Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes

Tự điển
Việt - Bồ - La của
Alexandre de Rhodes có khoảng 9000 mục
từ Việt, được Viện Khoa học Xã hội xuất bản năm 1991. Sách gồm hai phần:
1/ Bản chụp
cuốn Dictionarium, Annamiticum - Lusitanum - Latinum, xuất bản
tại Rome năm 1651.
2/ Bản dịch
tiếng Bồ Đào Nha và La Tinh trong tự điển gốc sang tiếng Việt.
Mỗi phần có hai lời tựa của Alexandre de Rhodes, “Báo cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh” mô tả cơ cấu ngữ âm và ngữ pháp tiếng Việt, và phần từ điển.

Hai lời tựa
của Alexandre de Rhodes, và lời cho phép xuất bản
của Franciscus Piccolomineus,
Bề trên cả Hội Dòng Giê-su.

THƯA QUÝ
NGÀI RẤT ĐÁNG TÔN, VÀ RẤT ĐÁNG KÍNH, HỒNG Y THÁNH BỘ TRUYỀN BÁ ĐỨC TIN
Khi
chính thần linh dạy dỗ mọi chân lý cho các Thánh Tông đồ sắp đi khắp Hoàn cầu,
thì không những Người muốn cất dấu trong lòng các ông chính sự khôn ngoan, mà
còn dạy các ông thông biết tiếng nói mọi dân tộc, khiến sự hỗn độn tiếng nói và
sự ngu dốt từng phát sinh trên thế giới, do việc dấy loạn tội lỗi cùng hành
động kiêu căng của con cái ông No-e, đều được hủy diệt nhờ sự vâng lời và hạ
mình cách khiêm tốn của các Môn đồ đức Ki-tô. Bởi thế, trong Phòng ăn rất thánh
trên Núi Si-on, nhiều hình lưỡi rải rác xuất hiện: vì như ông Nazianzenus ghi
nhận, đức CON đã ở giữa chúng ta bằng thể xác khả giác và khả thị, thì cũng hợp
lý để đức THÁNH LINH cũng xuất hiện khả giác dưới hình những lưỡi lửa. Bởi đấy,
chúng tôi vui mừng rằng tiên mẫu này, hay gương thần này, bây giờ đang được
thực hiện trong Thành đứng đầu Hoàn cầu, tại đó, như vị Đại diện Tối cao ở dưới
đất của Lời nhập thể xuất hiện như là đầu hữu hình của Giáo hội chiến đấu khắp
thế, cũng vậy, thông qua các Giáo phụ áo đỏ, ngọn lửa thần của đức THÁNH LINH
cũng đang xuất hiện, ngọn lửa mà các Ngài nồng cháy bên trong, hay bày tỏ bên
ngoài bằng màu đỏ, ước gì các Ngài trở nên những người truyền bá nhiều phương
ngữ, để không những các nước lân cận và quen biết từ xưa được nghe những sự kỳ
diệu của Thiên Chúa mà cả mọi miền dưới bầu trời và những Vương quốc rất xa xôi
ở cực Đông từ nhiều thế kỷ qua chưa được nghe, thì bây giờ những nước ấy cũng
phải được nghe và rao truyền danh Chúa huyền diệu biết bao trên khắp trái đất.
Vậy tôi xin hỏi, trong khoảng chưa đầy hai mươi lăm năm gần đây, việc ấn hành
các phương ngữ của nhiều dân tộc tiếng nói xa lạ có ý nghĩa gì, nếu không phải
là truyền bá và phổ biến khắp trái đất những tư tưởng của Lời Thiên Chúa, mà
theo lệnh của Người, Rô-ma là thư viện và kho chứa, vừa để nuôi dưỡng đoàn
chiên của vị Mục tử Tối Cao Nhân lành, vừa để ngăn chặn lũ sói đang xông phá?
Mà lại để Lời Thiên Chúa thâm nhập dễ dàng hơn tới tận cùng Hoàn cầu, nơi người
Đông-kinh và Cô-sinh, tức là tất cả mọi người An Nam đang chiếm cư, thì bây giờ
lòng đại lượng bao la của quý vị cũng truyền lệnh thực hiện quyển từ điển của
dân tộc An Nam, một quyển từ điển giúp ích cho những người làm công tác Tông đồ
được chỉ định cho phần vườn nho này của Chúa, hầu họ hiểu biết phương ngữ xa lạ
của người An Nam, tức là để những mầu nhiệm Thiên Chúa được giải bày cho người
An Nam, đồng thời cũng để người An Nam vừa làm quen với chính Đức Tin Rô-ma và
Tông đồ, vừa làm quen với phương ngữ Rô-ma và La-tinh. Ai mà không thấy việc đó
trong tương lai có lợi là chừng nào cho công cuộc truyền bá đức tin của Chúa
Ki-tô được rộng rãi và chắc chắn hơn. Còn một việc nữa, thưa các vị HOÀNG TỬ
RẤT ĐÁNG TÔN, một khi các Ngài hướng mắt rất từ ái tới những miền biên cương
của các dân tộc, nơi mà đồng ruộng mùa gặt trắng xoá, thì xin các Ngài đừng
ngưng ủng hộ những dự liệu về tài chánh của quý Ngài, để sau khi đã bài trừ những
dị đoan viển vông, thì cuối cùng tất cả đều chạy tới con người hoàn hảo nhất,
và như thế các chi thể sẽ kết hợp với chính đầu của mình; sau hết chỉ còn một
đoàn chiên và một Mục tử.
Alexandre de Rhodes thuộc Hội Dòng Giê-su
CÙNG
ĐỘC GIẢ
Quyển
từ điển tam ngữ này, gồm tiếng An Nam, Bồ-đào và La-tinh tôi đặt nó vào trong
tay và để dưới mắt bạn được, là nhờ vào sự tài trợ của Thánh Bộ Truyền bá Đức
Tin; thay thế cho một thứ Ngữ pháp, tôi mở đầu ít dòng liên quan tới khái niệm
về tiếng An Nam hay Đông-kinh. Tiếng này không những thuộc hai vương quốc khá
rộng lớn là Đông-kinh và Cô-sinh, thêm vào đó vương quốc thứ ba là Cau bàng,
cũng sử dụng cùng một phương ngữ ấy; mà lại tiếng đó còn thông dụng ở những
vương quốc lân cận như Chàm, Cam-bốt, Lào và Xiêm. Vậy tiếng An Nam tôi thiết
tưởng tốt hơn nên đặt trước ở trong từ điển, vừa bởi phải làm như vậy thì tiếng
An Nam mới được chính danh và chính yếu, vừa bởi nhờ vậy bất cứ ai cũng có thể
hiểu và cắt nghĩa được các sách An Nam dễ dàng hơn; ngoài ra nó còn có ích lợi
hơn nữa cho chính người An Nam, để họ có thể học cả tiếng Bồ-đào lẫn tiếng
La-tinh.
Tuy
nhiên trong công việc này ngoài những điều tôi đã học được nhờ chính người bản
xứ trong suốt gần mười hai năm thời gian mà tôi lưu trú tại hai xứ Cô-sinh và
Đông-kinh, thì ngay từ đầu tôi đã học với Cha Francisco de Pina người Bồ-đào,
thuộc Hội Dòng Giê-su rất nhỏ bé chúng tôi, là thày dạy tiếng, người thứ nhất
trong chúng tôi rất am tường tiếng này, và cũng là người thứ nhất bắt đầu giảng
thuyết bằng phương ngữ đó mà không dùng thông ngôn, tôi cũng sử dụng những công
trình của nhiều Cha khác cùng một Hội Dòng, nhất là của Cha Gaspar de Amaral và
Cha Antonio Barbosa, cả hai ông đều đã biên soạn mỗi ông một cuốn từ điển: ông
trước bắt đầu bằng tiếng An Nam, ông sau bằng tiếng Bồ-đào, nhưng cả hai ông
đều đã chết sớm. Sử dụng công khó của hai ông, tôi còn thêm tiếng La-tinh theo
lệnh các Hồng y rất đáng tôi, vì ngoài những tiện lợi khác, nó còn giúp ích cho
chính người bản xứ học tiếng La-tinh. Đó là chủ ý của chúng tôi, điều mà tôi
muốn nhắn nhủ bạn để làm Vinh quang Chúa hơn. Chúc bạn khoẻ mạnh và hãy cầu
nguyện cho tôi.
Franciscus
Piccolomineus Bề trên cả Hội Dòng Giê-su
Cuốn
từ điển Anh Nam hay Đông-kinh, có chú giải tiếng Bồ-đào và La-tinh, được biên
soạn bởi Cha Alexandre de Rhodes Linh mục thuộc Hội Dòng chúng tôi, nay chúng
tôi ban phép để xuất bản, nếu những người liên hệ đến công việc này nhận định
là nên làm, thì căn cứ vào đó, chúng tôi ban hành tại Rô-ma ngày mồng 5 tháng
Hai năm 1651 chứng thư này do chính tay chúng tôi viết và có ấn dấu của chúng
tôi.
Franciscus
Piccolomineus
- - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -
Được phép in, Tôn Huynh Vincentius Fanus Phụ tá Cha Rất đáng kính Vincentius Candidus là Bề trên Cả Dòng Thuyết giáo, Giám quản Thánh Dinh Tông toà.
"Báo cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh", ngoài đoạn dẫn nhập, gồm có 8 chương:
1/ Chữ và vần gồm trong tiếng này
2/ Về các dấu và dấu hiệu khác trên nguyên âm
3/ Về danh từ
4/ Về các đại từ
5/ Về những đại từ khác
6/ Về các động từ
7/ Về những phần còn lại không biến cách của lời nói
8/ Một số luật liên quan đến cú pháp.
Sau đây là đoạn dẫn nhập của "Báo cáo vắn tắt":

BÁO CÁO VẮN
TẮT VỀ TIẾNG AN NAM HAY ĐÔNG KINH
Những
phương ngữ gần gũi nhau hơn ở Đông phương, đặc biệt tiếng Trung Hoa và
Đông-kinh, phần nào kể cả tiếng Nhật Bản nữa, có cách học khác xa các tiếng xứ
sở chúng ta: bởi chúng thiếu hẳn giống; đích thực chúng cũng không có biến
cách, cũng chẳng có số, quả thật tiếng Đông-kinh, mà bây giờ chúng tôi bàn tới,
hoàn toàn chẳng có chia động từ, chẳng có thì, chẳng có thức; nhưng tất cả
những thứ đó hoặc được cắt nghĩa, nhờ thêm vào một số phụ từ, hoặc được suy đoán
nhờ những tiếng đi trước hay theo sau, khiến người thông thạo tiếng, nhận đúng
là thì, hoặc thức, và số, được giải nghĩa trong chính câu nói, vả lại thường
thường cùng một từ có nghĩa danh từ và động từ, và bởi những tiếng được thêm
vào người ta có thể hiểu dễ dàng ở vị trí như thế tiếng như vậy phải là danh
từ, hay động từ.
Tuy nhiên
có hai điều đặc biệt cần phải ghi nhận trong phương ngữ này, là những điều được
coi như nền tảng chi phối tất cả phương pháp để học tốt tiếng ấy, đến nỗi nếu
không có nó thì người đồng hương chúng ta khó mà lĩnh hội được; vì cũng như con
người gồm có xác và hồn, thì cũng thế, phương ngữ này gồm những chữ mà chúng ta viết, những giọng hay dấu dùng để
ghi và phát âm: khi đã giải và đặt điều đó trước như là nền tảng, thì sẽ xét
sau các phần khác của câu nói và những quy tắc phải giữ trong chính câu nói.

Cách trình bày vài mục từ trong quyển tự điển này.
1/ trong bản
gốc:
a, chị ả: Irmau
primogenita: Soro primogenita.
ác, dữ: mao:
malus, a um. ác nghiẹp: fazer mal: malum agere. ác tâm, laõ dữ: maos
bofes: nequam. đại ác, dữ làm: cruel: crudelis, ie. ác, chơi ác: brincar,
folgar: ludo, is. hay ác, ác nghiép: brincador, brincão. lufor oris.
2/ trong bản
dịch sang tiếng Việt:
Ả, CHỊ Ả:
Người chị sinh đầu tiên.
ÁC, DỮ: Xấu
xa, dữ. Ác nghiệp: Làm điều xấu xa. Ác tâm, laõ dữ: Lòng độc dữ,
xấu xa. Đại ác, dữ làm [lắm]: Dữ tợn. Ác, chơi ác: Chơi bời, chọc
ghẹo. Hay ác, ác nghiép [nghiệp]: Người chơi bời, người chọc ghẹo.
Nguồn: Alexandro de Rhodes, Từ điển An Nam - Lusitan - La tinh (Thường gọi Từ điển Việt - Bồ - La), phiên dịch Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt và Đỗ Quang Chính, biên tập Hồ Lê, Cao Xuân Hạo và Hồ Tuyết Mai, nhà xuất bản Khoa học Xã hội, TP Hồ Chí Minh, 1991.
Categories
Văn học0 TrackBacks
Listed below are links to blogs that reference this entry: Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes.
TrackBack URL for this entry: http://www.dcvblogs.com/mt/mt-tb.cgi/469

Leave a comment