Recently in History Category

Nằm giữa giao lộ của hai nền văn hoá Trung Hoa và Ấn Độ, lịch sử Tây Tạng là một mớ rối rắm nhiều sự kiện có ảnh hưởng hỗ tương. Về mặt chủng tộc, người Tây Tạng có nhiều nét hoàn toàn khác với sắc dân Hán phía đông, Slav phía tây, Mông Cổ phía bắc, và Ấn Độ, Nepal, Miến, Thái... phía nam. Về văn hoá, Tây Tạng gần gũi với Ấn Độ hơn Trung quốc, chữ viết Tây Tạng hiện nay dựa trên mẫu tự của ngôn ngữ Sanskrit. Xã hội Tây Tạng không mang nét văn minh Khổng giáo, mà mang sắc thái Phật giáo đại thừa đặc thù du nhập từ Ấn Độ cùng với Ấn giáo và Jain giáo, vừa huyền bí vừa cao thâm, hoà hợp với Bon giáo bản xứ tin vào pháp thuật và thú linh. Tuy Phật giáo Tây Tạng có bốn tông phái chính, phần lớn người Tây Tạng ngày nay vừa tôn thờ vừa chịu sự lãnh đạo của Dalai Lama thuộc phái Gelugpa cả trên phương diện thế tục lẫn tinh thần.
Về mặt chính trị, Tây Tạng khác với hai dân tộc Triều Tiên và Việt Nam. Hai nước nhỏ này mang đậm dấu ấn của Khổng giáo và cũng có chung biên giới với gã khổng lồ Trung quốc, nhưng từ thượng cổ cho tới thời cận đại họ luôn luôn muốn chứng tỏ sự độc lập của mình và cương quyết đánh đuổi bọn ngoại xâm, mặc dù thỉnh thoảng vẫn có những kẻ muốn dựa vào thế lực bên ngoài để nắm quyền nhưng cuối cùng đều thất bại. Ngược lại, từ khi hình thành một nhà nước Tây Tạng rõ rệt, các triều đại cầm quyền ở Tây Tạng đã chịu sự chi phối sâu đậm của người Hán, thậm chí tước Dalai Lama cũng do người Mông Cổ phong cho, rồi các nhóm thế lực bản xứ dựa vào Mông Cổ để tranh giành quyền lực vì thế nội tình bị Mông Cổ lũng đoạn trong hơn 4 thế kỷ. Đến đầu thế kỷ 18, Tây Tạng chịu sự đô hộ trực tiếp của nhà Mãn Thanh gần một thế kỷ, rồi tới sự can thiệp của Anh quốc. Năm 1949, sau khi Mao Trạch Đông đánh bại Tưởng Giới Thạch, Trung quốc lại bắt đầu xâm lấn dần và đặt nền cai trị có tính cách diệt chủng văn hoá ở Tây Tạng, với sự ngó lơ đồng loã của thế giới hoặc thỉnh thoảng có lời phản đối trên đầu môi của cộng đồng quốc tế trong suốt nửa thế kỷ qua.
Hiện nay, người Tây Tạng lưu vong có một quốc hội ở Dharamsala, Ấn Độ, với một vị Lama giữ vai trò tương đương như Thủ tướng lo mọi việc ngoại giao, kinh tế, xã hội, y tế, giáo dục... Tuy nhiên, đối với quốc tế hầu như chỉ có Dalai Lama 14 là người có một số uy tín tương đối nào đó khi phát biểu về những vấn đề liên quan tới Tây Tạng. Một khi vị Dalai Lama hiện nay qua đời, sẽ có một khoảng trống quyền lực kéo dài ít nhất 20 năm, hoặc tới khi vị Dalai Lama mới đủ trưởng thành để dẫn dắt dân tộc Tây Tạng, trong khi đó Trung quốc chắc chắn sẽ đưa lên một Dalai Lama khác, như hiện đã có hai Panchen Lama, một lưu vong và một dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Trung quốc. Tương lai có vẻ không sáng sủa cho lắm đối với dân tộc Tây Tạng.
25/4/2008: chính phủ Trung quốc tuyên bố đồng ý gặp gỡ sứ giả của Dalai Lama trong những ngày sắp tới, nhưng không nêu cụ thể nội dung các vấn đề sẽ thảo luận. Trong nhiều tuần qua Trung quốc đã chỉ trích Dalai Lama đứng sau các vụ náo loạn ở Lhasa và các vùng phía tây Trung quốc và chủ trương tách rời Tây Tạng khỏi Trung quốc. Dalai Lama bác bỏ các cáo buộc này và phản đối các hành vi dẫn tới bạo động của cả hai phía. Samdhong Lobsang Tenzin Rinpoche, thủ tướng chính phủ lưu vong Tây Tạng, nói trong một cuộc phỏng vấn ở Dharamsala rằng Dalai Lama không chủ trương độc lập khỏi Trung quốc, và ngay từ đầu đã ủng hộ Trung quốc tổ chức Thế vận hội năm 2008.
Sau đây là một số mốc chính trong lịch sử Tây Tạng:
Phạm Ngũ

Năm 399 trước Công nguyên (TCN), thành Athens buộc tội Socrates làm băng hoại thanh niên và chối bỏ thần thánh của thị quốc. Khi đó Socrates đã bảy mươi tuổi. Ông đã sống qua thời hoàng kim của Athens do Pericles lãnh đạo, khi ấy các toà dinh thự và đền đài tráng lệ cũng như tư tưởng dân chủ lan tràn khắp thị quốc. Rồi sau đó Athens trải qua 25 năm chiến tranh với Sparta và bị thất trận năm 404 để dẫn đến chế độ thiểu số chuyên chế.
