Giải nghĩa cuộc khủng hoảng kinh tế Nhật Bản (Kết)

| | Comments (0) | TrackBacks (0)
Benjamin Powell - Quang Diệu lược dịch


Bài Học Của Nền Kinh Tế Suy Thoái Nhật Bản

Sự mô tả của phái Austrian về thời điểm của mức tăng trưởng nhảy vọt và căn nguyên khá tương tự như lý luận của phái Tiền Tệ, tuy nhiên, có sự khác biệt rất quan trọng. Cả 2 phái đồng ý rằng sự co rút lại trong chính sách mở rộng tiền tệ là bắt nguồn của sự suy thoái, nhưng phái Tiền Tệ thấy rằng sự co rút này nên được tránh để sự phồn thịnh có thể tiếp tục. Phái Austrian thì lý luận rằng, sự co rút tiền tệ là cần thiết để phục hồi lại mức thăng bằng của nền kinh tế thực sự - chính sách mở rộng tiền tệ trước đó là vấn nạn. Đây là lý do tại sao 2 trường phái này có những đề nghi khác nhau trong chính sách kinh tế.
Garrison nói “ lý luận của phái Austrian trong chu kỳ kinh tế là một lý luận của mức tăng trưởng không bên vững. Nó không phải là lý luận của sự khủng hoảng kinh tế tự chính nó“. Ông ta phát biểu tiếp “ Câu chuyện của nền kinh tế bị khủng hoảng và phục hồi có thể do tác động của giảm phát, sự phá giá, tái tổ chức các món nợ và sự kiểm soát cường độ vốn là duy nhất với mỗi giai đoạn riêng biệt của từng nền kinh tế (theo Garrison 2001, trang 120) .

Trong lý luận của phái Austrian, sự suy thoái của kinh tế là điều cần thiết, một khi nó hiện hữu và những đầu tư xấu được giải hoán thì nền kinh tế sẽ tự nó điều chỉnh. Sau thời gian 10 năm của suy thoái nền kinh tế Nhật Bản vẫn chưa cho thấy dấu hiệu của sự điều chỉnh. Lý luận của phái Austrian cho rằng nền kinh tế suy thoái cần thời gian dể tự điêu chỉnh nhưng điều này chỉ có thể xảy ra nếu những diễn tiến của thị trường được thi hành. Rothbard khái quát lập trường của phái Austrian như sau:


Nếu chính phủ mong muốn tình trạng kinh tế khủng hoảng được giảm nhẹ hơn là làm cho nó thêm nguy ngập thì cách giải quyết duy nhất: để cho nền kinh tế tự vận hành- bỏ mặc tự nó. Với chỉ khi nào chính phủ không can dự vào, chi phối hoặc tác động đe dọa vào giá cả, mức lương, và chính phủ chỉ nên giúp giải thể doanh nghiệp với quá trình điều chỉnh cần thiết trong cách giải quyết nhanh gọn trơn tru. Chống đở lại bất kỳ một tình huống doanh nghiệp yếu kém sẽ làm trì hoãn sự giải thể và những tình trạng hư hỏng thêm nguy ngập.
(theo Rothbard 2000 trang 185).

Như trình bày ở trên, chính phủ Nhật đã làm tất cả nhưng không để mặc nền kinh tế tự nó điều chỉnh lấy.

Phái Keynes đưa ra nhiều biện pháp cho chinh sách kích thích nền kinh tế đã chuyển vị cơ cấu sản xuất để thỏa mãn yêu cầu của chính phủ thay vì chấp nhận thị trường điều chỉnh lại những nhu cầu của giới tiêu thụ. Cụ thể, đa số các “bơm tiền quy mô của chính phủ” chi tiêu cho các công trình phục vụ công cộng đem lợi nhuận đến nghành xây dựng - trong quy mô lớn, nghành xây dựng là nghành có nhiều ảnh hưởng chính trị đối với nền kinh tế Nhật Bản, nghành này chiếm 7,6% của GDP và 9,7% của lực lượng lao động toàn quốc. Đảng Dân chủ Tự do (Liberal Democratic Party-LPD) đang nắm quyền và có ưu thế chính trị tại Nhật Bản từ năm 1955, đảng này luôn có liên minh và nuôi dưỡng những hổ trợ cho các công ty xây dựng trong nhiều năm, thông qua các công trình xây dựng công cộng hào phóng (theo tài liệu EIU 2001).

Do những quan hệ chặt chẻ giữa nghành xây dựng và LDP, đa số các khoản tiền chi tiêu của chinh phủ tập trung vào những dự án phục vụ công cộng. Gần 1 nửa số tiền 16,7 nghìn tỷ USD trong tài khóa kích thích kinh tế của chinh phủ vào tháng 4 1998 là chi tiêu cho các dự án phục vụ công cộng. Sau đó, năm 1998 thêm 66,4 tỷ USD trong 196 tỷ USD tài khoản thúc đẩy kinh tế chính phủ cũng được chi tiêu vào các dự án phục vụ công cộng (tài liệu của Herbener 1999). Nói chung, giữa 1991-2000 nghành xây dựng đã nhận được các đơn đặt hàng của chinh phủ trị gia at 59.054,7 tỷ Yen - tương đương với 30,12% của tổng đơn đặt hàng của nghành xây dựng. Những ưu đãi của LDP là thu hoạch cho nghành xây dựng. Đơn vị Đánh giá Kinh tế - EIU 2001 trang 40 - có ghi nhận “Những chương trình hào phóng phục vụ công cộng đã cứu sống được nhiều công ty xây dựng, là những công ty đã không thể tồn tại được trong thị trường của nghành này. Cũng vì cứu sống nhiều công ty xây dựng chính phủ đã cản trở quá trình tiến triễn điều chỉnh của thị trường bằng cách duy trì cơ cấu vốn đầu tư không đáp ứng được những nhu cầu khát khao cuả giới tiêu thụ. Nếu quá trinh tiến triễn của thị trường được thực thi, nguồn vốn đầu tư va lực lượng lao động được tái phân phối từ nghành xây dựng sang các nghành khác.

Nghành nông nghiệp cũng có ảnh hưởng chính trị với LDP. Âm thanh chính trị của các vận động hành lang được nâng cao bởi hệ thống cử tri đoàn của Nhật Bản, sau chiến tranh hệ thống cử tri đoàn này thất bại trong việc chuyển dời 1 số lượng không lồ dân cư đến các vùng đô thị, làm cho số cử tri của các vùng ngoai ô xa xôi hẻo lánh được nâng cao hơn các vùng đô thị (theo EIU-2001). Đưa đến kết quả của những chương trình bảo hộ giá cả và hàng loạt hạn ngạch nhập khẩu được mọc lên. Kết quả đó là rào cản của sự điều chinh giá cả, làm thiệt hại đến khả năng điều chỉnh của thị trường trong nhu cầu của giới tiêu thụ và đưa nền kinh tế ra khỏi sự suy thoái.

Ngân hàng trung ương đã cố găng tái phá giá tiền tệ, điều này chỉ làm biến dạng những tin hiệu của giá lãi suất, làm chậm khả năng điều chỉnh của thị trường,. Cho dù cắt giảm lãi suất liên tục, cung tiền tệ rộng lớn cũng không phản ứng lại bởi vì tình trạng yếu kém của hệ thống ngân hàng Nhật Bản. Thí dụ, khi BOJ tăng mức cơ tiền tệ 10% từ giửa 1997- giửa 1998, M2 và CD (CD: một loại tiết kiệm ký thác có bảo đảm - QD) gia tăng chỉ có 3,5% (theo Herbener 1999). Sự co rút vốn gây cho các ngân hàng Nhật Bản trãi qua những bước ngăn cản tái lạm pháp mà còn gây trở ngại cho khả năng phục vụ của nhà trung gian tài chánh.

Sự sụp đổ giá cả của địa ốc và kinh tế trì trệ gây cho nhiều con nợ bị loại ra khỏi nghành này và để lại cho các ngân hàng Nhật Bản những món nợ khổng lồ với những thế chấp chỉ còn trị giá 60-80% thấp hơn so với tri giá lúc ban đầu vay nợ (theo EIU 2001). Cơ quan phục vụ tài chánh ước lượng rằng có nhiều tập đoàn tài chánh của Nhật Bản bị kẹt trong số nợ lên đến 31,8 ngàn tỷ yen, và họ tin rằng sự ước lượng này chỉ là 1 đánh giá thấp trong phạm vi của vấn đề. Thêm vào đó, đầu tư của ngân hàng vào nghành địa ốc trong thời kỳ kinh tế nhảy vọt bị mất giá trị 80% từ năm 1991-1998 (theo Herbener 1999). Ngân hàng đầu tư vào cổ phiếu của thị trường Nikkei bị tuột dốc từ 40.000 điểm vào năm 1989 xuống còn 12.000 điểm vào tháng 3, 2001. Gây nên bởi những món nợ xấu có thế chấp trị giá kém và sự tuột dốc của các khoản tài sản khác. Thay vì mở rộng cho vay mượn vốn đến các người vay nợ thích hợp, BOJ gia tăng bơm thêm tiền và dùng các khoản quỹ tiết kiệm ký thác cho các nguồn dự trử tiền mặt để chống đở những món nợ xấu.

Để ứng phó lại với các vấn đề sai trái của hệ thống ngân hàng, chính phủ tiếp sức cứu trợ tài chính và quốc hữu hóa. Cuối năm 1998, 514 tỷ USD được bố trí để giải cứu tài chánh cho các ngân hàng, với 214 tỷ USD dùng vào việc mua lại cổ phần của các ngân hàng thua lỗ, và 154 tỷ USD dùng vào quốc hữu hóa, cải tổ và thanh toán nợ cho các ngân hàng bị phá sản (theo Herbener 1999). Quốc hữu hóa và giải cứu chỉ phục vụ việc chống đở các cở sở tài chánh không có lợi ích gì cho nền kinh tế, làm trì hoãn lại việc cải tổ cần thiết đến các cơ sở tài chánh với chức năng nhà trung gian tài chánh. Thị trường giải quyết các loại ngân hàng vô bổ này bằng các phương pháp cho phép các ngân hàng sát nhập lại, thu mua và cải tổ.

Sau những điều chỉnh của các thị trường căn bản, các ngân hàng nên hoạt động đúng chức năng như những cơ sở trung gian tài chánh. Một vài điều chỉnh được thực hiện, trong đa số các ngân hàng nhỏ sát nhập, tuy nhiên, còn lại các ngân hàng lớn của khu vực không được sử dụng các phương tiện của quỹ cứu trợ tài chánh (theo Herbener 1999). Điển hình la tuyên bố sát nhập có tầm vóc lớn của 3 ngân hàng: Dai-Ichi Kangyo Bank Ltd., Industrial Bank of Japan Ltd., và Fuji Bank Ltd. thành 1 ngân hàng lớn với trị giá vốn 1,2 nghìn tỷ USD (theo Herbener 1999). Đến khi nào chinh phủ chấm dứt hành động can thiệp vào việc giải cứu tài chánh và quốc hữu hóa thì sự tiến triễn của các ngân hàng lớn và việc sát nhập vẫn còn bị trì hoãn, kéo dài thêm thời gian các ngân hàng không làm tròn nhiệm vụ 1 cách hưu hiệu của một trung gian tài chánh.

Chính phủ Nhật Bản đã đi những bước lớn để ngăn chận sự vỡ nợ của các khoản đầu tư xấu của thời kỳ kinh tế nhảy vọt. Chinh phủ đã dành ra 20 nghìn tỷ Yen cho quỹ tín dụng bảo đảm để sẵn sàng giúp cho các công ty một cách dễ dàng. EIU cho biết “chương trình của các quỹ tiền giải cứu này thường dốc hết túi cho các công ty với tín dụng xấu, theo lẽ những công ty này nên bị phá sản” (theo EIU 2001).
Theo lý luận của phái Austrian, những công ty có tín dụng xấu này theo đúng nghĩa nên bị phá sản một khi nền kinh tế phục hồi. Khi một công ty bị phá sản, các nguồn trợ giúp không bị mất mát, nguồn vốn và lao động sẽ được tái phẩn bổ vào các công ty đáp ứng với mong mõi của giới tiêu thụ.

Chính phủ kiểm soát và phân bổ các vốn cho vay ngày một nhiều hơn thông qua các chương trình của FILP (theo EIU 2001). FILP nhận các khoản trợ giúp tài chánh này từ những quỹ tiết kiệm của nghành bưu điện là 254,9 nghìn tỷ Yen vào cuối năm 2000- chiếm khoảng 35% của tổng số các hộ gửi tiết kiệm (theo EIU 2001). Chinh phủ thường cho vay vốn đến các liên minh chính trị của Đảng Dân Chủ Tự Do, điển hình là các nghành xây dựng, với kết quả của sự lãng phí, các dự án kém thành quả và không đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của giới tiêu thụ. Thí dụ, khoản tiễn cho vay 5,3 tỷ USD được dùng vào xây dựng một cây cầu đường kỹ thuật cao ToKyo Bay- một dự án, theo sự ước lượng của chính phủ, sẽ chịu thua lỗ đến năm 2038 (theo Herbener 1999). Kiểu cho vay mượn này không phản ánh được mong muốn của giới tiêu thụ.

Chính phủ cũng hành động cho việc chống đỡ thị trường chứng khoán bằng cách thu mua những cổ phần khi thi trường chứng khoán Nikkei rớt xuống dưới mức 12.000 điểm, để duy trì nguồn vốn của các ngân hàng Nhật Bản có tỷ lề cân bằng theo quy định của Ngân Hàng Thế Giới cho Ổn Định Giao Dich (Bank for International Settlements). Các ngân hàng được chấp thuận với 1 tỷ lệ chiếm 45% dựa trên các khoản lợi nhuận ảo của cổ phiếu đối với 2 bậc vốn; tỷ lệ này bị rơi vào nguy hiểm một khi chỉ số Nikkei rớt dưới mức 13.000 (theo EIU 2001). Sự giữ giá cổ phiếu giả tạo này ngăn chận sức bật dậy của thị trường chính nó, từ đó làm trì hoãn thêm sự tái phân bổ nguồn vốn và sự phục hồi của nền kinh tế.

Trong bài viết “Đại Khủng Hoảng Kinh Tế của Hoa Kỳ” của Rothbard (America’s Great Depression, Rothbard 2000, trang 22) “ tuy nhiên, trong thời gian kinh tế bị khủng hoảng chính phủ có thể hành động một cách tích cực là giảm bớt vai trò của chính phủ liên quan đến nền kinh tế, giảm thuế và cắt giảm chi tiêu của chính phủ”. Trong năm 1997 chính phủ Nhật Bản tăng mức thuế tiêu thụ từ 3% lên đến 5%. Năm 1994 thuế lợi được cắt giảm và trong năm 1998 tỷ lệ thuế của nguồn lợi tức cao được giảm từ 65% xuống còn 50% và tỷ lệ thuế cho các doanh nghiệp giảm từ 46% xuống còn 40%. Mặc dù tỷ lệ thuế đuợc cắt giảm nhưng mức chi tiêu của chính phủ Nhật Bản không được cắt giảm. Những chi tiêu cho các dịch vụ của chính phủ gia tăng 9% từ năm 1995-1999 (theo EIU 2001).

Cắt giảm thuế má sẽ không có tác động hữu hiệu lợi ích cao nếu hành động giảm thuế không phù hợp tương xứng với việc giảm chi tiêu của chính phủ. Nếu người dân có được nhiều tiền hơn trong tay, sau 1 phần gửi vào tiết kiệm, là lý lẽ giúp cho cấu trúc của sản xuất được kéo dài thêm, rồi chi tiêu của chính phủ sẽ được tiêu thụ trở lại vào nơi đó (13). Tăng mức thuế tiêu thụ và chính phủ thất bại cắt giảm chi tiêu cùng với sự cắt giảm các loại thuế khác đã làm trì trệ sự phục hồi của nền kinh tế. Thay vì để các doanh nghiệp thua lỗ bị đóng cửa kinh doanh và tái thiết lại thì chính phủ cố gắng chi tiêu để duy trì sự tồn tại của một cơ cấu sản xuất đi ngược lại với nhu cầu của giới tiêu thụ (theo Herbener 1999).

Các tài khóa ngân sách trợ giúp của chính phủ được tái diễn nhiều lần bằng các chi tiêu cho các dự án phục vụ công cộng, các khoản tiền tiết kiệm to tát của nghành bưu điện được phân bố qua FILP, và những cố gắng ngăn chận ngân hàng và thương nghiệp bị thất bại đều là sức cản trở đến các quá trình tiến triển của thị trường được phục hồi lại. Những can thiệp của chinh phủ cứ tái diễn để duy trì sự tồn tại của một cơ cấu sản xuất, trì kéo lại sự điêu chỉnh cân thiết của những nhu cầu đặc thù trong giới tiêu thụ.

Công nghiệp khai thác mỏ là công nghiệp cần nhiều vốn đầu tư và là một trong những giai đoạn của sản xuất có tầm xa cuối cùng trong thị trường tiêu thụ. Tuy là kém hạng so với nghành khai thác mỏ, nhà máy xí nghiệp cũng là một nghành có quan hệ với sức vốn đầu tư nhiều và là bước đầu trong giai đọan sản xuất. Bán sỉ và bán lẻ là nghành ít vốn đầu tư và nằm trong giai đoạn tiếp theo sau nghành sản xuất. Cuối cùng, nghành phục vụ là trong giai đoạn cuối cùng của sản xuất và cần ít vốn đầu tư. Mặc dầu có một vài ngoại lệ của từng nghành riêng biệt trong từng phạm trù, nhưng một cách nhìn tổng thể, những công nghiệp này đi theo một thứ tự từ giai đoạn sớm nhất đến giai đoan cuồi cùng của sản xuất, và từ nguồn vốn đầu tư nhiều nhất đến nguồn vốn đầu tư thấp nhất: khai thác mỏ, nhà máy xi nghiệp, bán sỉ và bán lẻ, cuối cùng là phục vụ. Trong suốt thời gian của nền kinh tế Nhật Bản suy thoái, sự thu hẹp của các nghành công nghiệp này tăng thêm sự xác minh của lý luận chu kỳ kinh tế trong phái Austrian.

Vào năm 1990 có sự phát triển vượt bực của công nghiệp khai thác mỏ, tuy nhiên, khi mức tăng trưởng giả tạo kết thúc,những nghành công nghiệp bị thất bại nặng nề nhất trong suốt thập niên là đúng trong thứ tự với sự tiên đoán của lý luận phái Austrian. Tỷ lệ tăng trưởng của GDP, theo tỷ lệ từng nghành , nghành khai thác mỏ là tăng trưởng kém nhất, tiếp theo là nhà máy xí nghiệp, rồi đến bán sỉ và lẻ. Nghành phục vụ ít bị thu hẹp nhất.

Kết luận
Nghành khai thác mỏ giảm -9,6% và khu vực dịch vụ tăng 0,5% năm 1999
Nguồn: EIU
Như lý luận của phái kinh tế Keynessian và phái Tiền Tệ, lý luận của phái kinh tế Austrian đưa ra lý do phát sinh ra sự suy thoái của nền kinh tế Nhật Bản. Tuy nhiên, không như những lý luận của các phái kinh tế kia, chính sách kinh tế tự vận hành của Austrian đề nghị đã không được áp dụng. Một tiên đoán trong lý luận chu kỳ kinh tế của Austrian đưa ra được chính xác. Những nghành trong giai đoan đầu tiên của quá trình sản xuất có tỷ lệ tăng trưởng yếu kém nhất trong suốt thập niên.

Sự can thiệp và các kế hoạch của chính phủ làm rõ nét nhất trong mô hình phát triển kinh tế của Nhật Bản trong vòng 50 năm qua. Trong suốt thời kỳ nền kinh tế bị suy thoái, sự can thiệp của chính phủ càng được thê hiện rõ qua các tài khóa trợ giúp như: dính dáng vào số lượng lớn của những dự án phục vụ công cộng, gia tăng cơ số tiền tệ, cắt giảm thuế má, giải cứu và quốc hữu hóa một số ngân hàng, chính phủ trực tiếp cho vay vốn đến các doanh nghiệp, và gia tăng mức chi tiêu của chính phủ cho dù có cắt giảm thuế má. Những can thiệp này đã cố gắng duy trì sự hiện hữu của 1 cơ cấu sản xuât, điều đó đã ngăn chận quá trình tiến triễn cần thiêt của thị trường để điều chỉnh đúng đắn lại cho sự tăng trưởng giả tạo của những đầu tư thất bại.

Kinh tế Nhật Bản đã trải qua chu kỳ kinh tế của lý luận phái Austrian. Sự khơi màu trong tăng trưởng kinh tế ban đầu được tạo nên do sự phụ thuộc trong chính sách mở rộng tiền tề của ngân hàng trung ương. Bởi vi sự tái diễn của những can thiệp này, nền kinh tế không được phục hồi. Sự thất bại to lớn nhất của các đầu tư xảy ra trong những nghành có số vốn đầu tư nhiều trong các giai đoạn đầu tiên của quá trình sản xuất. Để giúp cho nền kinh tế của Nhật Bản được phục hồi lại chinh phủ phải chấm dứt sự can thiệp vào kinh tế và chấp thuận cho thị trường điều chỉnh lại cơ cấu của quá trình sản xuất để đáp ứng được nguyện vọng của giới tiêu thụ.


© DCVOnline

Nguồn: Explaining Japan's Recession


(13) Xin tham khảo thêm tài liệu Rothbard 2000 (trang 20, chú giải 15) giải thích lý do của các chi tiêu của chính phủ luôn luôn là sự tiêu thụ.


Categories

0 TrackBacks

Listed below are links to blogs that reference this entry: Giải nghĩa cuộc khủng hoảng kinh tế Nhật Bản (Kết).

TrackBack URL for this entry: http://www.dcvblogs.com/mt/mt-tb.cgi/415

Leave a comment

About this Entry

This page contains a single entry by dcvblogs published on February 2, 2008 11:27 PM.

Giải nghĩa cuộc khủng hoảng kinh tế Nhật Bản was the previous entry in this blog.

Hope you all had a wonderful Christmas and wish you all a very happy and prosperous New Year! is the next entry in this blog.

Find recent content on the main index or look in the archives to find all content.

danchimviet
danchimviet