Sao la: loài thú mới ở Trường Sơn
George B. Schaller là
phó chủ tịch và giám đốc khoa học của Wildlife Conservation Society ở New York.
Ông là tác giả của nhiều bài viết và sách khoa học, bao gồm The Year of the
Gorilla và Stones of Silence. Sau đây là bài viết của ông từ năm
1998 về loài thú sao la [1] ở dãy Trường Sơn. Thông
thường những bình luận của tôi về các loài thú hoang dường như mang vẻ bi đát,
như lời tụng ca ngắn cho buổi hoàng hôn của cuộc đời. Cuộc nghiên cứu ở Lào của
tôi lại khác: những ngày đó đầy tiên đoán vui về viễn tượng tìm thấy một loài
hoàn toàn chưa biết đến. Các đồng nghiệp và tôi trở thành nhà thám hiểm kiểu
cũ, không đi tìm loài thú có khả năng bị tiêu diệt và hiếm mà tìm loài thú mới,
hay tìm để khám phá những sinh vật mà khoa học không biết đến trong nhiều thập
niên.

Trong thời
đại các giống loài biến mất, đôi khi người ta quên rằng một số thú có móng guốc
đã bị tuyệt chủng trong 500 năm qua. Trong số đó có loài bò rừng ở châu Âu (tổ
tiên của bò nhà), bluebok, nai Schomburgk và linh dương đỏ. Nhưng mới hồi thập
niên 1990, dãy Trường Sơn [2] rậm rạp dọc biên giới Lào và Việt Nam xuất hiện
loài sao la đẹp mắt, có họ với bò hoang chưa ai biết, với những vết trắng trên
mặt và bộ sừng đen dài. Ngay sau đó, chúng tôi tìm thấy một loài lợn rừng đã
mất từ lâu, khám phá ra loài nai sủa to lớn, và tái khám phá một loài nai sủa
khác. Vậy mà vẫn còn một loài nai sủa thứ ba - một loài nhỏ được đặt tên là nai
sủa Trường Sơn - được xác định chắc chắn bằng DNA chỉ vài ngày sau khi tôi viết
bài này. Tổng cộng, vùng này đưa ra ba loài động vật hữu nhũ lớn mới chỉ trong
một thập niên, không kể một loài thỏ mới, chuột và vài loài dơi.
Mặt khác,
một con thú kể trong chương này là không có thật: con linh dương. Hai nhà sinh
vật học người Đức chứng minh sừng của nó là giả mạo - làm tại địa phương từ
sừng bò bằng cách hơ nóng, uốn cong rồi mài. Chẳng sao: khoa học rốt cuộc sẽ tự
điều chỉnh. Tuy nhiên, sự xuất hiện bất ngờ của loài sao la từ bóng rừng đã là
động cơ thúc đẩy bảo tồn dãy Trường Sơn. Cả Lào và Việt Nam đều hãnh diện về
loài thú độc đáo và nhút nhát này, chỉ ở hai nước của họ mới có chúng.
*
Chúng tôi
đi theo ba thổ dân Hmong trên đường mòn rất khó nhận dọc theo đỉnh núi và vòng
vèo lên xuống các sườn dốc. Vòm lá rừng mưa nhiệt đới dày đặc che khuất bầu
trời, khiến những bụi cây non, tre và cây cọ trông tối tăm. Mưa phùn gần suốt
năm trên rặng Trường Sơn bên phía Lào. Chúng tôi liên tục ngó xung quanh, hy
vọng bắt gặp một con sao la trong bóng râm.
Năm 1992,
sao la là loài thú lớn có vú chưa được biết tới. Nhà sinh vật học Đỗ Tước bên
nước Việt Nam láng giềng và John MacKinnon đã mô tả nó sau khi họ tìm thấy vài bộ
sừng trong các làng. Đó là bộ sưu tập tuyệt diệu và đáng ngạc nhiên đầu tiên về
động vật hữu nhũ mới trong rặng Trường Sơn xa xôi và có đặc tính sinh học độc
đáo. Thật ra, trong thập niên 1990, loài thú có móng guốc đã được khám phá hoặc
tái khám phá ngay ở nơi đây nhiều hơn số loài bị tuyệt chủng trên toàn thế giới
trong vài trăm năm qua. Tuy nhiên, ngoại trừ vài dân làng, chưa ai thấy một con
sao la còn sống trong rừng.
Tôi ở tại
điểm nóng sinh vật học phi thường này trong chuyến đi đầu tiên của bốn lần thăm
viếng từ 1994 tới 1997, để khảo sát thú hoang, hợp tác giữa Wildlife
Conservation Society ở New York (WCS) và Bộ Lâm nghiệp Lào. Phụ tá của tôi là
nhà sinh vật Alan Rabinowitz và vợ ông là Salisa, cùng với một số đồng nghiệp
người Lào. Ngoài việc tìm sao la và các thú khác, đã biết hay chưa, dự tính lâu
dài của chúng tôi là giúp tìm cách bảo tồn những khu rừng tuyệt vời này và thú
hoang trong đó. Nhưng lúc này thú hoang duy nhất chúng tôi gặp là những con đỉa
đang bò tới chúng tôi trên đám lá mốc meo trong rừng.
Cơ hội tìm
thấy loài động vật hữu nhũ mới góp thêm phần hào hứng và niềm vui lỗi thời vào
cuộc thăm dò thú hoang của chúng tôi. Xét cho cùng, chỉ có vài loài thú được
tìm thấy trong thế kỷ này: hươu đùi vằn, lợn rừng khổng lồ, nyala núi, lợn
peccary ở Chacoa, bonobo, kouprey. Tôi cảm thấy như một nhà sinh vật học thế kỷ
19 nhưng hơi khác. Chẳng mấy chốc, tôi biết khám phá không được tìm thấy trong
rừng sâu mà ở tại các ngôi nhà trong làng và ngoài chợ. Thú hoang bị săn bằng
súng, bẫy và lưới nhiều tới nỗi dấu hiệu của bất cứ động vật có vú nào cũng đều
hiếm thấy.

Hai hôm
trước chúng tôi nghe kể thịt sao la bán ngoài chợ Lak Xao, một huyện nhỏ ở chân
dãy Trường Sơn. Tin tức về một con sao la, ngay cả đã chết, tất nhiên khơi dậy
sự quan tâm của chúng tôi. Người bán hàng ngoài chợ chỉ chúng tôi tới làng Nape
của người Hmong. Những câu hỏi của chúng tôi về con sao la ở đó lúc đầu bị nghi
ngờ. Xét cho cùng, người Lào đã có nhiều kinh nghiệm không vui với người Mỹ.
Trong chiến tranh Việt Nam, nước Lào trung lập bị pháo kích và bỏ bom trong nỗ
lực vô vọng nhằm làm gián đoạn Đường mòn Hồ Chí Minh, mạng đường rừng liên tục
biến đổi mà Bắc Việt dùng để chuyển quân cụ vào nam. Giờ đây người Hmong có mối
lo khác. Một người hỏi: “Có chắc họ không phải là DEA (Cơ quan chống ma túy)?”.
Cuối cùng tin rằng chúng tôi chỉ quan tâm tới thú hoang, họ cho chúng tôi xem
hai bộ sừng sao la, một bộ vẫn còn mùi hôi.
Tôi lướt
ngón tay trên mặt láng đen của một chiếc sừng, ngạc nhiên trước sự hiếm hoi và
tao nhã của nó. Bộ sừng hơi cong, dài 50 cm. Nó giống sừng linh dương châu Phi
(African oryx antelope), vì thế gốc tên gọi khoa học của nó là Pseudoryx, nghĩa
là loài oryx giả. Tên địa phương sao la nghĩa là "cái xe sợi”: bộ sừng giống
như trục thẳng đứng của con suốt dùng để dệt ở địa phương. Làm sao con thú 90
kg với bộ sừng tuyệt vời như thế lại có thể né tránh bấy
nhiêu lâu không để khoa học khám phá, dù cho chiến tranh và cách mạng đã cản trở việc nghiên cứu trong dãy Trường Sơn
nửa thế kỷ?
“Chúng tôi
sẽ bắt cho các ông một con còn sống”, một người Hmong nói, thấy sự tò mò rõ rệt
của chúng tôi. “Nhưng ông cho chúng tôi cái gì?” Chúng tôi cam đoan với đám
đông chật cứng trong phòng rằng chúng tôi chỉ muốn nghiên cứu con thú trong
rừng. Vài người Hmong đồng ý đưa chúng tôi tới chỗ họ đã giết con sao la vài
ngày trước đó.
Chúng tôi
đi theo họ xuyên qua rừng, tới đầu nguồn một dòng suối ở cao độ 1700 mét. Bầy
chó đã đuổi theo một con sao la cái, tới giữa những tảng đá rong rêu nó kháng
cự lần cuối cùng. Khi nó đương đầu với bầy chó bằng bộ sừng sắc như lưỡi kiếm
của nó, người ta tới gần bắn nó. Bộ da nó vẫn còn đây, màu nâu và đen với những
mảng trắng trên mặt và một vạch trắng trên mông. Bên cạnh đống tro, nơi người
Hmong đã xẻ thịt và ăn nó, bộ móng của nó giống như móng con bò nhỏ.
Sao la là
loài thú độc đáo tới nỗi các nhà sinh vật học thoạt tiên khó định được chủng
loại gần nhất của nó. Có người cho rằng nó thuộc vào loài cừu và dê, người khác
nói nó giống loài linh dương nilgai ở Ấn Độ. Cuối cùng John Gatesy ở Đại học
Arizona phân tích DNA cho thấy sao la có quan hệ với trâu và bò rừng. Các thăm
dò sau đó của chính tôi và nhiều người tại WCS, cũng như các nhóm ở Việt Nam,
cho thấy sao la ngày nay chủ yếu sống trong vùng cao và ẩm của dãy Trường Sơn.
Chúng sống rải rác trong diện tích khoảng 5.200 km2, và còn rất ít, có
lẽ vài trăm. Vì thế chúng rất dễ tuyệt chủng vì bị săn bắn và vì rừng mưa nhiệt
đới của chúng bị tàn phá.
Trong
chuyến đi này và các chuyến sau, đoàn địa phương của chúng tôi và tôi thường đi
nhiều ngày qua rặng núi. Lần đi thăm này, sau nhiều giờ xuyên khu rừng, như
thông lệ chúng tôi đến một khoảng trống có các căn chòi mái rơm và cánh đồng trồng
lúa vùng cao. Người Lào lịch sự và niềm nở. Ông tộc trưởng mời chúng tôi vào
chòi của ông, chúng tôi ngồi trên chiếu, uống trà, và nói cho ông mục đích
chuyến viếng thăm của mình. Cả làng tụ tập nghe và quan sát.
Chúng tôi
hỏi và cho xem các tấm ảnh hổ, báo xám, voi, bò rừng, gấu mặt trời, nai sambar,
và các thú khác. Nhưng có thể tìm thấy loài thú mới nào ở đây? Mắt tôi đảo trên
vách tường tìm gạc và sừng nai thường dùng làm móc áo. Phần lớn chiến lợi phẩm
là nai sủa đỏ, còn gọi là muntjac, một loại thú sống đơn độc lớn cỡ con chó
Labrador. Có nhiều trên vùng nhiệt đới Á châu, loài nai sủa đỏ (và cả các loài
nai sủa khác) được đặt tên vì chúng sủa như chó con khi kích động. Chúng có gạc
mấu, thường móc vào phía trên, dài khoảng 10 tới 13 cm.

Thỉnh
thoảng tôi thấy và đo những bộ gạc muntjac dài và khoẻ bất thường, khoảng 23
cm. Tuy nhiên chỉ đến khi bắt gặp một con đực còn sống trong bầy riêng ở Lak
Xao tôi mới biết nhiều đặc tính bất thường của loài nai này. Những người trong
đoàn chúng tôi cũng xem xét con nai này và nhận thấy vóc dáng lớn của nó, đuôi
ngắn và to, bộ lông xám nâu, và các đặc tính khác không giống với loài muntjac
đỏ. Đây là một loài mới, loài muntjac lớn, sau đó không lâu cũng tìm thấy ở
Việt Nam. Thật ra chúng sống ở nhiều nơi trên dãy Trường Sơn, và lan xuống phía
nam tới Cam Bốt. Người ta đã biết về nó từ năm 1899 - tấm ảnh chụp bộ gạc của
nó được in trong một tạp chí khoa học - nhưng nó không được nhận là một loài mới.
Trong những
lần phỏng vấn tại làng, tôi luôn hỏi về sao la, nai sủa lớn, và các loài
khác. Đối với sao la, câu trả lời luôn luôn là không hay bây giờ thì không thấy. Đối
với nai sủa lớn, câu trả lời thường là có thấy chúng trong rừng cao xa tít, hay
có người có một bộ gạc, nhưng đã bán cho người Việt dùng làm thuốc cổ truyền. Vài
lần tôi cũng được cho biết về một con nai sủa nhỏ màu đen. Rất hiếm. Tên nó là fan
dong, “nai sủa của rừng rậm”. Không ai có xương sọ của loài thú nhút nhát
này: các con thú bị ăn thịt ngay và ném xương cho chó và lợn.
Tháng Giêng
1995, William Robichaud và Rob Timmins của WCS, cùng với một số người khác,
trong đó có tôi, đến thăm đàn thú Lak Xao một lần nữa. Ở đó chúng tôi thấy một
con muntjac đen nhỏ, chỏm màu cam và gạc ngắn khoảng 2 cm. Nó giống một loài
thú mới. Nhưng đúng không? Năm 1929, một mẫu loại tương tự như muntjac được thu
lượm tận Bắc Lào và được đặt tên rooseveltorum để vinh danh một người
con trai của Tổng thống Theodore Roosevelt dẫn đầu đoàn thám hiểm. Cuối cùng
chúng tôi tìm được một số xương sọ. George Amato của WCS so sánh DNA của chúng
với mẫu loại rooseveltorum và thấy có lẽ tương tự. Thay vì thêm một loài
thú mới, chúng tôi có thể đã tìm thấy lại loài thú đã biến mất sáu thập niên
trước.
Tin tức về
thú hoang từ các ngôi làng như Lak Xao phải được đánh giá cẩn thận: khái niệm
về một loài thú của dân địa phương không nhất thiết giống như tôi, và thật giả đôi
khi lẫn lộn. Nhưng tôi say mê nghe về hai loại lợn rừng trong một vùng. Ở dãy
Trường Sơn chỉ biết một loại lợn đen Âu Á thường. Loại kia nghe nói có mõm dài
màu vàng. Năm 1892, một linh mục dòng Tên ở Thượng Hải, Pierre-Marie Heude, có
hai bộ xương sọ từ miền nam Việt Nam và tả chúng như một loài lợn mới. Sau đó
không ai nghe gì thêm, và người ta nghĩ chúng đã tuyệt chủng, nếu quả thật
chúng có thật. Trong hơn một tháng tôi đi khắp dãy Trường Sơn, leo từ đỉnh này
sang đỉnh khác và xuống những dòng sông chảy bất thường bằng cách bám lấy các
đồng nghiệp William Leacock và Khamkhoun Khounboline. Chúng tôi cứ hỏi thăm về
con lợn vàng. Cuối cùng trong một cái lán chúng tôi thấy nửa cái đầu và một cái
chân xông khói trên lò sưởi. Tôi nghe nói đây là phần còn lại của một con lợn
vàng. Chúng tôi mua ăn phần còn lại nhưng giữ lấy xương. Colin Groves ở Đại học
Quốc gia Úc đo nó, và George Amato phân tích DNA cho thấy quả thật đây là loài
lợn đã mất, nay tái hiện sau một thế kỷ.
Gần cực nam
của dãy Trường Sơn, ở Việt Nam và Cam Bốt, là nơi cư trú của một động vật bí
ẩn. Người Việt địa phương gọi nó là linh dương, “dê núi”. Sừng nó dài tới 51
cm, xoắn ốc và cong ở đầu, và có các vòng đai dọc theo sừng [3]. Cho tới nay chỉ
tìm thấy bộ sừng; không ai biết chắc con thú trông ra sao hoặc nó
gần với loài nào nhất. Tôi không tìm thấy chứng cớ nào về nó ở Lào. Bộ sách
bách khoa Trung quốc, San Cai Tu Hui, năm 1607, cho thấy một loài giống
như dê có sừng cong có thể là linh dương. Loài thú có thể gần tuyệt chủng, hiếm
hơn cả kouprey, loài bò rừng khổng lồ tìm thấy cùng nơi này vào năm 1936.

Dãy Trường
Sơn là một thế giới sống, một nơi ít được biết đến, và ta chỉ có thể đoán tại
sao vùng này lại tụ họp nhiều loài độc nhất vô nhị như thế. Trong thời
Pleistocene [4], khí hậu trái đất biến đổi giữa ẩm ướt và ấm
áp và lạnh và khô, theo với từng thời kỳ băng giá biến đổi. Những thay đổi đó
ảnh hưởng tới phân bố rừng mưa nhiệt đới, nơi những loài như sao la và một vài
loài nai sủa sinh sống. Trong giai đoạn khí hậu khô, rừng tồn tại chính ở vùng
cao trong dãy Trường Sơn. Có những loài sống sót và những loài khác biến hoá
trong cô lập, như chiếc thuyền của Noah thất lạc với thời gian.
Trong suốt
thời cao điểm của giai đoạn băng giá cuối cùng, khoảng 18.000 năm trước, mực
nước biển thấp hơn. Các hòn đảo như Sumatra, Borneo và Java khi ấy là một phần
của vùng đất liền Đông Dương. Một số loài ở Trường Sơn có họ hàng gần ở mãi tận
phía nam hoặc thậm chí trên các quần đảo Nam Dương, do đó tiết lộ dòng dõi cổ
xưa của chúng. Chẳng hạn, loài lợn được tái khám phá có họ hàng duy nhất là
loài lợn mụn cơm (warty pig) trên quần đảo này. Năm 1996, nhà sinh vật học Rob
Timmins tìm thấy tại chợ Lak Xao loài thỏ tai ngắn, có vằn độc nhất vô nhị ở
lục địa châu Á, nhưng loài thỏ có vằn tương tự sống trên Sumatra. Loài trĩ
argus có mào được tìm thấy ở dãy Trường Sơn và mãi tận bán đảo Mã Lai.
Các khám
phá mới gây chú ý đúng lúc tới dãy Trường Sơn. Những khu rừng mưa nhiệt đới lớn
đã bị dân làm nương rẫy đốn để trồng trọt một hoặc hai năm, sau đó họ bỏ hoang,
đất bị suy thoái, trong khi đó họ đốn khu rừng mới. Khai thác gỗ thương mại có
ảnh hưởng lớn hơn bao giờ, làm biến mất những khu rừng lớn là nơi sinh sống của
nhiều loài - từ loài vượn và chim mỏ sừng tới sao la. Khai thác gỗ và xây đập
nước khiến người ta tràn tới, và những con đường mới giúp người định cư và thợ
săn dễ xâm nhập vào các khu vực xa xôi.
Thật ra,
khám phá ra loài sao la lại khiến cho chúng trở thành con mồi săn vì người địa
phương giờ đây biết có thị trường cho loài này và thú sống. Tại khu bảo tồn Vườn quốc gia Vũ
Quang của Việt Nam, nơi tìm thấy sao la và tổ chức World Wide Fund for Nature ở
Thụy Sĩ đặt một trạm điền dã, 21 con sao la đã bị giết và ba con được cứu sống
đưa về Hà Nội từ năm 1992 tới 1994. Ở Lào, người Hmong bắt 7 con sao la, nhưng
chỉ một con cái còn sống khi về tới Lak Xao và sống thêm được ba tuần ở đó. Nó
có thai. William Robichaud vui mừng thấy nó ở đó. Nó sẵn sàng cho người đút ăn
và vuốt ve. Người Hmong gọi sao la là saht supahp, “con thú lễ phép”, vì bản
chất yên lặng của nó.
May mắn là
Lào và Việt Nam đã lập vài khu bảo tồn trong dãy Trường Sơn. Hai nước cũng họp
để nỗ lực cộng tác cứu vãn kho báu sinh vật này. Nhiều làng nằm lọt trong các
khu bảo tồn hiện có và sắp lập. Nhưng nếu quản lý khéo và cộng tác với dân địa
phương, tương lai có thể có những khu rừng cho cư dân. Năm 1812, nhà thiên
nhiên học Georges Cuvier viết "ít có hy vọng khám phá loài động vật bốn chân
lớn mới”. Sao la và các thú khác chứng tỏ lời tiên đoán của ông là sai. Thật
vậy, một loài nai sủa mới khác có khả năng tìm thấy gần đây ở dãy Trường Sơn,
và bóng rừng có thể vẫn còn che giấu các động vật bí ẩn khác.
Phạm Ngũ lược dịch
Chú thích
của người dịch:
[1] Sao la
còn gọi là bò Vũ Quang, tên khoa học là Pseudoryx nghetinhensis.
[2] Tác giả
dùng chữ Annamite Mountains.
[3] Ở phần dẫn nhập tác giả nói sau đó xác định không có loài linh dương này.
[4] 1,6 triệu năm trước.
Nguồn:
George B. Schaller, A Naturalist and Other Beasts, trang 157-166, Sierra
Club Books, San Francisco, 2007.
Đọc thêm: Pseudoryx
nghetinhensis




Categories
Môi trường0 TrackBacks
Listed below are links to blogs that reference this entry: Sao la: loài thú mới ở Trường Sơn.
TrackBack URL for this entry: http://www.dcvblogs.com/mt/mt-tb.cgi/378

Leave a comment