Recently in Kinh Tế Category

Benjamin Powell - Quang Diệu lược dịch


Bài Học Của Nền Kinh Tế Suy Thoái Nhật Bản

Sự mô tả của phái Austrian về thời điểm của mức tăng trưởng nhảy vọt và căn nguyên khá tương tự như lý luận của phái Tiền Tệ, tuy nhiên, có sự khác biệt rất quan trọng. Cả 2 phái đồng ý rằng sự co rút lại trong chính sách mở rộng tiền tệ là bắt nguồn của sự suy thoái, nhưng phái Tiền Tệ thấy rằng sự co rút này nên được tránh để sự phồn thịnh có thể tiếp tục. Phái Austrian thì lý luận rằng, sự co rút tiền tệ là cần thiết để phục hồi lại mức thăng bằng của nền kinh tế thực sự - chính sách mở rộng tiền tệ trước đó là vấn nạn. Đây là lý do tại sao 2 trường phái này có những đề nghi khác nhau trong chính sách kinh tế.
Benjamin Powell - Quang Diệu lược dịch

Bài Học của nền kinh tế suy thoái Nhật Bản


Benjamin Powell
Nguồn: Suffolk University
Vài nét về tác giả - Benjamin Powell là phụ tá giáo sư khoa kinh tế tại Beacon Hills Institute thuộc đại học Suffolk từ mùa thu 2007, trước kia ông cũng là phụ tá giáo sư kinh tế của đại học San Jose State. Ông Benjamin Powell tốt nghiệp cử nhân kinh tế và tài chánh tại đại học Massachusetts at Lowell, cao học và tiến sĩ kinh tế tại đại hoc George Mason. Benjamin Powell nghiên cứu và có nhiều bài viết đủ thể loại về kinh tế thuộc phái Austrian. Ông cũng là cộng sự viên của các tờ báo như Wall Street Journal và New York Times, Investor’s Business Daily, the Financial Times, the Christian Science Monitor, và hay có mặt trên các đài truyền hình như: CNN, MSNBC, Showtime.


Với nhiều thập niên của nền kinh tế phát triển “kỳ diệu” sau chiến tranh thế giới lần 2 chấm dứt, nền kinh tế của Nhật Bản bị sút kém một cách đột ngột từ năm 1990 và đình trệ kể từ đó. Tại sao? Chỉ có lý luận chu kỳ kinh tế của phái Austrian cho được sự giải thích thỏa đáng so với phái kinh tế Keynes và phái Tiền Tệ.


Khái quát về nền Kinh tế Nhật Bản 1985-2000

Sau thỏa ước Plaza Accord (1) tháng 9 năm 1985, sự tăng giá của đồng Yen làm tác động mạnh vào lĩnh vực xuất khẩu, đưa đến sự suy giảm mức tăng trưởng kinh tế từ 4.4% năm 1985 xuống còn 2.9% năm 1986 (EIU 2001) (2). Trong thời gian của tháng Giêng 1986 và tháng Hai 1987 chính phủ Nhật đã xử dụng chính sách thả lỏng tiền tệ để bù đắp vào trị giá tăng cao của đồng yen. Trong thời gian này Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ- Bank of Japan) giảm lãi xuất chiết khấu xuống một nửa từ 5% còn 2.5% gây nên tình trạng bong bóng bất động sản và thị trường cổ phiếu bị căng phồng lớn nhất trong lịch sử tài chánh. Chính phủ ứng phó bằng cách thắt chặt chính sách tiền tệ, tăng tiền lời 5 lần đến mức 6% trong vòng 2 năm 1989 và 1990. Nền kinh tế sụp đổ sau các lần gia tăng tiền lời này.
Thị trường bất động sản của Việt nam sôi sục tràn ra

Karl D. JohnQuang Diệu lược dịch

Lời người dich: Xây dưng và phát triển một quốc gia có nền tảng vững chắc phụ thuộc vào nhiều yếu tố quan trọng: con người, chính trị, văn hóa, giáo dục, kinh tế... Các yếu tố này cân phải được phát triển đồng bộ. Dù thể chế chính trị của một quốc gia có mạnh với nền móng dân chủ vững chắc nhưng nếu giới lãnh đạo không biết lèo lái con thuyền kinh tế thì cũng không đem lại ấm no, sung túc và hạnh phúc đầy đủ cho người dân. Thí dụ: Ấn độ là một quốc gia có nền tảng dân chủ tốt ngay sau khi giành độc lập từ thực dân Anh nhưng trải qua nhiều thập niên 60, 70 giới lãnh đạo Ấn độ đã sai lầm trong nhiều chính sách kinh tế và đó là một trong các nguyên nhân chính làm cho người dân Ấn độ vẫn nghèo nàn thiếu thốn. Cho đến khoảng giữa thập niên 80, lãnh đạo Ấn độ đã cải cách các chính sach kinh tế và hòa nhập vào với thế giới Tây phương, nhất là Hoa Kỳ và ngày nay Ấn độ là một trong các con rồng cua Châu Á. (Đọc thêm: Milton Friedman và Á Châu, Milton Frieman, Nguyễn Mạnh Phát chuyển ngữ ).

Tuần này xin giới thiệu đến bạn đọc ngành bất động sản tại Việt nam qua sự ghi nhận của một nhà báo nước ngoài.



HÀ NỘI — Phải chăng nền kinh tế tăng trưởng dữ dội của Việt Nam đang thổi phồng cái bong bóng bất động sản tại Việt Nam? Một vài nhà phân tích tại Việt Nam đánh giá như thế dựa vào con số của những dự án xây cất mới đang mọc lên như nấm.

Cuộc khủng hoảng tài chánh năm 1997-98 đã ảnh hưởng mạnh đến các quốc gia khác trong vùng như Thái Lan, Nam Dương và Mã Lai Á nhưng chỉ va nhẹ vào Việt Nam, là một quốc gia chỉ mới lộ diện sau hàng chục năm sống trong cô lập kinh tế. Tuy nhiên, ngày nay các nhà phát triển bất động sản đang nhanh chóng xây dựng những khu dân cư và thương mại mới mà các nhà phân tích cho rằng đã quá thừa. Và không có chỉ dấu chấm dứt các công trình xây dựng mới này.

Việt Nam cất cánh bay nhanh

| | Comments (0) | TrackBacks (0)
IT Việt nam vượt lên với vận tốc cao

David FullbrookQuang Diệu lược dịch


Với nguồn đầu tư mới của nước ngoài đang đổ vào và hơn 600 công ty phần mềm sẵn có, khu vực công nghệ thông tin của Việt Nam đang phát triển tốt dưới bất kỳ tiêu chuẩn nào. Những đầu tư lớn của các công ty đa quốc gia như Intel và Canon gần đây nhất đưa có thể đưa Việt Nam thành khu công nghệ thông tin rẻ nhất, cạnh tranh với các quốc gia khác như Thailand và Philippines, trong vùng.

Chỉ sau 9 tháng sau khi công bố dự án đầu tư trị giá 300 triệu xây xưởng lắp ráp và kiểm tra microchips tại Tp. HCM, anh khổng lồ Intel lại báo tin tăng mức đầu tư lên 1 tỉ USD vào tháng 11 vừa qua. Trong khi đó công ty Canon dùng 1 tỷ USD xây xưởng làm máy in tại Hà Nội, cùng lúc các hãng Acatel của Pháp, Fujitsu của Nhật và Siemens của Đức đang gia tăng dán các nhãn “Làm tại Việt Nam” (Made in Vietnam) trên sản phẩm của họ.

Intel đến nơi nào thì công nghệ thông tin thường nối gót theo sau, theo Dieter Ernst, một nhà nghiên cứu của Hawaii’s EAST-WEST Center: “Khi Intel đến có nghĩa là các nguồn của cung cấp vật liệu sẽ đi theo” - đó là những công ty quốc tế phải cùng đi với Intel, giới kỹ nghệ ghi nhận những phát triển này và có nhiều khả năng sẽ còn những công ty khác nối gót”.

WTO - Vũ đài mới cho Việt Nam

| | Comments (0) | TrackBacks (0)
Trần Kiên phỏng vấn ― Quang Diệu lược dịch


Nguồn: unsw.adfa.edu.au
DCVOnline: Carl Thayer học khoa Khoa học chính trị tại Đại học (ĐH) Brown và ngành Đông Nam Á học tại ĐH Yale ở Hoa Kỳ. Năm 1971 học tiến sĩ về Bang giao Quốc tế tại ĐH Quốc Gia Úc (Australian National University, ANU).

Thayer bắt đầu dạy học từ năm 1975 ở Bendigo Institute of Technology tại Victoria. Đến 1979 ông vào ĐH New South Wales (UNSW) và dạy 7 năm ở Khoa Quân sự học của trường Quân sự Hoàng gia, Duntroon. 1983, Carl Thayer đến nghiên cứu ở Trung Tâm Quốc tế vụ của Harvard.

1986 Thayer chuyển sang Trường Võ Bị Quốc phòng Úc. 1991 ông về lại ANU, từ 1995-1997, là Khoa trưởng khoa Chính trị và điều hợp viên ngành Cao học về Nghiên cứu Quân sự.

1999-2002, Carl Thayer sang Hawaii dạy về Nghiên cứu An ninh trong vùng Đông Nam Á ở Trung tâm Nghiên cứu Anh ninh Á châu-Thái Bình dương thuộc bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, và là phó khoa Nghiên cứu Vùng (Á châu-Thái Bình dương).

About this Archive

This page is a archive of recent entries in the Kinh Tế category.

Chính Trị - Xã Hội is the previous category.

Mô hình Trung Quốc is the next category.

Find recent content on the main index or look in the archives to find all content.

danchimviet
danchimviet