Nuôi dưỡng tiềm năng trí tuệ Á Châu
Philip G. Altbach - Phan Bích Vân lược dịch
![]() |
| Times Higher Education Supplement 2006 Nguồn: thes.co.uk |
![]() |
| Đại Học Bắc Kinh Nguồn: worldmun.org |
Trung Quốc và Ấn Độ có số lượng sinh viên đại học rất cao, tuy nhiên vẫn chật vật trong việc đáp ứng nhu cầu giáo dục đào tạo sau bậc trung học. Trung Quốc có khoảng 23 triệu sinh viên trong hệ thống giáo dục sau bậc trung học, con số cao nhất trên thế giới mặc dù nó chỉ đào tạo 21% số thanh niên trong độ tuổi này, vẫn còn thấp so với tiêu chuẩn của các nước công nghệ. Ân Độ đứng hàng thứ ba trên thế giới về số sinh viên theo học các trường sau bậc trung học nhưng cũng chỉ đáp ứng 13% số thanh niên trong độ tuổi này.
Các hệ thống giáo dục cấp cao dành cho đại đa số quần chúng chỉ phát triển trên thế giới trong vòng nữa thế kỷ nay. Đối với các nước đang phát triển thì việc “đại chúng hóa”này càng xảy ra chỉ gần đây thôi. Ước tính trong vòng 18 năm tới, nhu cầu giáo dục cấp cao trên toàn thế giới sẽ tăng gấp đôi từ con số 100 triệu hôm nay lên đến 263 triệu vào năm 2025, với đa số nhu cầu này đến từ các nước đang phát triển.
![]() |
| Học Viện Kỹ Thuật Ấn Độ (Indian Institutes of Technology) Ảnh: webshots.com |
Cả hai nước Trung Quốc và Ấn Độ đều thiếu trầm trọng các nhà nghiên cứu, các học giả, các giám đốc và nhân viên có thể cạnh tranh được trên trường quốc tế để làm việc cho các trường đại học và các học viện khác. Các công ty ở hai nước này than phiền rằng những sinh viên tốt nghiệp hạng chót trong hệ thống giáo dục cấp cao này không được đào tạo đủ để làm việc có hiệu suất cao trong các ngành dịch vụ và công nghệ cao mới. Quá trình tuyển chọn sinh viên vào đại học và qúa trình giảng dạy còn dựa vào học vẹt nhiều và điều này dẫn đến các việc các sinh viên tốt nghiệp thiếu hẳn đi tính sáng tạo.
Về tỉ lệ ngân sách cho giáo dục so với tổng sản lượng quốc gia (GDP), cả hai nước đều không giành đủ ngân sách cho giáo dục sau bậc trung học. Ấn Độ chi 0.37% và Trung Quốc chi 0.5% tổng sản lượng quốc gia cho giáo dục cấp cao, so với Hoa Kỳ chi 1,41% và Anh Quốc chi 1,07%.
Hơn thế nữa, cả hai nước đều xuất khẩu một tỉ lệ cao những sinh viên ưu tú nhất sang Hoa Kỳ và các nước phát triển khác. Ấn Độ và Trung Quốc sắp hạng nhất và nhì về số sinh viên du học ở Mỹ, 140.000 sinh viên tất cả, chiếm ¼ tổng số sinh viên ngọai quốc ở Hoa Kỳ. Và hai nước này cũng có ít nhất bằng số sinh viên đó đi du học ở các nước khác trên thế giới. Phần lớn các sinh viên tốt nghiệp ở nước ngoài không trở về nước sau khi tốt nghiệp; con số ước đoán lên đến 70% đến 80%. Nhưng khi kinh tế phát triển với nhiều việc làm và lương bổng hậu hĩ thì tỉ lệ trở về sẽ lớn hơn.
Một khuynh hướng mới trong giáo dục cấp cao ở Trung Quốc và Ấn Độ là sự gia tăng nhanh chóng các trường tư thục. Cũng như các nước đang phát triển khác, Trung Quốc và Ấn Độ xem trường tư thục là một cách để đáp ứng phần nào nhu cầu vào đại học đang gia tăng mà không phải chi phí nhiều từ ngân sách quốc gia. Tuy nhiên rất ít trường tư thục được xếp hạng cao. Mục đích chính của các trường tư là mang lại lợi nhuận cho các ông chủ, các giám đốc và vì vậy các trường tư phục vụ tầng lớp sinh viên có khả năng đóng học phí chứ không phải là chỗ cho các sinh viên thuộc tầng lớp thấp hơn trong xã hội. Cả hai nước đều nhận thấy rằng một hệ thống tư thục không được kiểm sóat chặt chẽ sẽ đưa đến đủ thứ chuyện để tranh cãi và họ đang có những biện pháp để tăng cường sự kiểm tra và đưa chúng vào khuôn khổ. Làm thế nào để hệ thống tư thục phục vụ lợi ích chung của quốc gia là một thử thách không nhỏ.
Khổng tử sẽ làm gì?
Trong vòng hai thập niên qua, Trung Quốc đã có một ủy ban đặc trách việc xây dựng một số trường đại học đạt tiêu chuẩn quốc tế. Trong các kế họach "985" và "211", họ chọn ra một số nhỏ các trường đại học tốt để được nhận sự tài trợ của Trung Ương. Sự tài trợ đều đặn này, cùng với áp lực của chính phủ nhằm sát nhập các trường đại học ở một số thành phố lại với nhau và những đường lối chỉ đạo thúc đẩy nghiên cứu và nâng cao tiêu chuẩn đào tạo đã đưa đến một sự tiến bộ thấy rõ ở một số trường đại học ở Trung Quốc. Một số trường đại học hàng đầu như Peking University, Tsinghua University và một vài trường khác như Shanghai Jiaotong and Fudan hiện đang sánh vai với các đại học nổi tiếng trên thế giới. Tuy nhiên, phương pháp giảng dạy trong các đại học khắp Trung Quốc vẫn còn dựa trên cơ sở thuyết giảng. Sự thảo luận vẫn chưa được khuyến khích, còn việc phát triển tính sáng tạo thì bị coi như là có vấn đề. Những nhà lãnh đạo ngành giáo dục thực sự phải đương đầu với một số vấn đề quan trọng. Xây dựng cho được một nền nghiên cứu hứa hẹn có thành qủa và một nền giáo dục tự điều chỉnh không phải là chuyện dễ. Những trường hợp đạo văn thường xuyên xảy ra, thiên vị trong việc thi tuyển vào đại học và bổ nhiệm công tác sau khi ra trường là những dấu hiệu, những bằng chứng của những thử thách cần phải đương đầu. Tự do trong giáo dục đào tạo vẫn chưa được bảo đảm nhất là trong các môn khoa học xã hội và nhân văn. Mặc dù đã có những nổ lực để tạo cho các giáo sư đại học có một con đường sự nghiệp ổn định, Trung Quốc vẫn còn phải cố gắng nhiều hơn về mặt này. Các trường đại học có tầm cỡ thế giới không chỉ cần những phòng thí nghiệm tuyệt hảo, những kỹ nghệ thông tin hiện đại nhất và những thư viện tốt, chúng còn cần có một văn hóa hàn lâm được xây dựng trên những giá trị như: trọng dụng nhân tài, tranh đua, hợp tác giữa sinh viên, giữa các giảng viên trong việc nghiên cứu vào đào tạo và sự tôn trọng tính trung thực. Các trường đại học hàng đầu ở Trung Quốc đã có những bước tiến quan trọng trên lĩnh vực này nhưng vẫn cần cố gắng nhiều hơn nữa, bằng chứng là vụ sa thải gần đây vị giáo sư đại học nổi tiếng Chen Jin của trường Đại Học Shanghai Jiaoton vì thiếu trung thực.
Càng xuống dưới thì sự việc càng không được tốt đẹp như vậy. Nhu cầu vào đại học càng lớn dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng các trường đại học và con số sinh viên ghi danh vào học cũng tăng. Tỉ lệ giữa giảng viên và học sinh càng kém đi. Học phí thì ngày càng tăng để chi trả cho sự phát triển này. Các trường đại học công thì bày ra nhiều biện pháp khác nhau để kiếm thêm tiền như: nhận thêm số sinh viên với số điểm thi tuyển vào đại học thấp hơn và bắt họ trả học phí cao hơn, hoặc mở các khu học xá bán công và tính học phí cao hơn. Đã có các cuộc biểu tình của sinh viên diễn ra về danh hiệu trên bằng cấp do ít nhất là một trong những học xá chi nhánh này cấp. Các trường đại học thì đi mở các công ty tư vấn, và thúc đẩy các giảng viên dạy thêm ở các trường tư - bằng mọi cách để kiếm thêm thu nhập cần thiết. Những biện pháp kiếm thêm tiền này nói chung làm giảm đi giá trị của sứ mệnh giáo dục đào tạo của trường đại học và làm giảm đi chất lượng giảng dạy.
Một số trường đại học tư thục mới có chất lượng không đáng tin cậy lắm. Phần lớn các trường này không được bộ Giáo dục của Trung Quốc công nhận hoàn toàn và vì vậy bằng cấp hay chứng chỉ từ các trường này không có tính pháp lý hoàn toàn. Các giới chức cấp tỉnh, thành có thể cấp giấy phép hoặc tự đứng ra thành lập các trường đại học hoặc trường đạo tạo chuyên nghiệp thường là không đủ tiềm năng. Các trường này có thể đáp ứng phần nào nhu cầu học đại học của sinh viên nhưng lại thường có chất lượng đào tạo không cao.
Hiện đang có nhiều sự phê bình ở Trung Quốc về chất lượng của nền giáo dục và sự thặng dư sinh viên tốt nghiệp đại học. Hai vấn đề này liên quan trực tiếp với nhau. Sinh viên tốt nghiệp từ một số ít trường đại học có "tiếng tăm" thì dễ tìm việc làm hơn. Một cuộc thăm dò gần đây do Phòng Thương Mại Hoa Kỳ ở Thượng Hải thực hiện cho thấy khó khăn lớn nhất cho các công ty Hoa Kỳ hoạt động ở Trung Quốc là các sinh viên tốt nghiệp đại học ở Trung Quốc không có đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết. Ngày càng khó khăn hơn cho các sinh viên tốt nghiệp tìm được việc làm. Năm 2005, gần một nữa của bốn triệu sinh viên tốt nghiệp không tìm được việc làm thỏa đáng.
Chính quyền Trung Quốc đã nhận thấy được vấn đề, và bắt đầu nới lỏng sự kiểm sóat quá chặt chẽ đối với các trường đại học, đồng thời cũng kìm bớt sự phát triển. Tuy nhiên chỉ đến khi nào có sự cân nhắc tận gốc rễ những vấn đề như nên tuyển chọn sinh viên vào các trường đại học như thế nào, tổ chức việc giảng dạy ra sao, thì khó có sự tiến triển đáng kể. Hơn nữa, hệ thống giáo dục bậc cao cần một ngân sách thỏa đáng hơn nếu muốn có sự phát triển về cả số lượng lẫn chất lượng.
Ấn Độ đang nỗ lực vượt qua
![]() |
| Philip G. Altbach, PhD - GS Monan (John D.) về Giáo dục Đại học và GĐ Trung tâm GD ĐH Quốc tế, Đại học Boston Nguồn: bc.edu |
Nghịch lý này là do nhiều yếu tố. Ở phần tóp hệ thống giáo dục bậc cao Ấn Độ, chỉ có một số nhỏ trường đạt được tiêu chuẩn cao, có học trình cải tiến và một ban giảng viên giỏi, tận tâm. Trong lúc những trường này không được cấp chi phí rộng rãi - theo tiêu chuẩn của thế giới thì những trường này chỉ có những ngân quỹ khiêm tốn - họ có được sự hậu thuẫn chắc chắn từ công chúng. Một số trường có sự tự trị đáng kể để tự sắp xếp học trình cho mình, và rất tôn trọng người tài giỏi trong tuyển chọn, thuê mướn và tạo điều kiện thăng tiến trong sự nghiệp. Một vài thí dụ là Tata Institution of Fundamental reasearch, the All-India Institute of Medical Sciences và the Indian Institute of Sciences là một vài trường trong số đó. Chế độ tuyển sinh ở những trường này cực kỳ khó khăn - hằng ngàn thí sinh phải thi kỳ thi tuyển chọn toàn quốc hằng năm, chỉ một nhóm nhỏ tuyệt giỏi mới được chọn. Số sinh viên ghi danh vào những trường này chỉ khoảng 50,000 so với tổng số 16 triệu sinh viên trên toàn quốc.
![]() |
| Một cuộc biểu tình phản đối việc nhà nước gia tăng quota vào đại học cho sinh viên thuộc tầng lớp xã hội thấp. Nguồn/Ảnh: yaleglobal.yale.edu |
![]() |
| Ngân sách dành cho giáo dục bậc cao Nguồn: pd.cpim.org |
Ấn Độ tuy vậy lại có nhiều thuận lợi cho nền giáo dục cấp cao. Việc sử dụng Anh văn như là phương tiện giảng dạy và nghiên cứu là một phần quan trọng trong hệ thống giáo dục để nối kết với quốc tế dễ dàng hơn. Một truyền thống tự do trong môi trường giáo dục cũng quan trọng. Nhiều học gỉa và khoa học gia nổi tiếng của Ấn Độ đã có một quan hệ vững chắc với cộng đồng giáo dục thế giới.
Tuy nhiên, nhiều người ở Ấn Độ nhận thức rằng nền giáo dục đại học đang ở trong tình trạng bị khủng hoảng và nó chẳng đóng góp gì cho sự phát triển kinh tế hết. Sự thành lập Ủy ban Tri thức do Thủ tướng Manmohan Singh năm 2006 để gợi ý những phương thức nhằm cải thiện nền giáo dục bậc cao và tiếp cận tốt hơn với sự phát triển kinh tế là một dấu hiệu bày tỏ sự quan tâm này. Việc nhiều thành viên trong ủy ban này từ chức trong thất vọng đã cho thấy không có hứa hẹn tốt đẹp gì từ chính cái tương lai của ủy ban này cả. Sự thách đố về số lượng thì qúa sức lớn lao: Ấn Độ bây giờ đây chỉ đào tạo một số nhỏ trong lứa tuổi sinh viên này và cần gia tăng để tiếp nhận nhiều hơn. Sự đòi hỏi tiếp nhận rộng rãi kết hợp với nhu cầu cần có một số trường đại học có tiêu chuẩn đào tạo cao ngang ngữa cấp quốc tế là những thách đố không thể vượt qua được trong bối cảnh ngân qũy tài trợ không thích ứng và thói quan liêu ăn sâu vô tận tủy và tính trì trệ nằm chính ngay trong hệ thống này.
Ai đang dẫn đầu?
![]() |
| Indian Institute of Technology Nguồn: freewebs.com/sandeepgoel |
Hai ông khổng lồ này sẽ thống trị về kinh tế trong tương lai ở khu vực của họ - và có lẽ cả thế giới. Nếu họ xây được một hệ thống giáo dục bậc cao có thể cung ứng được những đòi hỏi của đại chúng, đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế đa năng, và tham dự tích cực trong hệ thống tri thức toàn cầu, sự phát triển của họ sẽ nhanh hơn và được duy trì tốt đẹp hơn.
Copyright © 2006 - 2007 DCVOnline
Nguồn: Fostering Asia’s Brightest - Far Eastern Economic Review - January/February 2007








Leave a comment