Việt Nam cần đổi mới hệ thống giáo dục
David
Koh — Trà Mi lược dịch

Ông Nguyễn Minh Hiển có lẽ sắp phải dọn ra khỏi văn phòng Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) nếu không phải cuối tháng 6 (2006) thì sẽ là cuối khoá Quốc Hội vào cuối năm 2007 vì đã không được đề cử vào Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam trong Đại hội X cuối tháng 4, 2006.
Nguyễn Minh Hiển mất ghế Bộ trưởng không làm nhiều người ngạc nhiên. Trong những năm qua, ông Hiển đã bị chỉ trích nặng nề tại Quốc hội vì sự thất bại của hệ thống giáo dục và ông buộc phải chịu trách nhiệm về điều đó.(1)
Hiện
cảnh
Những chỉ trích cho rằng hệ thống giáo dục không cung ứng đủ công nhân có trình độ cho nền kinh tế; người tốt nghiệp không có đủ kiến thức làm việc trong nền kinh tế tri thức và toàn cầu. Nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học lại phải học thêm chuyên ngành trước khi tìm được việc làm tốt. Chê trách nặng nề nhất là việc học sinh phải học quá nhiều: học tư, học thêm, ... tất cả đã là những động lực phát triển một kỹ nghệ lớn, kỹ nghệ “Học thêm”. Giáo viên cũng lạm dụng “kỹ nghệ” này để tham nhũng. Thi cử, ở chừng mực nào đó, chỉ là bức màn che cho những ứng xử thiếu đạo đức nhà giáo của một số giáo viên. Hàng năm, những kỳ thi tốt nghiệp trung học và tuyển sinh đại học là đỉnh điểm của những vụ gian lận và quay cóp. Thật ra, cả một kỹ nghệ khác đã thành hình để giúp học sinh gian lận.
|
|
|
Hàng
bán “phao” cho tuyển sinh cạnh Bộ GD-ĐT ở Hà
Nội |
Giáo dục Đào tạo nếu không là chức vụ bộ trưởng khó nhất thì cũng nằm trong các trách nhiệm nặng nề nhất ở các quốc gia đang phát triển. Không chỉ các nước đang phát triển gặp khó khăn về tài chính cho giáo dục, các nước có nhiều sắc tộc, nhiều tranh chấp dân tộc cũng gặp những khó khăn như vậy. Vì thế chính sách giáo dục, có thể xem như là quả bóng chính trị nóng nhất. Trong trường hợp Việt Nam, tài chính và trình độ kém cỏi là hai vấn đề lớn nhất, và tất cả lỗi đã đổ lên đầu Bộ trưởng.
Đổ
tất cả lỗi cho Bộ trưởng có thể rất không
công bằng, bởi vì cuối cùng thì toàn
bộ hệ thống cai trị có trách nhiệm phải
phản ứng, sửa chữa, và đổi mới. Cơ bản, Bộ
GD-ĐT là một nạn nhân của trận bóng
chính trị. Việc đặt kế hoạch và quản lý
cả hệ thống giáo dục không thể thoát
khỏi phạm vi của chính sách nhà nước đã
bị quan điểm chính trị và thói quen thống
trị áp đặt. Đây là những bức tường
cao ngăn cản không cho hệ thống giáo dục Việt
Nam thay đổi.
Rào
cản
Trước
hết, tâm lý của hầu hết, nếu không nói
là tất cả, các bậc cha mẹ tại Việt Nam đều
mong muốn con mình học càng nhiều, càng
lên cao càng tốt, thông thường là tốt
nghiệp đại học và kiếm một công việc ngon
lành trong cơ quan nhà nước hay với doanh nghiệp
nước ngoài, và nếu là công ty đa
quốc gia lại càng tốt. Đấy là con đường
của Khổng giáo. Với hiện tình tham nhũng toàn
hệ thống, có việc làm trong cơ quan nhà
nước đồng nghĩa với thu nhập cao. Nếu tồn tại lâu
và lại vào đúng ổ thì “lậu”
lại còn cao hơn nữa. Rất nhiều công ty quốc
doanh vẫn tiếp tục khai thua lỗ hàng năm và
không có (cũng như không cần - TM) giải
Nobel để đoán tại sao tại sao các giám
đốc lại quản lý tồi như thế.
Việt Nam
cũng có một trường đại học Bách khoa nhưng
thực tế vẫn còn thiếu nhiều những công nhân,
chuyên viên lành nghề.
|
|
|
“Phao”
nổi lềnh bềnh ngay ngoài sân sau kỳ
thi |
Trong nhiều năm qua, các chuyên gia kêu gọi Bộ GD cung ứng thêm nhiều trường đào tạo kỹ thuật; Tuy thế, các trường kỹ thuật (gọi là trường cao đẳng) vẫn không phát triển nhanh kịp với yêu cầu của nền kinh tế đang kỹ nghệ hoá. Đây là điểm thiếu sót của chính sách giáo dục, rất đáng tiếc về nhiều măt. Nếu có thêm các trường cao đẳng thì không những tiếp nhận được lớp trẻ đang thao thức vì trượt đại học - nếu thuyết phục được họ đó là một con đường khác đi đến thành công - mà còn có thể, về mặt nhân lực, bảo đảm với giới đầu tư về mức cung đầy đủ (cho họ) một đội ngũ chuyên viên kỹ thuật có trình độ. Về mặt này, tài nguyên và tầm nhìn chiến lược cần phải được áp dụng và xã hội cần phải được thuyết phục là có rất nhiều con đường dẫn tới thành công.
Điều
người Việt Nam gọi là “Muốn làm thầy
hơn làm thợ” đã tạo áp lực lớn
lên hệ thống giáo dục: dùng quá
nhiều tài nguyên vào việc đào tạo
những lý thuyết gia hơn là những chuyên
viên có tay nghề. Các cuộc thi tuyển vào
đại học rất căng thẳng. Cha mẹ và học sinh đã
phải cạnh tranh ngay từ những cấp học bậc thấp, chọn
gởi con vào học những trường lớp hàng đầu
để chuẩn bị cho con đường vào đại học được
dễ dàng hơn. Vì thế học sinh thường chú
tâm bỏ sức học gạo để đi thi lấy điểm cao. Nếu
có cơ hội, cha mẹ đều muốn con em vào đại
học. Trong mười năm mới đây, học sinh ra nước
ngoài để lấy bằng đại học tăng một cách
khủng khiếp. Việc cha mẹ chi trả 100 đến 200 đô
la cho con đi học thêm ngay từ bậc tiểu học tới
trung học là chuyện rất thường.
Tiêu
biểu, họ cho con lao vào học thêm tiếng Anh ở
những trung tâm Anh ngữ như Apollo ở Hà Nội,
nơi “Tây ba lô” từ các nước Anh,
Australia, Mỹ khi đi du lịch được tuyển vào dạy,
đơn giản chỉ vì họ là người nói tiếng
Anh gốc. Hơn nữa, tiếng Anh lại là yêu cầu
cần có để đi học tiếp sau bậc đại học. Giáo
dục Đào tạo Việt Nam sau đại học còn kém
xa so với tiêu chuẩn Tây Âu và và
có một hố cách xa giữa những người được
đào tạo trong nước và những người học ở
nước ngoài.
Đổi
mới
Dĩ
nhiên, chính sách cần phải có là
điều chỉnh sự cân bằng giữa việc đào tạo
“thầy và thợ” cũng như mở rộng hệ thống giáo
dục. Người ta cho rằng cán cân phải thay đổi,
nghiêng về hướng đào tạo để có nhiều
“thợ” hơn “thầy” vì những công nhân
lành nghề đang thiếu trầm trọng trong thời đại
kỹ nghệ hoá nhanh chóng.
David
Koh: Điều hợp chương trình Chiến lược Khu vực
và Nghiên cứu Chính trị, Institute of
Southeast Asian Studies (Singapore)
Chính vì thế, lãnh vực giáo
dục ở Việt Nam đã đến lúc phải đổi mới,
không chỉ từ việc phân bố tài chính
mà cả từ những giá trị của việc học tập.
Đào tạo kỹ thuật nhiều hơn để có nhiều
cán sự kỹ thuật hơn là một chính sách
cần có, không thể bỏ qua. Việt Nam dứt khoát
không đủ nguồn tài nguyên quốc gia trong
thời gian ngắn để có thể cung cấp đủ nguồn
nhân lực quan trọng hầu giữ vững mức kỹ nghệ
hoá hiện nay. Những rào cản này sẽ
khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài
đặt nhà máy nơi khác.

Nguồn: opinionasia.org
Tuy
thế, còn hai đổi mới khác cũng cần có
để có thể nâng cấp tiêu chuẩn giáo
dục qua khỏi lối học từ chương. Việt Nam cần có
nhiều trường khuyến khích óc sáng tạo
trong tầng lớp học sinh. Thị trường cho những trường
học như vậy rất lớn và nhà nước đã
cho phép thành lập những trường tư thục tiểu
và trung học. Đây là cơ hội lớn cho các
nhà đầu tư. Cơ hội thứ hai để những nhà
đầu tư nước ngoài gợi ý với chính phủ
Việt Nam: gầy dựng một hệ thống thi cử độc lập,
giống như thoả thuận giữa Bộ GD Singapore với đại học
Cambridge. Đối với những nội dung kiến thức mang tính
toàn cầu, ở bậc trung học và sau trung học,
những giám khảo nước ngoài sẽ ra đề và
chấm điểm ngoài Việt Nam. Điều này sẽ bài
trừ hẳn bệnh gian lận thi cử đang ám ảnh ngành
giáo dục Việt Nam - Đề thi của Bộ GD-ĐT không
ngừng rò rỉ trước mọi kỳ thi, gian lận thoải
mái trong phòng thi và hối lộ giám
khảo. Giám khảo người nước ngoài sẽ dễ
thành công hơn nếu có người Việt tại
địa phương hay Việt kiều cùng làm việc.
©
DCVOnline
Online: http://snipurl.com/3jd56 [dcvonline_net], January 11, 2007
Nguồn:
Reforms
of the Vietnamese education system badly needed, David Koh,
Institute of South East Asian Studies.
(1) Nguyễn Thiện Nhân (12/6/1953 — ), Bộ trưởng mới của Bộ GD-ĐT từ tháng 7/2006, 53 tuổi đời, 26 tuổi đảng, Ủy viên T.Ư. Đảng CSVN, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban Nhân dân Thành phố HCM. Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng II và III, Huy chương “Tuổi trẻ sáng tạo”, Huy chương “Vì thế hệ trẻ”, Chiến sĩ thi đua nhiều năm liền.
Nguyễn
Thiện Nhân
N
gười quê ở Xã Phương Trà, Huyện
Châu Thành, Tỉnh Trà Vinh, sinh quán Cà
Mau, hiện cư ngụ tại Phường 8, Quận 3, Thành phố
Hồ Chí Minh.

Nguồn: congan.com.vn
Từ
6/1970 — 3/1983, thuộc quân đội nhân dân
Việt Nam, 1976 Thiếu Uý, 1980 Trung Uý, 1982 Thượng
Uý. Được cho đi học và tốt nghiệp TS Điều
khiển học (Cybernetics) tại CHDC Đức (Đông Đức).
Được
kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 4
tháng 1 năm 1980.
Hoạt
động giáo dục: 4/1983 — 4/1985, Giảng viên
Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí
Minh. 8/1988 — 10/1991 công tác tại Đại sứ quán
Việt Nam tại Cộng hòa Dân chủ Đức và
đi học thêm về Kinh tế thị trường tại Trường
Đại học Tổng hợp Kỹ thuật Magdeburg Cộng hòa
Liên bang Đức. 2/1992 — 6/1993, cán bộ giảng
dạy tại Trường Đại học Bách khoa Thành phố
Hồ Chí Minh, Phó Chủ nhiệm bộ môn Quản
lý Công nghiệp. 6/1993 — 8/1995, được cử đi
học Cao học quản lý cộng đồng (quản lý Nhà
nước) chuyên ngành Tài chính công
tại Trường Đại học Oregon (Mỹ) và học khóa
đào tạo về thẩm định dự án đầu tư tại
Trường Đại học Harvard (Mỹ). 9/1995 — 5/1997, giảng
viên, Chủ nhiệm Khoa Quản lý Công nghiệp,
Phó Hiệu trưởng trường Đại học Bách khoa
Thành phố Hồ Chí Minh. Phó Giáo sư
Kinh tế năm 1996. 5/1997 — 5/1997, Giám đốc Sở Khoa
học, Công nghệ và Môi trường Thành
phố. 11/2002: Giáo sư Kinh tế.
Hoạt
động Đảng: 1984, Bí thư Đoàn Trường Đại
học Bách khoa, Ủy viên ban Thường vụ Thành
Đoàn tháng 7 cùng năm. 4/1985 — 8/1988, Ủy
viên Ban Thường vụ Thành Đoàn, Trưởng
Ban Khoa học Kỹ thuật Thành Đoàn. 7/1987, Phó
Bí thư Thành Đoàn. 8/1988 — 10/1991, Tùy
viên Giáo dục Đại sứ quán Việt Nam tại
nước Cộng hòa Dân chủ Đức, Bí thư Ban
Cán sự Đoàn. 11/1191 — 6/1993, Chờ phân
công công tác tại Trung ương Đoàn.
5/1997 — 5/1997, Đại biểu Quốc Hội Khóa X. 12/1999
đến nay: 3/2001: Ủy viên Ban Thường vụ Thành
Ủy. Đại biểu Hội đồng nhân dân Thành
phố Khóa VI, Phó Chủ tịch. 5/2001: Phó Chủ
tịch Thường trực Ủy ban Nhân dân Thành
phố HCM.
0 TrackBacks
Listed below are links to blogs that reference this entry: Việt Nam cần đổi mới hệ thống giáo dục.
TrackBack URL for this entry: http://www.dcvblogs.com/mt/mt-tb.cgi/531



Leave a comment