptop cho nhiều công ty khác -
laptop Original Design Manufacturer, ODM cho một số Dell
Latitude, IBM, và Sony Vaio - đang thăm dò để
đặt xưởng lắp ráp ở Việt Nam vì giá
lao động tại đây thấp hơn cả Trung Quốc (công
nhân Việt Nam lãnh lương giá bèo hơn
công nhân ở China). Ngoài Quanta, còn có
các công ty Taiwan khánc như Hon Hai Precision
Industry Co, hãng làm sản phẩm điện tử, và
Compal Electronics Corp, một hãng sản xuất laptop khác
của Đài Loan, cũng đang xây dựng hãng
xưởng tại Việt Nam. (“Quanta eyes Vietnam, other
countries for new factory”, Bloomberg, Thursday, Jan 03, 2008,
Page 12 ).
Tương tự, Singapore News, ngày
02/01/2008 cũng cho biết nhiều hãng xưởng đang đặt
cơ sở sản xuất tại Việt Nam thay vì Trung Quốc vì
giá nhân công rẻ hơn và công nhân
Việt Nam hiện đang thoả mãn với đồng lương kiếm
được. (“Manufacturers finding alternatives to once low-cost
China”, Ca-Mie De Souza, 02 January 2008).
AFP, Thomson
Financial và các hãng thông tấn khác
cũng đồng loạt đưa tin kinh tế Việt Nam tăng trưởng
8,5%, nhanh nhất từ nhiều năm qua. Theo Tổng Cục Thống
Kê Việt Nam, dẫn đầu đóng góp vào
nền kinh tế là hai khu vực công nghệ và
xây dựng (42%), theo ngay sau là khu vực dịch vụ
(38%), sau cùng là nông và lâm ngư
nghiệp (20%).
Sau khi vào WTO và cam kết mở
rộng cửa mậu dịch, Việt Nam đã thu hút được
một số (cam kết) đầu tư kỷ lục, 20,3 tỉ đô-la.
Mười tháng đầu năm 2007 dẫn đầu bảng các
quốc gia có đầu tư trực tiếp tại Việt là
Nam Hàn (South Korea), Signapore, Taiwan, Nhật Bản, Hong
Kong. Và British Virgin Islands.
Nhưng có phải
thực tế của nền kinh tế Việt Nam chỉ đơn thuần dựa
vào chỉ số tăng trưởng của tổng sản phẩm nội
địa và mức vốn đầu tư trực tiếp từ ngoại
quốc?
Hãy thử xem qua vài trở ngại và
rủi ro có thể ảnh hưởng xấu đến sự phát
triển và tiến bộ của nền kinh tế Việt
Nam.
Trong những năm gần đây dù mức tiêu
thụ nội địa có góp phần nhỏ vào độ
phát triển, nhưng nền kinh tế Việt nam hiện nay lệ
thuộc rất nhiều vào các động lực từ ngoài:
phát triển nhờ ngoại thương và phát riển
nhờ vào đầu tư trực tiếp của nước ngoài.
Tổng
số giá trị hàng mậu dịch của Việt Nam với
nước ngoài bằng 150% tổng sản phẩm nội địa. Tỉ
số đầu tư trực tiếp nước ngoài trên tổng
sản phẩm nội địa (FDI/GDP) của Việt Nam đứng hàng
đầu trên thế giới vì vậy nền kinh tế Việt
Nam gắn liền với sự ổn định kinh tế toàn cầu.
Khi kinh tế thế giới sút giảm, lập tức người ta
sẽ thấy vốn đầu tư tại Việt nam sẽ chạy ngược về
nguyên xứ.
Những chuyên gia quan sát
và phân tích kinh tế cho rằng còn
nhiều chỉ dấu khác không thể bỏ qua khi nhìn
về và đánh giá nền kinh tế Việt Nam
hiện nay.
Thiếu hạ tầng cơ sở - Không
đủ hạ tầng cơ sở để hỗ trợ đồng bộ cho mức
phát triển kinh tế sẽ là trở ngại cho việc
phát triển bền vững.
Xin mở một dấu ngoặc nhỏ ở đây. Theo quan
sát của người về thăm đất nước năm 2007, hệ
thống đường xá, giao thông ở vùng đồng
bằng sông Cửu Long vẫn không hơn xưa. Bà
Năm, chú Sáu vẫn dùng thuyền bè, chở
hàng hoá (hoa quả, nông, ngư sản khác)
ra bán ở chợ tại các vùng tiêu thụ
ở tỉnh thành. Nông dân miền Nam vẫn nghèo,
và nghèo hơn cả nông dân miền Bắc vì
thua sút hạ tầng cơ sở, và vì không
chuyển đổi sang làm tiểu công nghệ. Đóng
ngoặc nhỏ.

Nguồn: mit.edu
Tại sao hạ tầng cơ sở ở nông
thôn miền Nam thua sút khi mức đóng góp
vào nền kinh tế quốc gia của Sài Gòn,
Bình Dương, và Đồng Nai là những con số
lớn. Theo Báo cáo FDI (1) tính đến
tháng 10/2007 (Bộ Kế hoạch và Đầu tư -
Ministry of Planning and Investment), Sài Gòn có
2,378 dự án, Bình Dương có 1,480, Hà
Nội 938 và Đồng Nai có 863 dự án. Câu
trả lời khá dễ hiểu: cũng như thời chiến tranh,
trung tâm quyền lực của đảng CSVN vẫn nằm ở phố
Ba Đình, Hà Nội dù Chủ tịch nước hay
Thủ tướng hiện tại là người từ Bình Dương
hay gốc ở Năm Căn Cà Mau.
Mức phát
triển kinh tế Việt Nam đã quá khả năng vận
chuyển của hải cảng ở miền Nam. Nguyễn Trọng Huệ,
cục phó Cục Hàng hải Việt Nam cho biết tổng
khối lượng hàng hóa thông qua nhóm
cảng biển khu vực vùng kinh tế trọng điểm phía
Nam trong năm 2006 đạt 54,4 triệu tấn đã vượt mức
dự báo của năm 2010 là 53 triệu tấn hàng.
Theo Tuổi Trẻ tháng 7, 2007, đến 2009-2012 tất
cả hải cảng đang và sắp vào hoạt động sẽ
tràn ngập và để ứ đọng hàng triệu
tấn hàng hoá. Nan đề không chỉ là
cân phải xây dựng thêm bến cảng biển mà
còn là xây dựng cơ sở hạ tầng (đường
xá, điện nước, hệ thống truyền thông ) dẫn
đến những vùng này. Vài thí dụ:
-
Chưa thực hiện dự án xây dựng cơ sở hạ
tầng là những rào cản xây dựng cảng với
số vốn đầu tư lên đến hàng trăm triệu USD
tại Cái Mép - Thị Vải (Bà Rịa - Vũng
Tàu).
- Ở Sài Gòn, công ty Tân
Cảng đã hoàn thành sớm hai năm việc dời
Tân Cảng từ quận Bình Thạnh (ở trong Tp) về
Cát Lái (Nhà Bè) và đã
nâng công suất vận chuyển sản lượng đạt
24-25 triệu tấn hàng hóa, đứng đầu cả nước.
Nhưng, đường liên tỉnh 25 đã trở nên
chật hẹp và xuống cấp vì hằng ngày có
hàng ngàn xe tải vào lấy hàng. Khi
các cảng biển trong nội thành thành phố
dời về khu Cát Lái, Hiệp Phước (Nhà Bè)
thì áp lực giao thông trên tuyến đường
liên tỉnh 25 càng căng thẳng hơn nữa.
Theo
Ngân hàng Phát triển Thế giới (WB) thì
Việt Nam cần đầu tư khoảng 5 tỉ đô-la mỗi năm
để xây dựng hạ tầng cơ sở từ 2006 đến 2010.
Một trong những nan đề lớn nhất hôm nay của nền
kinh tế Việt Nam là mức cung cấp điện lực để
có thể đáp ứng yêu cầu tiêu dùng
trong tương lai gần. Trong những năm 2007 đến 2009, Việt
Nam thiếu khoảng 3,3 đến 10,3 tỉ kWh (kilo Watts giờ)
.
Mức lạm phát - Không như phát
triển kinh tế ở Trung Quốc trong giai đoạn đầu, Việt
Nam đang bị nạn lạm phát trấn áp liên
tục.
Chỉ số giá hàng tiêu thụ
(CPI), giá cả thị trường, tăng 10% năm vừa rồi.
Đây là mức lạm phát cao nhất từ năm
1996. Nếu tính CPI của 11 tháng đầu năm 2007
thì mức lạm phát là 9,5% - cao nhất
trong 10 năm vừa qua - và dĩ nhiên là cao
hơn 8,5% tăng trưởng của GDP. Mức lạm phát sẽ
tiếp tục tăng vì chính phủ Việt Nam quyết
định tăng giá dầu 15% (lên 13.000 đồng/lít
từ cuối tháng 11, 2007). Theo tờ Tuổi Trẻ hôm
04/01/2008, chính phủ Việt Nam có thể sẽ tăng
giá dầu 30% lên 17.000 đồng/lít vì
hôm 03/01/2008, giá dầu đã vượt lên
trên 100 USD/barrel (như giá dầu vào quý
thứ 3 năm 1980 khi xảy ra chiến tranh Iran và
Iraq).
Trả lời câu hỏi “Theo ông, câu
chuyện lạm phát giữ vị trí nào trong bức
tranh kinh tế năm nay?” của Tuổi Trẻ Online, hôm
02/01/2008 Vũ Khoan, cựu Phó Thủ tướng, cho hay:
Năm 2007, bức tranh kinh tế có nhiều điểm sáng như chỉ số tăng trưởng, thu hút đầu tư, xuất khẩu... nhưng cũng có một vài điểm tối.
Điểm tối nhất chính là chỉ số lạm phát, tức giá tiêu dùng tăng trên 12%, cao hơn tốc độ tăng trưởng. Chỉ số này làm bức tranh kém hẳn đi vì kinh tế tuy đi lên nhưng chất lượng sống đi xuống.
Lệch cán cân thương mại
Lệch
cán cân thương mại - Không giống như
các nền kinh tế nghiêng về xuất cảng, Việt
Nam đang bị lệch cán cân thương mại: trị giá
hàng Việt Nam nhập cảng nhiều hơn xuất cảng. 11
tháng đầu năm vừa qua Việt Nam nhập cảng nhiền
hơn xuất cảng đến 10,5 tỉ đô-la so với mức thua
hụt năm 2006 là 5,1 tỉ USD; Mức lệch cán cân
thương mại này cũng vượt quá ước tính
của Bộ Thương mại và Công nghiệp là 10
tỉ USD.
Gần như hầu hết tiền dùng nhập
cảng quá mức đều để chi cho dụng cụ, máy
móc sản xuất và nguyên liệu; Một số
người cũng cho rằng “nguyên liệu” Việt Nam nhập
cảng thật ra là hàng đã làm gần
xong (semi-finished goods) vì thế sẽ không tăng
được giá trị sản xuất.
Hiện nay nhờ đầu tư trực tiếp nước ngoài,
nhờ tài trợ phát triển chính thức
(Official Development Assistance, ODA) và dĩ nhiên cũng
nhờ vào vài tỉ đô-la kiều hối (Việt
kiều và người lạo động hải ngoại gởi về) mức
thiếu hụt ngoại tệ vì cán cân thương
mại lệch lạc vẫn được bù đắp. Tuy nhiên,
nếu tiếp tục thâm thủng về xuất-nhập nền kinh
tế đường dài sẽ không phát triển được.

Nguồn:
picasaweb.google.com
Theo Bộ Thương mại và Công nghiệp, đến
năm 2010 Việt Nam sẽ cân bằng cán cân
thương mại.
Là thành viên của WTO,
Việt Nam được hưởng lợi về mặt gia tăng xuất cảng;
Cùng lúc, rào cản thuế nhập cảng không
còn hay phải hạ xuống rất thấp, khi đã hội
nhập WTO, làm cho hàng nội hoá thua sút,
không hấp dẫn với giới tiêu thụ so với hàng
nhập cảng. Vì thế, kết quả là hàng
xuất cảng hiện nay và trong trung hạn không đóng
góp vào việc phát triển.
Thâm
thủng ngân sách - Từ nhiều năm qua nhà
nước Việt Nam vẫn tiếp tục quản lý với một
ngân sách thâm thủng. Số thâm thủng
ngân sách năm 2007 dự tính là 4% tổng
sản phẩm nội địa; tuy thế vẫn còn khá
nhiều chi tiêu ngoài ngân sách do Thủ
tướng chính phủ trực tiếp ký thuận và
do chính Ngân hàng Phát triển Việt Nam
chi trả.
Theo thông tin của Quỹ Tiền tệ Quốc
tế (IMF) thì những hoạt động chi tiêu ngoài
ngân sách vừa nêu cộng vào mức thâm
thủng ngân sách khoảng 3% đến 5% tổng sản
phẩm nội địa. Điều này khiến Việt Nam trở
thành một trong những quốc gia có số thâm
thủng ngân sách cao nhất trong vùng.
Mặt
khác, thu nhập cho chi dùng của nhà nước
Việt Nam phần lớn là từ lợi tức của dầu thô.
Điểm này cho thấy việc chi tiêu và quản
lý ngân sách quốc gia lệ thuộc rất lớn
vào giá dầu bấp bênh trên thế giới.
Hôm 03/01/2008, lần đầu tiên giá dầu đã
tăng trên 100 đô-la một thùng (barrel). Chính
phủ Việt Nam sẽ thở phào nhẹ nhõm hay phải
chuẩn bị để đối phó với vấn đề mới và
có thể sẽ nâng giá dầu lên 17.000
đồngVN/lít - tăng 30%?
Trả lời Vietnam Net
đăng ở VnEconomy, Báo điện tử - Thời báo
Kinh Tế Việt Nam, hôm 06/01/2008, về “việc giá
xăng, dầu đã lên đến ngưỡng 100 USD/thùng
sẽ tiếp tục tác động thế nào đến giá
cả trong nước?”, Bộ trưởng Bộ Công Thương
Vũ Huy Hoàng nói:
[...] những diễn biến tăng giá cao và đột biến, có thể lên mức 100 USD/thùng, sẽ có tác động rất lớn đến nền kinh tế.
Tôi tin rằng, nếu diễn biến 100 USD/thùng là hiện thực, chắc chắn sẽ ảnh hưởng quan trọng tới việc điều hành thị trường năm 2008 nhất là trong khi chúng ta vẫn nhập khẩu 100% xăng, dầu.
Trong khi đó, đến giữa năm 2009, khi Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động, mới đáp ứng một phần thôi vì công suất của Dung Quất chỉ có 6,5 triệu tấn trong khi đó hiện cả nước đã dùng đến 13,5 triệu tấn mỗi năm.
Vì thế, giá xăng dầu thế giới sẽ là yếu tố ảnh hưởng rất quan trọng tới sản xuất trong nước và thị trường trong năm 2008.
Việt kiều Phạm Duy về xây dựng đất nước
(Ngày Trở Về, 2006)
Mặt
khác, gia nhập WTO cũng đồng nghĩa với việc Việt
Nam phải hạ mức thuế nhập cảng, trực tiếp làm
giảm thu nhập tài chính, khoảng 10%, cho ngân
sách chính phủ.
Những nhân tố nêu
trên đều có khả năng gây ra điều kiện
bất lợi cho tình hình tài chánh quốc
gia.
Cần có một lực lượng lao động
chuyên nghiệp - Thị trường nội địa cung cấp
lực lượng lao động lành nghề (skilled labor) vẫn
tiếp tục là vấn nạn và thử thách cho
nền kinh tế Việt Nam.
Một lý do lớn và
chính đưa đến hậu quả Việt Nam không có
đủ lực lượng chuyên nghề là hệ thống giáo
dục lạc hậu không đáp ứng được yêu
cầu của thị trường hiện tại.
Dù là
kỹ sư hay chuyên viên kế toán làm Việt
Nam làm việc với Intel của Mỹ hay Quanta, Compal của
Đài Loan và cả những công nhân ở các
hãng làm giày, các xưởng may ở Sài
Gòn, Bình Dương hay Hà Nội chắc chắn
không cần phải biết - và cũng không nên
biết - về lý thuyết kinh tế Mác-Lê và
“đạo đức” ông Hồ Chí Minh, những môn
học vẫn còn nằm trong chương trình giáo
dục hiện tại.
Để có thể cung ứng cho thị
trường đang đòi lỏi lao động chuyên nghề,
chính phủ Việt Nam đang ủng hộ việc thành
lập các trung tâm huấn nghệ để công nhân
viên có thể trau giồi tay nghề, trở thành
thợ giỏi. Đồng thời nhà nước Việt Nam cũng
khuyến khích Việt Kiều trở về góp phần xây
dựng, phát triển đất nước. Ở chính sách
này, nhà nước cộng sản Việt Nam có vấn
đề với cả hai khối người Việt đang sinh sống ở
nước ngoài.
Một là số du sinh đi học
tại các nước tiên tiến (Mỹ, Canada, Úc,
Pháp Đức, v.v...) chịu trở về làm việc là
tỉ số rất nhỏ theo thống kê chính thức của
Bộ Giáo dục và đào tạo và là
thực tế không thể tranh cãi. Đây là
những thanh niên lớn lên trong lòng xã
hội chủ nghĩa (XHCN), một số có học bổng quốc
gia hay học bổng của đại học, số khác - không
nhỏ - đi học theo diện tự túc. Đa số đi và
không muốn trở về, họ đương nhiên trở những
người XHCN “vượt biển” tìm tự do hay là
những người “tị nạn kinh tế” rồi trở thành
Việt kiều (gốc XHCN).
Hai là số đông các chuyên gia,
thợ giỏi trong cộng đồng người Việt nước ngoài
là những phải bỏ xứ ra đi từ tìm tự do năm
1975 hay những năm sau đó bị nhà nước cộng
sản ngược đãi, phải “lấy vàng mua bãi”,
để “được” đuổi khỏi Việt Nam. Những người Việt
hải ngoại này, đa số, không tin vào chính
sách hoà giải, quên quá khứ, hướng
tới tương lai - trừ số rất nhỏ như các ông
Việt Kiều mới “yêu nước” như Nguyễn Cao Kỳ,
Phạm Duy, ... và một số Việt kiều vẫn còn
... “yêu nước”. Đa số trong khối người Việt
hải ngoại cũng không tin những lời mời gọi mà
Hà Nội đã rêu rao từ những năm vừa qua
bắt đầu bằng Nghị Quyết 36 của Bộ Chính trị
(Đảng Cộng sản Việt Nam, 36/NQ-TW ngày 26/3/2004) về
Công tác đối với người Việt Nam ở nước
ngoài.

Nguồn: netlife.vietnamnet.vn
Có rất nhiều nguyên cớ để
đại đa số người Việt hải ngoại không tin vào
“hoà giải” dù họ có thể là
những người không có cả quá khứ với
cộng sản Việt Nam vì là những thanh niên
sinh sau 1975. Làm thế nào thuyết phục được
khối thanh niên này khi trước mắt họ nhan nhản
những người XHCN đang khoác áo “tị nạn kinh
tế” hay “vượt biển tìm tự do”. Và CHXHCN
Việt Nam có gì để cống hiến hay trao đổi
với tầng lới trí thức trẻ này?
Mặt
khác, “Đừng nghe gì cộng sản nói. Hãy
nhìn những gì cộng sản làm” - câu
nói cũ hơn 30 năm dường như vẫn còn ứng dụng
tốt ở đầu thế kỷ thứ 21.
Vốn đầu tư trực
tiếp: cam kết và thực hiện - Cam kết đầu tư
trực tiếp từ nước ngoài tiếp tục tăng nhanh
trong năm 2007. Chỉ 10 tháng đầu năm con số này
đã lên đến 11,3 tỉ USD, tăng 36% so với 10
tháng đầu năm 2006.
Ngon lành? Coi vậy mà
không phải vậy vì con số đầu tư trực tiếp
nước ngoài thực sự được giải ngân sẽ
không vượt quá 5 tỉ USD trong năm 2007. Theo Ngân
hàng Phát triển Thế giới tỷ lệ giải ngân
từ ngân sách Nhà nước vẫn còn thấp.
Điều này cho thấy các dự án đầu tư
công được triển khai chậm. Tỉ số (đầu tư đã
thực hiện/số đầu tư đã cam kết) của những
nước đầu tư nhiều nhất: Nam Hàn, 27%, Singapore
42%, Taiwan 33%, Nhật Bản 59%, Hong Kong 41%, British Virgin
Islands 28%, Hoa Kỳ 30%. Tại sao tỉ số giải ngân vố
đầu tư trực tiếp chỉ đạt khoảng 50% số cam kết?
Đơn giản, đây là khoảng cách giữa sự
mong đợi của người đầu tư nước ngoài và
thực tế tại hiện trường. Một cách khác,
đây là chỉ dấu tin tưởng vào Việt Nam
của giới đầu tư nước ngoài.
Các cơ
quan viện trợ và tài chánh quốc tế liên
tục nhắc nhớ chính phủ Việt Nam phải củng cố
làm tốt hơn hệ thống pháp luật và khung
quản lý, phải cắt bỏ tính quan liêu, lề
mề của chế độ kinh tế tập trung.
|
|
|
Việt
Nam xếp hạng 91 trên 178 nước (xem
thêm chi tiết) |
Thăm
dò do Ngân hàng Thế giới và Công
ty Tài chánh Quốc tế (Internatiobal Finance Corp)
vừa thực hiện (2) xếp Việt Nam hàng 91 trong
178 nền kinh tế có thể dễ dàng kinh doanh. Cũng
trong bảng này Singapore hạng nhất, Hong Kong hạng 4,
Thái Lan hạng 15, Malaysia hạng 24. Đáng chú
ý là Việt Nam đứng hạng 165/178 về mặt bảo
vệ người đầu tư. Ai là rồng ai là hổ ở
Đông Nam châu Á?
Việt Nam phải tiếp
tục cạnh tranh với các nước láng giềng nếu
muốn tiếp tục thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài. Mức tăng trưởng của tổng sản phẩm
nội địa cùng chỉ số tăng trưởng kinh tế hàng
năm cũng không đủ để để đánh giá một
nền kinh tế của một quốc gia vừa gia nhập WTO.
Và
chắc chắn, phát triển kinh tế không sẽ không
đủ để làm “dân giàu nước mạnh” và
cũng không khi nào đủ để xây dựng được
một “xã hội công bằng dân chủ văn minh”
khi Việt Nam vẫn còn bị một chế độ độc tài
chuyên chính toàn trị.
©
DCVOnline

