Giải nghĩa cuộc khủng hoảng kinh tế Nhật Bản

| | Comments (0)
Benjamin Powell - Quang Diệu lược dịch

Bài Học của nền kinh tế suy thoái Nhật Bản


Benjamin Powell
Nguồn: Suffolk University
Vài nét về tác giả - Benjamin Powell là phụ tá giáo sư khoa kinh tế tại Beacon Hills Institute thuộc đại học Suffolk từ mùa thu 2007, trước kia ông cũng là phụ tá giáo sư kinh tế của đại học San Jose State. Ông Benjamin Powell tốt nghiệp cử nhân kinh tế và tài chánh tại đại học Massachusetts at Lowell, cao học và tiến sĩ kinh tế tại đại hoc George Mason. Benjamin Powell nghiên cứu và có nhiều bài viết đủ thể loại về kinh tế thuộc phái Austrian. Ông cũng là cộng sự viên của các tờ báo như Wall Street Journal và New York Times, Investor’s Business Daily, the Financial Times, the Christian Science Monitor, và hay có mặt trên các đài truyền hình như: CNN, MSNBC, Showtime.


Với nhiều thập niên của nền kinh tế phát triển “kỳ diệu” sau chiến tranh thế giới lần 2 chấm dứt, nền kinh tế của Nhật Bản bị sút kém một cách đột ngột từ năm 1990 và đình trệ kể từ đó. Tại sao? Chỉ có lý luận chu kỳ kinh tế của phái Austrian cho được sự giải thích thỏa đáng so với phái kinh tế Keynes và phái Tiền Tệ.


Khái quát về nền Kinh tế Nhật Bản 1985-2000

Sau thỏa ước Plaza Accord (1) tháng 9 năm 1985, sự tăng giá của đồng Yen làm tác động mạnh vào lĩnh vực xuất khẩu, đưa đến sự suy giảm mức tăng trưởng kinh tế từ 4.4% năm 1985 xuống còn 2.9% năm 1986 (EIU 2001) (2). Trong thời gian của tháng Giêng 1986 và tháng Hai 1987 chính phủ Nhật đã xử dụng chính sách thả lỏng tiền tệ để bù đắp vào trị giá tăng cao của đồng yen. Trong thời gian này Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ- Bank of Japan) giảm lãi xuất chiết khấu xuống một nửa từ 5% còn 2.5% gây nên tình trạng bong bóng bất động sản và thị trường cổ phiếu bị căng phồng lớn nhất trong lịch sử tài chánh. Chính phủ ứng phó bằng cách thắt chặt chính sách tiền tệ, tăng tiền lời 5 lần đến mức 6% trong vòng 2 năm 1989 và 1990. Nền kinh tế sụp đổ sau các lần gia tăng tiền lời này.
Chỉ số thị trường chứng khoán Nikkei bị tuột dốc hơn 60% - từ cao điểm của 40.000 điểm vào cuối năm 1989 xuống còn dưới mức 15.000 vào năm 1992. Trong giữa những năm thập niên 1990 có vài dấu hiệu của thị trường lên lại với hy vọng kinh tế sẽ phục hồi, tuy nhiên bức tranh kinh tế tiếp tục trở nên tồi tệ hơn. Vào tháng 3 năm 2001 giá thị trường cổ phiếu bị giảm tiếp tục dưới mức 12.000. Giá trị bất động sản cũng lao xuống vực thẩm mất giá trị 80% từ 1991 đến 1998 trong suốt giai đoạn kinh tế suy thoái (theo Herbener 1999).

Giá trị của tổng sản lượng quốc gia (real-GDP) trong suốt thời kỳ kinh tế đình trệ từ năm 1990 chỉ tăng từ 428.826 tỷ Yen đến 469.480 tỷ Yen vào cuối năm 2000 (3). Từ năm 1998 mức tăng trưởng kinh tế là số âm. Tỷ lệ thất nghiệp tăng cao từ 2,1% vào năm 1991 đến 4,7% vào năm 2000 mặc dù tỷ lệ thất nghiệp thấp so với mức tiêu chuẩn của thế giới nhưng với tỷ lệ thất nghiệp này là con số khổng lồ tại Nhật Bản, bởi vì những tiền lệ truyền thống, lịch sử làm việc và tỷ lệ thất nghiệp tại Nhật Bản chưa bao giờ quá mức 2.8% trong thập niên 1980. Thật sự tỷ lệ thất nghiệp chính thức đó không cân xứng bởi vì chinh phủ Nhật Bản đưa ra các chương trình trợ giúp việc làm đến các công ty để duy trì nhân viên làm việc dưới hinh thức “ kiểu mẫu“ (theo Herbener 1999).
Nguồn: OEDC



Lối giải thích của trường phái kinh tế Keynes và phép giải

Trong lý thuyết vĩ mô của hệ thống kinh tế Keynes, những dao động trong chu kỳ kinh tế phát xuất bởi những sụp đổ của sức tổng cầu. Khi sức tiêu thụ có quan hệ ổn định thì sự giảm sút trong đầu tư gây nên yếu kém của sức tổng cầu. Tuy nhiên, lý thuyết Keynes không giải thích tại sao sự sụp đổ của sức đầu tư; thay vào đó lý thuyết của phái Keynes giải thich bằng những “ huyền hoặc“ trong giới doanh nghiệp. Trong những năm của thập niên 1980 nếu giá tài sản bong bóng được bỏ qua và thị trường chứng khoán trong tầm nhìn của giữa 1989 và 1992, sự tháo lui ồ ạt trong niềm tin của giới kinh doanh và sức đầu tư bị sụp đổ là nguyên nhân đưa đến chỉ số thị trường chứng khoán bị giảm sút 60%. Bởi vì sức đầu tư bị suy giảm không phải là yếu tố trong lý thuyết kinh tế của phái Keynes, lý luận này khó bị loại bỏ. Tuy nhiên, sự suy thoái kinh tế của Nhật Bản không tự điều chỉnh lại, và tiếp theo đó là sự xuống dốc trong lĩnh vực đầu tư.

Trong lý thuyết kinh tế Keynes, nếu giá cả là “dán chặt“ hay cứng nhắc trong chiều hướng đang đi xuống thì sự điều chỉnh sẽ không xảy ra một cách nhanh chóng để phục hồi lại sự cân bằng. Mặc dù nền kinh tế cũng sẽ phục hồi lại sự cân bằng trong tương lai, điều đó không thể tránh khỏi. Cuối cùng thì giá cả cũng sẽ điều chỉnh lại để phục hồi sự cân bằng nhưng phái Keynes tin rằng qúa trình diễn biến đó đòi hỏi nhiều thời gian.

Nguồn:pacom.mil
Theo lý thuyết của pháí Keynes, để phục hồi lại từ một nền kinh tế suy thoái thì chính phủ phải áp dụng các chính sách tài khóa bằng các biện pháp giảm thuế và gia tăng chi tiêu giúp cho sức tổng cầu được tăng mạnh và bù đắp cho đầu tư bị suy giảm. Lý luận của phái Keynes thường đề xướng sự gia tăng chi tiêu của chính phủ. Nhiều chính sách của chính phủ Nhật Bản đi đúng đường với các đề xướng của lý thuyết phái Keynes, nhưng vẫn không giúp được nền kinh tế thoát khỏi sự suy thoái.

Trong thời gian của 1992 và 1995, chính phủ Nhật Bản đã áp dụng 6 chương trình chi tiêu tổng cộng là 65,5 nghìn tỷ Yen và cắt giảm thuế lợi tức năm 1994. Tháng 1, 1998 chính phủ tạm thời giảm thuế lợi tức 1 lần nửa tương đương với 2 nghìn tỷ yen. Và trong cùng tháng 4 năm đó, chính phủ đề ra 1 tài khóa thúc đẩy kinh tế với hơn 16.7 nghìn tỷ và một nửa tài khóa này chi tiêu cho các hoạt đông phục vụ công cộng. Sau đó, tháng 11, 1998 thêm 1 chính sách tài khóa để thúc đẩy kinh tế trị giá 23,9 nghìn tỷ yen. Một năm sau, tháng 11/1999, chính phủ lại thêm 1 chính sách tài khóa 18.8 nghìn tỷ yen. Toàn bộ 10 kế hoạch thúc đẩy nền kinh tế phục hồi đề ra cho các tài khóa suốt thập niên 1990s là 100 nghìn tỷ Yen và tất cả đều bị thất bại trong mục đích chửa trị nền kinh tế bị suy thoái. Tuy thế, sau các chương trình chi tiêu chấm dứt, chính phủ Nhật Bản trong tinh trạng tài khóa ngân sách eo hẹp. Sự chi tiêu thuộc diện “nằm trong-ngân sách“ là nguyên nhân đưa đến tỷ lệ nợ quốc gia của Nhật Bản gia tăng quá mức 100% so với tổng sản lượng quốc gia (cao nhất trong cac quốc gia của G7), và món nợ quốc gia này còn cao hơn khi kể cả các chi tiêu ngân sách không thuộc diện “nằm trong ngân sách”.

Mô hình kinh tế của phái Keynes cho thấy đường biểu diễn của bẫy tiền mặt (4) được dời chỗ nhưng tác động vô hiệu quả đến sức tổng cầu. Trường phái kinh tế Keynes có thể vạch ra được những cố gắng bị thất bại của ngân hàng Nhật Bản trong việc tiếp sức cho nền kinh tế sống lại (xem phần trường phái tiền tệ) là một xác minh cho lý luận này.

Phương sách giải quyết của trường phái Keynes: một khi nền kinh tế bị vướng trong bẫy tiền mặt thì chính phủ nên cho vay vốn đến các giới kinh doanh thay vì chuyển hoán vốn này đến hệ thống ngân hàng. Các chương trình Vay Vốn và chinh sách Đầu Tư của chính phủ (Fiscal Investment and Loan programme- FILP), thuộc diện không nằm trong ngân sách, chiếm khoảng 70% các tài khoản ngân sách. FILP trưng dụng đa số các khoản vốn từ quỹ tiết kiệm của bưu điện (5). Văn phòng Quỹ thác của Bộ Tài chánh sẽ phân phối các khoản vốn này đến các giới vay mượn và nhiều cơ quan phụ thuộc văn phòng này. Đa số các khoản vốn này không được phân phối đến các dự án một cách hiệu quả. Những cơ quan chính phủ được điều hành bởi đa số các chính khách của Đảng Dân chủ Tự do (Liberal Democratic Party-LDP). Đơn vị Đánh giá Kinh tế (The Economist Intelligence Unit profile-EIU) báo cáo rằng “Số vốn của FILP được chuyển hoán đến các nhà hổ trợ cỗ truyền của FILP, điển hình là các nghành công nghiệp xây dựng mà không có cứu xét kỹ lượng các yếu tố của giá cả và quyền lợi của từng dự án” (theo EIU 2001, trang 30). Mặc dù lý luận của phái Keynes có được phương pháp cho vay vốn trực tiếp của chính phủ và tránh được sự miễn cưỡng các ngân hàng cho vay vốn nhưng vẫn không giúp được kinh tế phục hồi. Những quỹ vốn cho vay không được phân phối theo ưu tiên của thị trường tiêu thụ căn bản mà được phân phối đến các chinh khách có liên hệ với giới thương nghiệp. Đìều này dẫn đến hậu quả các nhà vay nợ phải trả 1 giá cao khi vay mượn vốn tại những quỹ vay mượn tư nhân, điều đó chỉ làm tăng thêm những sai trái cho nền kinh tế. Và hơn nửa, vốn cho vay luôn là phong hiểm cao, làm cho chinh sách tài chánh của Nhật Bản thêm xấu đi. Một khi FILP và những món nợ thuộc diện “nằm ngoài ngân sách” được bao gồm thì nợ quốc gia của Nhật Bản ước lượng vượt quá tỷ lệ 200% tổng sản lượng quốc gia (theo EIU 2001).

Nhà kinh tế tên tuổi Paul Krugman của phái Tân Keynes, đã ghi nhận điều đó:


Hệ thống quỹ tiết kiệm của bưu điện Nhật Bản phân phối số tiền đến các dự án cực kỳ vô hiệu quả, cho dù có đem lại phúc lợi xã hội cũng là rất nhỏ; vì đem số vốn cho vay mượn đến các công ty không bao giờ kiếm được lợi nhuận và từ đó nắm giữ số tiền vốn làm những việc không ai mong muốn.
(theo Krugman 2001).

Krugman lý luận rằng đó không phải là mối nguy nếu mức sản xuất của Nhật Bản không phải một năng suất lớn. Ông ta xác nhận điều ngược lại là sai trái, bởi vì nếu chỉ tập trung vào sức cung mà bỏ đi vấn đề của sự mất tương xứng trong sức cầu. Tuy nhiên vấn đề của nền kinh tế Nhật Bản không phải là do sự mất tương xứng của tổng cầu mà do cơ cấu sản xuất không đáp ứng được sức cầu của giới tiêu thụ một cách cụ thể chi tiết. Sản xuất vật chất không ai cần và chính phủ chống đỡ những khoản đầu tư sai lầm không thể cứu vãn gì được cho nền kinh tế. Chính sách kinh tế này tương tự như phương thuốc lang băm của cựu trường phái Keynes, tức là trả công cho người đào hố và lấp hố. Chính sách đó cũng không cứu sống lại nền kinh tế bởi vì nó cũng không có tác dụng giúp ích gì cho các doanh nghiệp điều chỉnh lại cơ cấu sản xuất đáp ứng đúng với những ưu tiên trong sức cầu của giớí tiêu thụ.

Krugman đưa ra một phương pháp giải quyết khác nữa. Bởi vì lý luận kinh tế của Tân trường phái Keynes không đề bạc chính sách tài chánh lên trên chính sách tiền tệ, Krugman đề nghị phương pháp “Ngân hàng Trung ương Nhật Bản nên mở rộng chính sách tiền tệ bằng cách thu mua tiền Mỹ, tiền Euro, công trái phiếu dài hạn của chính phủ; chấp nhận đồng tiền Yen bị lạm phát theo dự kiến. Tôi có thể giải thích phương án này có thể thành công nhưng trọng điểm là gì ? Và điều này sẽ không xảy ra” (theo Krugman 2001). Krugman không nên nghĩ rằng điều đó không xảy ra, vì yếu tố tương tự đã xảy ra vào giửa năm 1997 đến giửa năm 1998! và nó không thành công. Suốt thời điểm đó, trong trên hồ sơ thương nghiệp của BOJ đi từ con số zero lên đến 117 tỷ USD (theo Herbener 1999, trang 14).

Cả Bộ Tài chánh và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản đẩy mạnh lạm phát dự kiến của đồng Yen và đồng thời gia tăng thu mua các loại công khố phiếu chính phủ qua các nhà đầu tư tư nhân lên đến mức 2,22 nghìn tỷ USD, tương đương với 53% tổng số công khố phiếu chính phủ (theo Herbener 1999 trang 14). Kết quả là nền kinh tế của Nhật Bản không thoát khỏi sự suy thoái, mà thay vào đó nền kinh tế đi vào 2 năm của thập niên với mức tăng trưởng kinh tế là số âm.

Phương pháp đề nghị của Krugman cho rằng nền kinh tế Nhật Bản vị vướng trong bẫy tiền mặt. Mặc dù Krugman thừa nhận nguyên nhân suy thoái của nền kinh tế Nhật Bản là từ trong hệ thống ngân hàng và nó phải được cải tổ lại, ông ta tin rằng sự thất bại trong chính sách mở rộng toàn diện cùng với sự co rút hẹp lại của cung tiền tệ không phải là sai lầm của ngân hàng nhưng điều đó đang xảy vì nền kinh tế Nhật Bản đang trong cái bẫy tiền mặt. Mặc dù ông ta nhận biết vấn nạn lạm phát không gây tác động gì trong cái bẫy tiền mặt, và trở ngại chính là vấn nạn của thị trường tín dụng. Nếu ngân hàng trung ương hứa hẹn tiếp tục tạo nên lạm phát dự kiến trong tương lai thì nền kinh tế Nhật Bản sẽ đủ sức gia tăng sức tổng cầu và sẽ giúp nền kinh tế được sống lại. Ông ta đề nghị nên thông qua 1 đạo luật yêu cầu ngân hàng trung ương có kế hoạch tạo nên lạm phát dự kiến tiền tệ ở mức tối thiểu là 4% và liên tục trong 15 năm (theo Krugman 1998) (6).

Tuy nhiên, ngân hàng trung ương của Nhật Bản không có vấn đề của thị trường tín dụng khi hứa hẹn dự kiến lạm phát. Lịch sử của ngân hàng trung ương là tiếp tục tạo nên lạm phát dự kiến khi phát hành tiền tệ và sói mòn đi sức mua của chính đồng tiền đó (7). Món nợ quốc gia của Nhật Bản, vượt mức 100% GDP, giúp cho bất kỳ một tuyên bố nào về chính sách tạo nên lạm phát dự kiến đều tạo thêm nhiều tín dụng cho ngân hàng trung ương , bởi vì lạm phát giảm đi gánh nặng hoàn trả lại món nợ quốc gia. Thật sự, trong lịch sử và sự thúc đẩy của các ngân hàng trung ương, cho thấy người dân Nhật Bản đủ lý trí để hiểu rằng chính phủ Nhật Bản đang tiếp tục nâng mức lạm phát dự kiến của tiền tệ trong tương lai mà không cần tuyên bố chính sách đó.

Tiến hành chính sách của Krugman chỉ làm cho nền kinh tế của Nhật Bản thêm tồi tệ hơn.Tất cả các chính sách tài khóa của chính phủ nhằm mục đích hổ trợ phục hồi kinh tế chỉ đáp ứng cho việc duy trì những cơ cấu sản xuất hiện hữu đi ngược lại với những mong mõi của giới tiêu thụ. Tồi tệ hơn nữa, các chính sách tiếp tục tạo nên lạm phát dự kiến chỉ làm biến dạng những tín hiệu của tỷ giá tiền lời giữa giới tiêu thụ với các nhà thương nghiệp và kết quả là mức độ sai trái của các khoản đầu tư cuối cùng sẽ phải bị phá sản (xem thêm phần lý luận của Austrian).

Các nhà lý luận của phái Keynes đã có thể chứng minh được đâu là nguyên nhân gây nên sự suy thoái trong nền kinh tế của Nhật Bản rất phù hợp với lý luận của họ, tuy nhiên nhiều chính sách đề nghị của phái Keynes đã thất bại hồi sinh lại nền kinh tế của Nhật Bản. Những chương trình chi tiêu và vay mượn ồ ạt của chính phủ đã được thử nghiệm trong cả thâp niên qua. Vì tập trung vào sức tổng cầu, lý luận của Keynes không nhận thấy được vấn nạn thật sự của nền kinh tế Nhật Bản: sự bất tương xứng giửa cơ cấu hiện hữu trong sản xuất và sức cầu của các giới tiệu thụ một cách cụ thể chi tiết. Những chương trình chi tiêu trong lý luận của phái Keynes không chỉ thất bại giúp nền kinh tế Nhật Bản ra khỏi sự suy thoái, mà nó cũng đã áp đặt chính phủ vào trong vị trí tài chánh yếu kém và nền kinh tế bị biến dạng ngày càng xa đối với các ưu tiên của giới tiêu thụ.


Lối giải thích của trường phái Tiền Tệ và phép giải

Cả 2 phái của Keynes và Tiền tệ đều không có khó khăn khi tìm ra nguyên nhân suy thoái của nền kinh tế Nhật. Phái Tiền Tệ đổ lỗi cho sự suy thoái đó đến từ sự co thắt lại của nguồn cung ứng tiền tệ hoặc do tỷ lệ tăng trưởng bị chậm lại. Trong năm 1987 chính phủ giảm lãi xuất chiết khấu xuống thấp đến 2,5% để kích cầu kinh tế nội địa. Theo đó là giá cả của tài sản bị thổi phồng bong bóng. Để ngăn chận bong bóng, chính phủ tăng lãi xuất chiết khấu 5 lần đến mức 6% và kìm hảm lại chính sách vay mượn vốn trong 2 năm 1989-1990 và bong bóng thổi phồng bị bể. Từ khi chính sách co thắt tiền tệ được áp dụng, nền kinh tế đi vào suy thoái. Phái Tiền Tệ có thể lý luận rằng ngân hàng trung ương Nhật Bản áp dụng phương án thu hẹp lại chính sách mở rộng của cung tiền tệ quá nhanh và gây cho nền kinh tế bị chậm lại, tương tự như Milton Friedman tin rằng nguyên nhân gây nên Đại Khủng Hoảng kinh tế của Mỹ là do chinh sách Đại Co Rút trong chính sách tiền tệ của chính phủ Mỹ vào thời đó.

Trong cách nhìn thông thường, phái Tiền Tệ đề nghị chính sách tái phá giá đồng tiền tệ sau khi hệ thống tiền tệ bị sụp đổ để tránh cho nền kinh tế không tiếp tục bị trì trệ. Phái tiền tệ đề nghị phương án này vì đường biểu diễn LM (8) nhô lên một cách đều đặn và đường IS thì phẳng lì. Đề nghị này của phái Tiền Tệ đã được áp dụng tại Nhật Bản nhưng thất bại.

Chính sách nới rộng tiền tệ đã thất bại cho mục tiêu phục hồi nền kinh tế. Từ cao điểm của 6%, tỷ lệ lãi xuất chiết khấu giảm xuống mức 4,5% vào năm 1991, 3,25% vào năm 1992, 1,75% trong suốt thời gian của 1993-1994 và 0,5% của những năm 1995-2000. Giảm lãi xuất nhanh chóng này không thúc đẩy được nền kinh tế của Nhật Bản sống lại, tuy nhiên sự thất bại của việc giảm tiền lời không hẳn là thất bại trong lý luận của phái Tiền Tệ. Hệ thống ngân hàng của Nhật Bản cần có sự cải tổ một cách rộng rãi. Đa số những tác động của việc giảm tiền lời không có kết quả bởi vì giới ngân hàng gia tăng số tiền mặt dự trữ thay vì gia tăng mức cho vay. Nhiều ngân hàng bị vướng vào các món nợ cho vay xấu với những tài sản thế chấp chỉ còn trị giá 60-80% so với trị giá lúc ban đầu khi các món nợ được cho vay. Một số ngân hàng phải sát nhập lại, và một số khác trở thành quốc hữu hóa. Đó là những thất bại góp phần vào tính vô hiệu quả của chính sách tiền tệ.

Một số theo phái Tiền Tệ lý luận rằng mức tiền lời nên được xem nhẹ và cung tiền tệ chính nó phải được kiểm soát. Milton Friedman lý luận rằng nguyên tắc của chính sách mở rộng tiền tệ của cung tiền hằng năm nên ở mức 3-4%. Trong suốt thập niên 1990, cung tiền tệ của Nhật Bản gia tăng 1 cách đều độ. M2 (9) gia tăng từ 507.526 tỷ Yen vào năm 1991 đến mức 629.664 tỷ Yen vào năm 2001, tức là mức gia tăng khoảng 25% của nguyên thập niên hay 2,5% cho hằng năm. Các nhà lý luận của phái Tiền Tệ cho thấy nguyên tắc tiền tệ tại Nhật Bản nên được áp dụng trước khi nền kinh tế đi vào suy thoái. Sự mở rộng và co rút quá nhanh chóng của cung tiền tệ là nguyên nhân gây nên bong bóng tài sản và kết quả là bong bóng bị vỡ.

Việc kiểm soát cung tiền tệ là điều khó khăn, đặc biệt với tình trạng của hệ thống ngân hàng Nhật Bản. Thời gian từ 1997 đến giửa năm 1998 Nhật Bản đã nâng mức cơ số tiền tệ lên khoảng 10% nhưng mức tổng cầu của tiền tệ chỉ tăng 3,5% (theo Hernener 1999). Phái Keynes sai lầm khi cho đó là cái bẩy tiền mặt. Thiếu mở rộng tín dụng, ngay cả sau khi khi gia tăng mức cơ số tiền tệ, không phải vì giới đầu tư nghĩ rằng tiền lời trong tương lai sẽ gia tăng nhưng vì nguyên nhân do quá nhiều những món nợ xấu khổng lồ tồn động trong hệ thống ngân hàng và điều đó làm cho các ngân hàng không có thiện ý cho vay mượn nửa (theo Hernener 1999).

Tuy thế, chúng ta không thể loại bỏ tất cả những quan điểm giải thích của phái Tiền Tệ và phái Keynes cho 1 thất bại toàn diện của sự suy thoái trong nền kinh tế Nhật Bản.


Lối giải thích của trường phái Austrian và phép giải

Chu kỳ kinh tế trong lý luận của phái Austrian là một lý luận chinh xác cho nền kinh tế phát triển tăng vọt không bền vững hơn là lý luận của nền kinh tế bị khủng hoảng (theo Garrison 2001, trang 120). Theo lý luận của phái Austrian những gì nền kinh tế Nhật Bản trãi qua trong cuối thập niên 1980: sức tăng trưởng kinh tế nhảy vọt phải bị suy sụp. Cuộc khủng hoảng hay suy thoái của nền kinh tế đi theo sau sự phát triễn tăng vọt một cách giả tạo là điều không thể tránh được, nhưng điều cần thiết là phải điều chỉnh lại những ưu tiên theo thời gian của giới tiêu thụ và cơ cấu sản xuất. Theo lý thuyết của phái Austrian, sự phát triển nhảy vọt trong cuối thập niên 1980 là sự phát triển của giả tạo , gây nên bởi chính sách mở rộng tiền tệ của BOJ. Giảm lãi suất chiết khấu năm 1985 của ngân hàng trung ương bắt nguồn cho sự tăng trưởng nhảy vọt. Tiếp theo việc giảm lãi suất này, BOJ mở rộng dung lượng tiền tệ ở mức trung bình là 10,5% mỗi năm, từ năm 1986-1990 (theo Số thống kê Tài chánh thế giới năm 2001- International Financial Statistics Yearbook 2001) (10). Các trường phái kinh tế khác đã không quan tâm đến sự kiện này bởi vì mức độ ổn định của giá cả vào thời điểm đó, tuy nhiên lý luận của phái Austrian xác nhận chính sách mở rộng tiền tệ là nguyên nhân. “Quá trình tiến triễn của thị trường được tạo nên trong bước di chuyển của việc nới rộng tín dụng không phụ thuộc vào bất kỳ một phương thức nào đang có là một thay đổi chung của thước đo giá cả”. (theo Garrison 2001, trang 71).

Trong lý luận của phái Austrian, sự mở rộng dung lượng tiền tệ giả tạo một cách nhanh chóng làm tỷ lệ tiền lời giảm xuống, gửi tín hiệu thúc đẩy các thương nghiệp đầu tư dài hạn nhiều hơn và đến những dự án cần nhiều vốn đầu tư. Vấn đề là khi tỷ lệ của lãi suất thấp không phản ảnh được những ưu tiên theo thời gian của các giới tiêu thụ. Đơn vị Đánh giá Kinh tế- EIU có ghi nhận sự nhảy vọt của nền kinh tế vào cuối thập niên 1980 “đã khuyến khích các giới tiêu thụ chi tiêu nhiều và các thương nghiệp đầu tư thật nhiều như chưa bao giờ xảy ra trước đây” (theo EIU 2001). Từ năm 1987-1990, mức tiêu thụ gia tăng trung bình mỗi năm là 5.6% , trong khi đó cùng thời gian thì tổng số vốn cố định hằng năm của quốc gia tăng 10,63% (theo International Financial Statistics Yearbook 1994).

Trong ngắn hạn hai yếu tố tiêu thụ và đầu tư hoán vị cho nhau. Nếu nền kinh tế hoạt động trong giới hạn của khả năng sản xuất của nó thì giới tiêu thụ sẽ tiêu xài nhiều va đầu tư ít lại hoặc ngược lại trong điều kiện ngắn hạn. Trong cuối thập niên 1980 nền kinh tế của Nhật Bản cho thấy cả sức tiêu thụ và đầu tư đều tăng cao cùng 1 thời gian bởi vì ngân hàng trung ương đã biến dạng các tín hiệu của tỷ lệ lãi suất từ giới tiêu thụ đến nhà sản xuất. Điều đó chỉ có thể bền vững được trong ngắn hạn cùng thời gian ngân hàng trung ương đang đeo đuổi chính sách gia tăng mức lạm phát (11). Một khi gia tăng lạm phát chậm lại hay thu hẹp lại thì mức tăng trưởng nhảy vọt bị kết thúc 1 cách đột ngột và kinh tế suy thoái bắt đầu. Trong suốt thời gian của kinh tế suy thoái, những khoản đầu tư xấu được chuyển hoán sang tiền mặt và cơ cấu sản xuất khôi phục lại được những ưu tiên theo thời gian của giới tiêu thụ. Điếu đó đã bắt đầu xảy ra tại Nhật Bản năm 1990. Khi ngân hàng trung ương chấm dứt chính sách mở rộng tiền tệ kéo theo sự tuột dốc của thị trường chứng khoán, đâu tư cũng giảm và tiếp theo là sự suy thoái - như sự tiên đoán của phái Austrian trong lý luận chu kỳ kinh tế (12).


Còn tiếp

© DCVOnline


Nguồn: Explaining Japan's Recession


Tham khảo:

Economist Intelligence Unit. 1996. Country Profile Japan. London, U.K.
Economist Intelligence Unit. 2001. Country Profile Japan. London, U.K.
Friedman, Milton, and Schwartz, Anna. 1965. The Great Contraction, 1929-1933. Princeton, N.J.: Princeton University Press.
Garrison, Roger. 2001. Time and Money: The Macroeconomics of Capital Structure. New York: Routledge.
Hayek, F.A. 1960. Prices and Production. London: Routledge and Kegan Paul.
Herbener, Jeffrey. 1999. "Revisiting the Japanese Miracle." Unpublished paper.
International Financial Statistics Year Book. 1996. International Monetary Fund. Washington, D.C.: Government Printing Office.
International Financial Statistics Year Book. 2001. International Monetary Fund. Washington, D.C.: Government Printing Office.
Keeler, James. 2001. "Empirical Evidence on the Austrian Business Cycle Theory." Review of Austrian Economics 14 (4): 331-51.
Krugman, Paul. 1998. "It's Baaack: Japan's Slump and the Return of the Liquidity Trap." Brookings Papers on Economic Activity 10 (2): 137-87.
__________. 2001. "Purging the Rottenness." New York Times 25 April.
Mankiw, Gregory. 2000. Macro Economics. New York: Worth Publishers.
Mises, Ludwig von. [1912] 1980. The Theory of Money and Credit. Indianapolis, Ind.: LibertyClassics.
__________. [1949] 1998. Human Action: A Treatise on Economics. Scholar's Edition. Auburn, Ala.: Ludwig von Mises Institute.
Rothbard, Murray. [1962] 1993. Man, Economy, and State. Auburn, Ala.: Ludwig von Mises Institute.
__________. [1963] 2000. America's Great Depression. Auburn, Ala.: Ludwig von Mises Institute.
Rothbard, Murray. [1963] 1990. What Has Government Done to Our Money? Auburn, Ala.: Ludwig von Mises Institute.
Wood, John. 1999. Money, Its Origins, Development, Debasement, and Prospects. Great Barrington, Mass.: American Institute for Economic Research.

Chú thích:
(1) Thỏa ước Plaza Accord 1985: là thỏa ước tài chính được ký ngày 22/9/1985 tại khách sạn Plaza, thành phố New York gồm có Mỹ, Nhật Bản, Đức, Anh và Pháp. Năm quốc gia thỏa thuận giảm giá đô-la Mỹ so với đồng Yen Nhật và đồng Mác Đức- QD
(2) Ngoài các trích dẫn, tất cả các thống kê trong bài viết này được căn cứ theo tài liệu của Economist Intelligence Unit Country profile Japan (1996 va 2001).
(3) Trong suốt bài viết, nhiều đơn vị tiền tệ tính bằng tiền yen. Khoảng thời gian của 1986-2000, tỷ giá hối đối trong vòng 168,52 Yen =1 USD (1986) đến 94.06 yen=1USD (1995). Năm 2000 tỷ giá hối đối là 107,77 yen=1USD (Theo thống kê của sách Tài Chánh Quốc Tế).
(4) Bẫy tiền mặt (liquidity trap): là hiện tượng lãi xuất quá thấp, gần zero, nên không ai muốn đầu tư mà chỉ muốn giữ tiền mặt. Tình trạng này vô hiệu quả cho các chính sách tiền tệ nhằm thúc đẩy nền kinh tế phục hồi lại và làm cho nền kinh tế thêm tồi tệ- QD
(5) Quỹ tiết kiệm của bưu điện Nhật Bản (post office saving account) là ngân hàng tiết kiệm được điều hành bởi hệ thống bưu điện, bao gồm 23.000 bưu điện toàn quốc; vào cuối thập niên 1980 quỹ tiết kiệm của bưu điện cớ hơn 500 tỷ USD ký thác, là cơ sở tiết kiệm lớn nhất trên thế giới-QD.
(6) Krugman không đưa ra con số thực sự, ông ta cho rằng việc làm qua kinh nghiệm phải được tiến hành nhiều hơn. Ông Krugman cũng nghĩ chính sách tự nó là đúng, chính phủ nên cam kết kéo dài chính sách tối thiểu trong 1 thập niên để duy trì sự lạm phát.
(7) Điển hình là tiền dollar Mỹ chỉ đóng vai trò phục vụ 1/25 trong năm 1999, vai trò đó có đuợc từ đầu thế kỹ (theo Wood 1999). Xem đọc thêm Rothbard 1990 và Wood 1999 cho chi tiết về lịch sử của vai trò chính phủ đối với giá trị của đồng tiền.
(8) Đường biểu diễn LM: Đường LM biểu diễn một tập hợp các điểm cân bằng trên thị trường tiền tệ. L và M là các chữ cái viết tắt của các từ tiếng Anh Liquidity Preference và Money Supply nghĩa là nhu cầu giữ tiền mặt của cá nhân và cung tiền của cơ quan quản lý tiền tệ của nhà nước. Đường LM được dùng trong phân tích IS-LM (theo Wikipedia).
(9) M2: là 1 trong các tên đo lường của cung tiền tệ.
M2 bằng M1 cộng với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
M0: tổng lượng tiền mặt. M0 còn được gọi là tiền cơ sở hoặc tiền hẹp.
M1: bằng tổng lượng tiền mặt (M0) và tiền mà các ngân hàng thương mại gửi tại ngân hàng trung ương. M1 còn được gọi là đồng tiền mạnh.
M3: bằng M2 cộng với tất cả các khoản tiết kiệm khác gửi tại các tổ chức tín dụng (theo Wikipedia).
(10) Dung lượng tiền được nói đến trong bài này bao gồm khoản tiền hẹp- tiền ký thác chuyển nhượng + tiền ký thác bên ngoài các ngân hàng, và tiền khế ước- trách nhiệm trả nợ của ngân hàng bao gồm thời gian, số tiền tiết kiệm và tiền nước ngoài.
(11) Nền kinh tế đủ khả năng hoạt động 1 cách tạm thời theo 1 giới hạn có thể được của nghành sản xuất, bởi vì cái giới hạn này được định nghĩa như cách duy trì cho sự phối hợp của thị trường tiêu thụ và đầu tư. Xin tham khảo thêm chi tiết tài liệu của Garrison (2001, trang 70-71).
(12) Độc giả có thể tham khảo thêm lý luận chu kỳ kinh tế của phái Austrian, tài liệu Mises 1998 hoặc những tường trình cổ điễn của lý luận chu kỳ kinh tế của phái Austrian, Hayek 1960.

Categories

Leave a comment

About this Entry

This page contains a single entry by dcvblogs published on February 2, 2008 11:26 PM.

Trung Quốc: Đề tài tranh cử Tổng thống Mỹ 2008 was the previous entry in this blog.

Giải nghĩa cuộc khủng hoảng kinh tế Nhật Bản (Kết) is the next entry in this blog.

Find recent content on the main index or look in the archives to find all content.

danchimviet
danchimviet