Người đày tớ

Eric Weiner làm phóng viên cho chương trình National
Public Radio, tác giả cuốn “The geography of bliss: One grump’s search for the
happiest places in the world”.
Bài viết ngắn của ông, My servant, đăng trong New
York Times, 3/2/2008.
Nhiều năm trước tôi tìm một căn hộ ở Delhi. Tôi vừa dọn
đến Ấn Độ, và mọi thứ về nước Ấn đều điên cuồng và thô sống. Mọi nơi tôi thấy
đều quá đắt đỏ hoặc ồn ào hoặc có khuynh hướng bị lũ gián bay to bằng cỡ con
chim nhỏ tấn công.
Cuối cùng tôi tìm được một căn phòng cửa gỗ dày với sân
thượng nhìn ra con phố dễ thương. Chủ nhà là một ông hống hách với cụm lông đen
cứng mọc lòi ra lỗ tai bên trái, ông ta kiêu hãnh chỉ rõ những đặc tính của căn
hộ, gồm phòng vệ sinh kiểu tây phương, máy lạnh (một thứ xa xỉ), và ông bình
thản nói thêm, “một đứa đày tớ”. Tôi hoàn toàn không thoải mái với cách ông
nói, nhưng tôi cũng không thể bảo là mình bị sửng sốt. Thiên hạ đã cho tôi biết
rằng rất nhiều người ở Ấn Độ có đày tớ (hay như người Mỹ gọi là người giúp việc
nhà), và tôi đoán đó là một thứ khác biệt văn hoá mà tôi cần làm quen.
Vài ngày sau, đứa đày tớ vừa chạy vừa nhảy cẫng lên thang
để trình diện. Nó gầy ốm một cách đáng ngại, nước da màu gụ và nét mặt sắc bén.
Tên nó là Kailash, nó 11 tuổi. Sự khác biệt văn hoá kiểu này tôi chưa sẵn sàng
chấp nhận. Tôi dợm xuống lầu để gặp chủ nhà, nhưng rồi do dự. Tôi suy luận rằng
nếu thằng bé này, một đứa mồ côi ở tiểu bang lân cận, không làm việc cho tôi
thì nó sẽ làm việc cho người khác, và làm sao biết người đó sẽ đối xử với nó
thế nào? Phủi tay mình khỏi thằng Kailash dường như là trốn tránh trách nhiệm,
tôi tự nhủ đại khái như thế.
Thế là mỗi buổi chiều Kailash leo lên thang và rụt rè gõ
cửa phòng tôi. Nói thật, nó không phải là người lau chùi: nó không lau bụi; nó
chỉ dọn bụi từ chỗ này sang chỗ khác. Nhưng nó là đứa có bản tính ân cần, thành
thật không thể chê, và hoá ra là một thiên tài với cái máy fax và máy in hay dở
chứng.
Kailash học tiếng Anh bằng cách nghe lỏm. Chẳng bao lâu
nó nói “I’m history” và “Get outta here”. Rồi nó bắt đầu kể đủ thứ cho tôi
nghe, như cha mẹ nó chết mấy năm trước thế nào, hay nó mê môn cricket lắm, hay
chủ nhà đánh nó nếu nó không nướng bánh chapatis đúng cách. Tôi không chắc khi
quyết định giúp nó, nhưng thuê một người dạy học chẳng tốn bao nhiêu, và chả
mấy chốc nó đến trường lần đầu tiên sau nhiều năm. Sau đó, khi tôi dọn tới một
căn hộ khác, Kailash đi theo tôi. Trên nguyên tắc, nó vẫn là nhân viên của tôi,
nhưng rồi tới lúc nó bắt đầu xem tôi như cha. Chuyện này làm tôi bối rối, nhưng
tôi không từ chối vai trò mới của mình. Tôi nói với nó những điều khủng khiếp
của bậc cha mẹ như: “Nếu sống trong nhà này thì phải sống theo luật của nhà
này”.
Mùa xuân năm nọ, tuổi dậy thì tới, và bỗng nhiên tôi là
“cha” của một đứa thiếu niên Ấn Độ đầy kích thích tố. Một lần, khi tôi đi xa
thị trấn, Kailash và vài đứa bạn thuê phim tục và đầu máy VCR. Tôi hoảng kinh
nhưng cũng ngấm ngầm hài lòng vì tính chủ động của nó. Mỗi khi tôi hỏi Kailash
về nguyện vọng của nó, nó chần chừ. Nó nói: “Bất cứ cái gì ông muốn con làm.
Con sẵn sàng đồng ý với ông”.
Tôi luôn luôn nghĩ mối liên hệ của chúng tôi sẽ theo một
đường thẳng có sẵn kịch bản. Một đứa con trai Ấn mồ côi may mắn gặp một người
Mỹ tốt bụng; đứa con trai phấn đấu vượt qua tuổi thiếu niên thua thiệt; đứa con
trai cuối cùng bền gan và mãi mãi biết ơn sự giúp đỡ của ông Mỹ tốt bụng. Nhưng
hơn mười năm sau tôi rời Ấn Độ, Kailash và tôi vướng vào hồi hai của kịch bản.
Nhờ số tiền tôi chuyển tới mỗi tam cá nguyệt, Kailash
sống trong một căn hộ nhỏ tí ở Delhi, quá lạnh vào mùa đông và quá nóng vào mùa
hè. Bạn chính của nó là con chó pomeran tên Envy. Gần đây, nó từ chối công việc
tôi thu xếp cho nó, việc rót trà tại một công ty đóng gói - một việc nó sẽ nhận
ngay trước khi nó gặp tôi. Tôi đã khiến nó muốn với cao, một điều nguy hiểm
trong một nước có hơn một tỉ linh hồn bướng bỉnh.
Những người bạn Ấn của tôi đã đứng ngoài quan sát, hoài
nghi cố gắng của tôi nhằm “cứu vớt” Kailash. Họ nói như thể đó là bệnh tâm
thần: “Anh nghĩ như người Mỹ. Kailash thuộc giai cấp thấp, tập cấp thấp.
Nó chỉ tiến được đến thế thôi. Thực tế mà xem”.
Họ nói đúng, tôi tự nhủ, cố chấp nhận ý nghĩ đứa bé Ấn mồ
côi này và tôi sẽ buộc vào nhau suốt đời. Nhưng tôi không thể rũ bỏ ý nghĩ ngây
thơ rằng một ngày nào đó Kailash sẽ tự do trôi nổi trong cuộc đời của chính nó
làm nên. Mấy tháng trước tôi hài lòng khi nó bắt đầu nhập học trường vi tính,
học viết chương trình, hy vọng chộp lấy phần của nó trong tương lai kỹ thuật
cao tươi sáng của Ấn Độ.
Trong một chuyến viếng thăm Delhi gần đây, tôi ngồi với
Kailash trong một quán cà phê đang mọc lên nhan nhản ở đó. Tôi bảo nó rằng tôi
cần làm vài việc trước. Không lâu đâu. Cái máy tính xách tay của tôi khởi động
chậm như thường lệ. Kailash liếc qua vai tôi và kinh hoàng khám phá ra rằng tôi
vẫn còn dùng Windows 2000. Nó nói: “Chậm quá chừng. Ông nên cài đặt Windows
XP”.
“O.K.,
Kailash”, tôi nói, nhìn đứa thanh niên đẹp trai 23 tuổi thay cho thằng bé khẳng
khiu nhiều năm trước. “Sẵn sàng đồng ý với cậu”.
Categories
Văn học0 TrackBacks
Listed below are links to blogs that reference this entry: Người đày tớ.
TrackBack URL for this entry: http://www.dcvblogs.com/mt/mt-tb.cgi/424

Leave a comment