Vũ khúc con cò
Bạn thân,
Canada, xứ lạnh tình nồng, như ước lệ đầu môi của những người sinh sống ở đây. Ở đây mùa hè là mùa của ngày dài đêm ngắn, mùa của mặt trời, mùa có nhiệt độ trung bình trên số không; vì cũng là mùa ngắn ngủi như tiếng hát ve sầu, hè ở Montréal hay ở những đô thị Bắc Mỹ khác là lúc người ta đem đời sống bầy ra ngoài phố. Bắt đầu từ tháng Năm, mùa hội đã rộn ràng; nào là hội kịch, hội bia, hội nhạc, hội múa, ngày hội văn hoá - từ Á châu sang Trung Mỹ đến Phi châu và nhiệu hội lễ khác kéo dài suốt bốn tháng ấm áp.

Đầu tháng chín, phố phường Montréal đang nhộn nhịp trong Đại Hội Điện Ảnh Thế Giới. Nói là Montréal nhộn nhịp trong không khí điện ảnh không có nghĩa là người Việt ở đây cũng nhộn nhịp theo; nói chung và thật phiến diện, có lẽ đại đa số đồng bào ta ở thành phố này chẳng quan tâm gì lắm đến những sinh hoạt gọi là văn hóa của người khác, bất kỳ là tranh ảnh, chiếu bóng, kịch nghệ, âm nhạc hay văn học.
Câu chuyện muốn kể bạn nghe lần này là Đại Hội Điện Ảnh năm nay ở Montréal. Đại Hội Điện Ảnh có hai phim Việt Nam tham dự là Vũ Khúc Con Cò và Thung Lũng Hoang Vắng.
Thung Lũng Hoang Vắng kể chuyện hai cô giáo, ông hiệu trưởng và anh kỹ sư địa chất loanh quanh, luẩn quẩn trong tam giác tình yêu ở vùng núi rừng thiếu thốn, với lũ học trò mươi đứa ở miền cao cực Bắc Việt Nam. Tuy đề tài phim truyện không bắt người xem phải ray rứt suy nghĩ, khung cảnh hùng vĩ bao la ở Sa Pa và công viên Cúc Phương làm nhân vật nhỏ lại, dễ gây xúc động. Nói chung đây là một trong rất ít phim Việt Nam đang được ưa chuộng và có đủ chất lượng để phát hành trong vùng Đông Nam Á hay các quốc gia Âu Mỹ. Thế cũng tạm đủ về Thung Lũng Hoang Vắng, bạn nhé!
B
ây
giờ đến Vũ Khúc Con Cò. Chiều trong tuần, con
phố chính không còn một khoảng trống đậu
xe và người đi nườm nượp; Montréal vẫn còn
không khí mùa hè và người đi
xem đông thật. Ngồi được vào ghế thì
phim đã bắt đầu ở trại Xuân Mai vào mùa
Xuân 1968 với khuôn mặt năm vai chính, năm
thanh niên trên đường vào cuộc chiến. Qua
vài phút đầu phim tôi cảm thấy như tài
tử và khung ảnh gần mình hơn; chẳng hiểu gần
hơn vì diễn viên nói cùng ngôn
ngữ hay gần hơn vì khung cảnh dù không
quen nhưng cũng biết đó là giải núi sông
nước Việt, hay gần hơn vì ngàn cây xanh
ngát giữa núi rừng Việt Nam trùng trùng
điệp điệp.
Cũng có thể tôi cảm thấy
thân quen vì cuộc chiến Việt Nam là đề
tài máu thịt của vài thế hệ đang qua,
như một anh bạn ở đây đã so sánh. Trong
những giây phút đầu tiên ấy, tôi nghe
tiếng bom, tiếng xe, tiếng đạn chạy quanh rạp. Thì
ra âm thanh nổi, kỹ thuật Dolby là đây.
Câu chuyện theo chân của người trong cuộc
qua ký ức của một cựu phóng viên chiến
trường kể lại với những người bạn và cả kẻ
thù. Lối kể chuyện không theo không gian
đường thẳng hay chen vào những khoảng flashback,
những khúc quanh, vẫn còn kém về kỹ
thuật, ngắn và không cần thiết, giật ngược
người xem khỏi chuỗi suy nghĩ, phức tạp hóa việc
theo dõi chuyện phim.
Năm
vai chính trong phim, mỗi người một định mệnh;
những định mệnh chẳng khác hàng triệu người
trong bao cuộc chiến. Cuộc chiến nào chẳng có
mất mát, có máu lửa, yêu, thù,
thương, hận rối tung vào nhau.
May là một thanh niên vui tính, mộng ước thật bình thường, mơ ngày hòa bình về quê lấy vợ sinh con. Mạnh, thiếu niên mười sáu tuổi, nói dối để được nhập trận, lúc nào cũng cố giữ vẻ gan góc và dĩ nhiên là người khóc trước nhất khi vưa thấy bộ mặt thật của chiến trường. Hình ảnh vợ trẻ con thơ lúc nào cũng bám sát Văn, người cán bộ chính trị lãng mạn, thích làm thơ, viết nhật ký, tay đàn miệng hát. Vinh, trầm lặng, người quay phim chiến trận, không cần được xướng danh; có lẽ đây là nhân vật trưởng thành nhất. Như những phóng viên mặt trận khác, anh chỉ được vũ trang bằng giấy bút và máy quay phim để đương đầu với đạn bom và khói lửa. Lâm, người đặc công, anh gián điệp hoạt động trong vùng địch. Gián điệp cũng yêu, cũng sinh con sau khi cưới con gái kẻ thù. Nhưng rồi vợ con phải bỏ anh đi, ngày anh đang say men chiến thắng. Tình chồng vợ, nghĩa cha con, thật hay chỉ là ảo tưởng, hay chỉ là phương tiện để cuộc chiến của anh đến đích, có người thắng, có kẻ thua?
Phim truyện muốn nói đến những con người phải xông pha vào máu lửa, chịu mất mát, yêu, thù, thương, hận cũng chỉ mong cho mình tìm được một cuộc sống an bình với gia đình, với người thân thuộc. Chiến tranh thật phi lý!
Hai nhân vật nữ trong phim là Hoài, vợ Văn và Thúy Lan vợ của Lâm. Hải Yến, môt nữ diễn viên đang lên, thủ vai Hoài như bộ mặt chung cho bao chinh phụ trong cuộc chiến. Vai Thúy Lan do Nguyễn Ngọc Hiệp diễn xuất, cô là một trong những diễn viên nổi tiếng đã được biết đến qua trong những phim như Ba Mùa và Dấu Ấn Của Quỷ.
N
gồi
xem phim mà đầu óc lan man đến những so sánh
không tránh được. Mâu thuẫn quá! Xem
phim nói tiếng Việt, với cảm nhận gần gũi ngay từ
đầu nhưng đợi mãi không thấy tim thắt lại,
chẳng thấy xốn xang. Người Mỹ, võ biền như hai
ông Hal More và Randall Wallace, làm phim “We
Were Soldiers” có lẽ đã đem đến cho người
xem nhiều xúc động tê thắt hơn. Cảnh vợ nhận
tin chồng tử trận, tình đồng đội của người
lính Mỹ, lòng dũng cảm, mối lo âu về gia
đình của những người chiến sĩ ở cả hai bên
chiến tuyến trong thung lũng tử thần và những xác
người cháy, xác người chồng chất trên
mặt trận Ia Drang. Làm phim như thế không được!
Làm phim loại ấy có thể lại được ban Tư
tưởng Văn hoá mời đi làm việc và ra
lệnh cho báo chí lên án như trường
hợp Đơn Dương.
Những ngôi sao sáng trong làng
văn thơ xã hội chủ nghĩa, những người làm
phim mới, những người làm phim thời sự, hay nói
nôm na là những nhà văn, nhà thơ, nhà
điện ảnh cỡ bự, có hạng như các ông
Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Duy, Trần Văn Thủy, Thu Bồn
đã để quên sáng tạo hay óc sáng
tạo đang kẹt trong tủ khóa khi viết kịch bản cho
Vũ Khúc Con Cò! Khỏi mất thì giờ suy nghĩ
sâu sắc, các ông dùng những mẫu có
sẵn trên kệ hàng. Làm phim bằng những ước
lệ quá tầm thường và hời hợt, bỏ rơi cả
thực tế: Lính của ngụy trông thật chán,
đã gầy guộc, không đẹp trai lại còn
gian ác, chỉ thích chơi bời, bắn người bừa
bãi. Không như Mỹ làm phim, ông Đơn
Dương đã phải nhịn ăn để xuống cân để rõ
nét phong sương của rừng núi, bộ đội ta
trong Vũ Khúc Con Cò, vừa thông minh, vừa
khỏe mạnh, khỏe mạnh đến mập mạp; Béo tròn
ngay cả lúc nằm trên rừng núi Trường Sơn
hay lúc ngôi ở nhà hàng sang trọng ở
Sài Gòn. Tình nghĩa của quân đội
cách mạng cực kỳ cao cả. Chính ủy sắt thép
của quân đoàn chưa đợi Văn xin đã cho ba
ngày phép đi thăm vợ.
Làm phim, viết
kịch bản, dĩ nhiên cần hư cấu nhưng không thể,
hay không nên phản bội một số thực tế quá
rõ ràng, quá minh bạch. Đại tá ngụy
phì nộn, mặt đen như chì, tóc dài
như bốn tháng chưa cắt, mặc đại lễ phục (như
mới lấy từ khu bán đồ cũ) đi ăn nhà hàng,
đi khiêu vũ. Người để ý hơn có thể còn
hỏi thăm trình độ của Lâm (hay của những
người viết lịch bản) anh thầu khoán trung tá
đặc công, với tư cách gì, với văn hóa
nào, anh ngồi ở ghế chủ tọa trong buổi tiệc? Ở
những năm 1972, học sinh Sài Gòn biểu tình
đả đảo đế quốc Mỹ à? Cũng buồn cười, cùng
lúc tiếng đả đảo đế quốc Mỹ vang cả rạp tôi
cố tìm đọc những dòng phụ đề những chẳng
bắt được câu nào có chữ “Down with the
American Imperialists” ở đâu cả. Đế quốc Mỹ vừa
mới ký hiệp thương với ta, có lẽ đả đảo
tàm tạm bằng tiếng ta cũng đủ rồi chăng?
Hơn
hai mươi bẩy năm rồi! đâu cần chà đạp thêm
những chiến sĩ Cộng Hòa dù họ còn sống sót
sau những ngày tù “cải tạo” hay đã hy sinh cho tổ
quốc; vả lại gia đình các ông bà
đại tá, dù có đô la hay không,
và cả phó thường dân tị nạn, những đứa
con phản quốc ngày xưa ấy bây giờ đã là
núm ruột nghìn dặm rồi còn gì! Theo
tờ Thời Báo Kinh Tế Việt Nam, năm ngoái họ
vừa đóng góp đầu tư bẩy trăm tỉ đồng và
bốn mươi lăm triệu đô la Mỹ. Họ còn gởi
cho họ hàng làng nước ba tỉ đô la
đấy!
Giọng đanh đá của bà đại tá
đô-la kéo tôi về quá khứ. À, ở
phim này người ta chỉ đưa ra những đại tá
đô-la, đại tá thuốc phiện và cho đó
là sĩ quan ngụy. Hò vờ quên đi những Ngụy
Văn Thà tuẫn tiết theo chiến hạm trong hải chiến
chống giặc Tầu bảo vệ Hoàng Sa năm 1974; họ định
xóa tên những Nguyễn Khoa Nam, những Lê Văn
Hưng, những Phạm Văn Phú, và những chiến sĩ
anh hùng của miền Nam ngày trước. Họ có
thể lừa được một số người, ở một giai đoạn;
nhưng họ và chẳng ai có thể xóa bỏ mãi mãi hay
xuyên tạc lịch sử một cách trí trá
như thế!
Gần 30 năm sau ngày hòa bình,
những người làm văn hóa hạng gộc ở Việt
Nam - Việt Nam bị cái Cộng Hoà Xã Hội
Chủ Nghĩa án lối chận đường - vẫn chưa tìm
được dũng cảm để viết thật, nói thật về con
người và cuộc chiến. Có cần cho May bị bắn
vào ngực lúc anh theo xe bọc sắt ủi xập cửa
Dinh Độc Lập hay không? Lúc ấy ông Tổng
Thống sau cùng và ông thiếu tướng gián
điệp Vũ Ngọc Nhạ đang chờ đầu hàng thì
làm gì có chuyện bắn súng, làm
gì có chuyện đạn bay vào ngực của May
như thế. Nói như người Sài Gòn, “Dạ,
không dám đâu!”
Đấy
là người trong nước, thế còn các ông
ở bên ngoài như Wayne Karlin, người thủy quân
lục chiến Mỹ trong trận chiến năm nào, có lẽ
ông không hiểu rõ hết các người Việt
cùng viết truyện phim nói gì, nghĩ gì,
viết cái gì. Nhưng còn ông cố vấn
viết kịch bản Ngô Vĩnh Long? Ông là giáo
sư sử học, tuy viết Vũ Khúc Con Cò không
quan trọng và cần để ý chi tiết như một sử
liệu và tôi cũng không tin là ông
lại cố vấn bịa như thế. Nhưng nếu ông cố vấn
mạnh hơn một tí nữa cũng nên chăng?
Cái
tựa Vũ Khúc Con Cò, có lẽ phần liên
hệ duy nhất với chuyện phim là bài hát,
là tiếng hòa âm, và hình ảnh
đàn cò trắng bay lả bay la, bay qua ruộng lúa
bay về Đồng Đăng. Và ông Vượng, với mười
một năm đặc công, mười một năm tẩm quất giác
hơi, vài trò của ông là gì trong
phim? Điện ảnh Việt Nam định giới thiệu nền văn hóa
giác hơi à? hay chỉ muốn mượn cái bàn
tẩm quất để ông Trần Văn Thủy nằm kể chuyện.
Ngoài những giải thưởng và khen ngợi ở Âu, ở Úc, tôi không vẫn chưa tin rằng đại chúng ngoài Viêt Nam sẵn sàng đưa sản phẩm nghệ thuật thứ bẩy của Việt Nam mon men đến Hollywood, dẫn tài tử và đạo diễn Việt Nam bước lên thảm đỏ ở đại hội Oscars. Và trong nước, khi ăn chưa no, co chưa ấm người ta có còn thì giờ để nghĩ đến phim ảnh, nghệ thuật hay văn hóa không nhỉ? Nhất là những phim ảnh vẫn đầy những ước lệ cũ rích, “nhân dân Việt Nam anh hùng, đảng CSVN quang vinh”. Nếu chỉ có bốn khán giả ngồi xem “Người đi tìm giấc mơ,” đã chiếu ba ngày ở Sài Gòn từ hôm cuối tháng Tám, và khi người dân còn hài lòng xem phim bộ Nam Hàn, xem diễn hài hời hợt, có lẽ còn lâu lắm, còn lâu lắm, Việt Nam mới so vai đứng cùng mọi người trong làng điện ảnh quốc tế.
Tóm lại Vũ Khúc Con Cò múa điệu giả tưởng hay giới thiệu tẩm quất giác hơi có lẽ tại Nguyễn Phan Quang Bình mới làm đạo diễn lần đầu, hay tại nhà sản xuất Ngô thị Tuyết Hạnh là thương gia chỉ quan tâm đến tiếp thị và thương mại.
Chuyện phim Vũ Khúc Con Cò cố nói lên những phi lý của cuộc chiến, nhưng Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Duy, Trần Văn Thuỷ, Thu Bồn, Wayne Karlin và cả Ngô Vĩnh Long nữa, đã quên. Họ đều quên, không nhắc đến điều phi lý nhất. Dù đất nước đã nối liền, gần ba mươi năm sau cuộc chiến, năm triệu người Việt Nam đã nằm xuống, để hôm nay - lòng người vẫn chưa nối; để hôm nay - con người và đất nước đang được hưởng được những gì? Dân không giầu, nước không mạnh, xã hội không công bằng, không dân chủ và cũng chẳng văn minh.
Con
cò bay lả bay la,
Bay qua cửa phủ, bay về Ðồng
Ðăng
Bạn thân, thư đã dài, hẹn thư sau nhé.
Montréal, tháng 9, 2002
Copyright
© 2005 DCVOnline
Đàn Chim Việt
(http://www.danchimviet.com, 03/08/2005)
Phim Vũ Khúc Con Cò (Song of the Stork) đã trình chiếu tại
Montréal
World Film Festival, tháng 9, 2002
Hà Nội, Việt
Nam - 22 tháng 12, 2002
Sài Gòn, Việt Nam
- 14 tháng giêng, 2003
France - 4 tháng 4,
2003
United States - Quý thứ 4, 2003
Đài
truyền hình quốc gia Ba Lan TVP2 - Tháng 7,
2005
Photos: Montreal Jazz Festival by Đôi Dòng; others
photos are from Northern Arts Entertainment, Inc.
Categories
Culture0 TrackBacks
Listed below are links to blogs that reference this entry: Vũ khúc con cò.
TrackBack URL for this entry: http://www.dcvblogs.com/mt/mt-tb.cgi/268

Leave a comment