Trồng rừng khắc phục hậu quả của chất độc da cam

| | Comments (0) | TrackBacks (0)

Christie Aschwanden

ptb.jpg    Lời người dịch: Chiến tranh tại Việt Nam đã chấm dứt hơn 30 năm, nhưng một trong những tai hại còn để lại cho nhiều thế hệ về sau là chất độc da cam (Agent Orange) vẫn còn đang gây bệnh tật và phá hủy hệ sinh thái tại những nơi ngày xưa đã cất giữ và xịt thuốc. Bài báo trên tờ New York Times, tháng 9 năm 2007, kể chuyện nhà khoa học Phùng Tửu Bôi nỗ lực khắc phục hậu quả ác nghiệt đó.

Thung lũng A Lưới - Phùng Tửu Bôi cúi xuống xem bụi gai xếp thành hàng trước mặt. Cách đó vài bước, một con bò yên bình ăn cỏ trong thung lũng xanh tươi của vùng đồi núi miền trung du Việt Nam.
    Ông Bôi, một nhà lâm nghiệp và giám đốc Trung tâm Bảo tồn Tự nhiên và Phát triển Cộng đồng ở Hà Nội, vừa chỉ con bò vừa nói: “Thấy không? Rất, rất xấu”.   

ptb1.jpg

Chất độc vô hình bám vào đất dưới móng bò. Trong thời gian chiến tranh ngắn ngủi, mảnh đất này dùng làm căn cứ không quân cho Lực lượng Đặc biệt của Mỹ, binh lính đã rút đi từ lâu, nhưng chất dioxin mạnh từ Agent Orange (chất độc da cam) mà họ cất giữ và xịt ở đây vẫn còn tồn tại.
    Ông Bôi, một người vui vẻ, nồng nhiệt với nụ cười tươi hiếm khi biến mất trên mặt, đã cống hiến sự nghiệp của mình vào việc chữa trị tổn hại sinh thái do Chiến tranh Hoa Kỳ để lại theo cách gọi của người dân ở đây. Và tuy ông đạt được nhiều thành công trong 30 năm qua, công việc của ông còn lâu mới xong.
    Khi ông Bôi bắt đầu làm việc ở đây năm 1975, ông thấy một hệ sinh thái bị chiến tranh hủy hoại. Thuốc khai quang  Agent Orange xịt từ máy bay đã tàn phá những mảng rừng lớn. Vì không có rễ cây sống để giữ đất, những trận mưa gió mùa đã cuốn đi lớp đất bên trên và chất bổ dưỡng, cho phép cỏ xâm lấn khiến rừng không mọc lại được.
    Là một nhà thực vật học, mục đích nguyên thủy của ông Bôi là trồng lại rừng cho vùng đất trần trụi. Nhưng ông sớm nhận ra phục hồi hệ sinh thái rừng sau khi bị rải Agent Orange không phải là khó khăn duy nhất.

ptb2.jpg

    Người Pa Cô, Tà Ôi, Cơ Tu và Kinh ở thung lũng A Lưới (trong thời chiến là A Sao) cố sống đạm bạc trong một vùng có mùa trồng trọt ngắn nhất Việt Nam. (Phóng viên viết bài này đến thăm thung lũng nhờ món tiền tài trợ của Pulitzer Center on Crisis Reporting). Các nhóm dân thiểu số này ở trong những căn chòi một phòng, nền đất và không có nước máy, họ sống nhờ vào sản phẩm của rừng, và ông Bôi nhận thấy công việc của ông có tầm quan trọng sống còn đối với họ, cũng như đối với loài hổ và voi mà ông đang phục hồi môi trường sống cho chúng.
    Ông Bôi được sự giúp đỡ của cây keo Úc châu (Autralian acacia tree). Cây keo mọc mỗi năm hai mét, và sau năm năm có thể thu hoạch để làm giấy và bàn ghế. Cây cũng cải thiện đất và cho vòm tán nhanh để cây cối bắt rễ.
    “Đây là một mô hình tốt để phục hồi rừng”, Chris Dickinson nói, một nhà bảo tồn sinh vật và cố vấn kỹ thuật cho World Wildlife Fund for Nature ở Huế, và ông nói thêm rằng cây keo “mọc trên đất xấu và có thể che cỏ”.
    Cây cối cũng giúp dân cư thu hoa lợi. “Nhu cầu cây keo dường như vô tận”, tiến sĩ Dickinson nói. “Ikea dùng nó làm bàn ghế ngoài vườn”.
    Ông Bôi đã dùng cây keo khiêm nhường này để gây hàng ngàn hectare rừng ở miền trung Việt Nam. Sau những thành công này, ông mạnh dạn ứng dụng giải pháp thực vật để giải quyết một vấn đề khó khăn hơn rất nhiều.
    Mặc dù chất dioxin thả ở mức tương đối thấp trong nhiều vùng bị xịt thuốc trong thời chiến, các nghiên cứu của khoa học gia Canada cho thấy vẫn còn vô số địa điểm bị ô nhiễm cao ở những nơi lính Mỹ chứa Agent Orange.
    Con bò mà ông Bôi chú ý đang ăn cỏ trên một “điểm nóng” đó, căn cứ không quân A So cũ ở Đồng Sơn, nơi các khoa học gia của Hatfield Consultants ở Vancouver, bang British Columbia, đã đo mức TCDD trong đất, chất dioxin trong Agent Orange, cao hơn 200 lần mức do cơ quan bảo vệ môi trường (EPA) của Mỹ đặt ra.
    Chất dioxin cần nhiều thập niên mới tan biến. Cứu chữa vùng này cần hàng triệu đô la, và khi nói tới tiền bạc, những điểm nóng đông dân hơn ở Đà Nẵng và Biên Hoà được ưu tiên.
    Nếu điểm nóng Đồng Sơn ở New Jersey hay Florida, chỉ cần một hàng rào kẽm gai và một lời cảnh giác là đủ cho người ta khỏi lai vãng vào, nhưng giải pháp đó không thành công khi đương đầu với nạn nghèo đói cực kỳ. “Cô dựng hàng rào lên, nhưng người ta nghèo tới nỗi bất cứ cái gì tới tay là họ hạ xuống dùng”, Wayne Dwernychuk nói, một nhà khoa học môi trường làm việc cho Hatfield Consultants.
    “Nền kinh tế của họ xoay quanh nông nghiệp”, tiến sĩ Dwernychuk nói. “Nếu cô lấy đất ra khỏi vòng sản xuất thì rất khó giải thích với họ khi họ không thấy vấn đề”.
    Ông nói thêm chất hoá học làm ô nhiễm đất đai ở đây không thể thấy, ngửi hay nếm.
    Đưa tay chỉ khu đất ô nhiễm nhất của căn cứ không quân hồi xưa, ông Bôi nói: “Dân địa phương nghèo và không được học, họ không hiểu. Trẻ con tới đây chơi rồi bắt côn trùng và các thứ khác để ăn”.
    Dioxin tích lại trong mỡ động vật, và các phân tử dioxin cũng bám vào đất rồi con người có thể ăn qua loại cây củ rửa không kỹ như củ sắn. Tình trạng vệ sinh yếu kém và thức ăn thường ngày dựa trên gà qué bươi mổ đất ô nhiễm khiến cho chất dioxin là mối đe doạ thường trực. Tiến sĩ Dwernychuk và các đồng nghiệp của ông đã thấy mức TCDD gia tăng trong máu và sữa mẹ của dân địa phương, chứng tỏ chất hoá học tiếp tục vào nguồn thực phẩm.

ptb3.jpg

    Nguyễn Văn Phom, chủ tịch huyện Đồng Sơn, nói dioxin là nguyên nhân bệnh tật cho 60 trong số 240 gia đình trong làng. Người ta chưa chứng minh được liệu tình trạng này, kể cả chứng dị dạng tứ chi và điếc, là hậu quả của chất dioxin, mặc dù Viện Y khoa ở National Academy of Sciences đã gắn liền việc cựu chiến binh Mỹ tiếp xúc với Agent Orange với khả năng mắc bệnh, bao gồm cả ung thư và bệnh tiểu đường.
    Các nghiên cứu của Canada thúc đẩy chính phủ Việt Nam dời hơn hai mươi gia đình khỏi vùng đất ô nhiễm nhất, nhưng nỗ lực giáo dục dân cư về mối nguy hiểm vẫn còn khó khăn. Phần lớn dân không biết đọc và nhiều người chỉ nói lõm bõm tiếng Việt, họ dùng phương ngữ thổ dân.
    Ông Bôi đã đưa một giải pháp kỹ thuật thấp để vượt qua các khó khăn này: dựng hàng rào bằng cây gai nhọn bao quanh để ngăn người và thú. Ông Bôi hy vọng cái-gọi-là hàng rào cây xanh này không những ngăn kẻ xâm nhập, mà còn cung cấp cho họ một động cơ kinh tế để đừng phá hại rào cản. Ông chọn cây Gleditschia australis (bồ kếp gai) làm hàng rào, khi cây lớn lên, nó sẽ cho quả để dân có thể bán làm sà phòng và thuốc. Cây bồ kếp gai có khả năng chống bệnh và côn trùng, gai và gỗ mềm của cây sẽ ngăn dân đốn xuống làm củi.
    Hàng rào xanh hứa hẹn là một giải pháp hiệu quả cho một vấn đề tốn kém, William H. Farland, cựu khoa học gia của EPA, hiện là phó chủ tịch nghiên cứu tại Đại học Colorado State, nói: “Tẩy sạch chất dioxin tới mức hết hẳn rất tốn kém. Vấn đề chính là đừng để tiếp xúc với người, chứ không chỉ dọn dẹp đất đai”.
    Trong khi dự án phục hồi toàn diện tốn hàng triệu đô la, ông Bôi ước tính dự án của ông chỉ cần 30.000 đô. Tháng 12 năm 2006, với tài trợ 10.000 đô la của Ngân hàng Thế giới và sự trợ giúp của khoảng chục nông dân, ông Bôi trồng 10.000 cây giống đầu tiên. Nhưng mặc dù khởi đầu có triển vọng, dự án gặp vài trở ngại bất ngờ.
    Mặc dù khoẻ, cây bồ kếp gai không lớn mạnh ở vùng đất đã mất hết chất màu mỡ vì mưa sau nhiều thập niên khai hoang, và một trận lũ lớn làm ngập khu đất sau khi trồng, phá hủy nhiều cây con. Khi gai còn nhỏ, những cây bồ kếp còn sống sót trở thành thức ăn hấp dẫn cho gia súc. Ngày nay, chỉ một hàng cây nhỏ còn sống.
    Đối diện với những thách thức này, không ai trách nếu ông Bôi quay về văn phòng tiện nghi của ông ở Hà Nội và chuyển sang làm việc khác. Nhưng ông nhìn thất bại này là kinh nghiệm học hỏi cần thiết. Với bài học thu lượm được từ thất bại ban đầu, ông đặt ra một kế hoạch mới.
    Trước khi trồng đợt kế tiếp, ông Bôi bón thêm phân cho đất. Rồi ông trồng những cây con lớn hơn, và ngoài hàng rào bồ kếp gai nguyên thủy, ông sẽ trồng thêm nhiều dãy cây keo hai bên để tạo thành hàng rào ba lớp. Ông Bôi nói cây keo sẽ giúp bảo vệ bồ kếp gai, cải thiện đất và cung cấp thêm hoa lợi cho dân, ông vừa nói vừa chỉ vào giản đồ chụp hàng rào ông mang theo bất cứ nơi đâu, để chia sẻ với bất cứ ai chịu nghe.
    Ông Bôi cần thêm 20.000 đô để trồng xong hàng rào. Ông chưa nhận tài trợ nào từ chính quyền và dùng tiền riêng của ông để giúp dự án tồn tại. Nhưng ông Bôi không chịu bỏ cuộc, ngay cả nếu phải dùng thêm tiền túi của ông. Ông chỉ chấp nhận thành công. Nếu ông bỏ cuộc trong dự án này, đàn bò sẽ tiếp tục ăn cỏ trên đất ô nhiễm, và một thế hệ trẻ con nữa sẽ lớn lên ăn côn trùng bám đầy đất bụi dioxin.


Phạm Ngũ lược dịch

Nguồn: Christie Aschwanden, Through the forest, a clear view of the needs of a people, New York Times, 18 tháng 9 năm 2007.  Xem video.


Categories

0 TrackBacks

Listed below are links to blogs that reference this entry: Trồng rừng khắc phục hậu quả của chất độc da cam.

TrackBack URL for this entry: http://www.dcvblogs.com/mt/mt-tb.cgi/374

Leave a comment

About this Entry

This page contains a single entry by phamngu published on January 7, 2008 2:11 PM.

Sri Lanka hủy bỏ thoả ước ngưng chiến was the previous entry in this blog.

Trung quốc phóng 17 vệ tinh trong năm 2008 is the next entry in this blog.

Find recent content on the main index or look in the archives to find all content.

danchimviet
danchimviet