Socrates

| | Comments (0)

Phạm Ngũ

lichsu.jpg

Năm 399 trước Công nguyên (TCN), thành Athens buộc tội Socrates làm băng hoại thanh niên và chối bỏ thần thánh của thị quốc. Khi đó Socrates đã bảy mươi tuổi. Ông đã sống qua thời hoàng kim của Athens do Pericles lãnh đạo, khi ấy các toà dinh thự và đền đài tráng lệ cũng như tư tưởng dân chủ lan tràn khắp thị quốc. Rồi sau đó Athens trải qua 25 năm chiến tranh với Sparta và bị thất trận năm 404 để dẫn đến chế độ thiểu số chuyên chế.


Socrates nổi tiếng vì các đối thoại triết lý trên đường phố Athens. Ông vạch trần sự ngu tối của bọn xem mình là thông thái, và chủ trương mỗi người tự trách nhiệm về quan điểm và hành vi đạo đức của mình. Đối với Socrates, không ai cố ý làm điều sai, mà chỉ vì không biết điều gì tốt hơn, và minh triết là nhận thức được sự u tối của chính mình. Ông luôn tìm cách định nghĩa lại các khái niệm thường được mọi người chấp nhận là hiển nhiên, từ khái niệm về lòng hiếu thảo, đến các nguyên lý dân chủ căn bản. Nền dân chủ đang phục hồi ở Athens không đủ khả năng dung thứ cho quan điểm đó, và lên án tử hình ông.

Cần nói rõ là những điều hậu thế biết về Socrates phần lớn do người cùng thời kể lại và rất mơ hồ. Trong bài thơ Mây trời, Aristophanes chế nhạo Socrates là ông thầy ở cửa hàng dạy thanh niên lý luận sai thành đúng. Hai học trò của Socrates là Xenophon và Plato viết rất nhiều về ông, nhưng nhiều khi những việc họ kể mâu thuẫn nhau.

*

Socrates sinh năm 469 TCN, con một ông thợ điêu khắc và bà mụ đỡ đẻ. Ông thường nói đùa là theo nghề của mẹ, nhưng trong lãnh vực tri thức, giúp kẻ khác sản sinh tư tưởng của chính họ. Khi cha mất, ông thừa hưởng căn nhà, và chỉ có 70 minas (7000 USD thời 1960) đưa cho bạn ông là Crito đầu tư. Tuy sống nghèo, ông giữ gìn sức khoẻ cẩn thận và không bị ốm đau. Trong cuộc chiến Peloponnesian, ông chiến đấu rất dũng cảm: năm 432 ở Potidaea ông cứu mạng Alcibiades, năm 424 ở Delium ông là người lính Athens cuối cùng rút lui trước sự tấn công của Sparta, và năm 422 ông chiến đấu ở Amphipolis.

socrates2.jpg

Thời bình, ông làm thợ đá và đục tượng. Ông không thích đi xa, và ít khi ra khỏi thành phố và hải cảng. Bà vợ Xanthippe thường nhiếc móc ông bỏ bê gia đình, ông công nhận bà trách đúng và biện hộ cho bà trước đứa con và bạn bè mình. Chuyện gia đình không gây phiền toái cho ông, hình như ông cưới thêm một bà vợ nữa khi tử suất nam giới trong chiến tranh gia tăng dẫn đến tình trạng đa thê hợp pháp tạm thời. Hậu thế khen ngợi ông nhưng họ khó hài lòng về phẩm hạnh của ông, tuy đối với người cùng thời cách sống của ông không có gì đáng chê trách. Plato kể ông thích chàng Charmides, cặp bồ với anh Alcibiades, và “theo đuổi thanh niên đẹp trai”. Ông hào hiệp hứa giúp cô điếm Theodota, và nàng mời ông đến với nàng thường xuyên.

Mặt ông xấu, theo bức tượng trong Museo delle Terme ở La Mã, mũi tẹt và hếch, môi dầy, râu rậm và trán hói. Quanh năm ông khoác chiếc áo cũ và thích đi chân lấm. Nhìn hàng hoá bán ngoài chợ ông bảo: “Bao nhiêu là thứ ta không cần!” Ông sống điều độ và tự chế, nhưng uống rượu không kém ai nếu muốn. Ông thích đàn đúm với bạn bè, nhưng từ chối quà tặng và lời mời của bọn quyền quý.

Nói chung, đời ông may mắn: sống rong chơi, đọc mà không viết, giảng dạy không chương trình, uống rượu không nhức đầu, và chết không đau đớn trước khi suy nhược.

*

Mười năm trước khi Socrates ra đời, Hy Lạp đánh bại Ba Tư trong trận Plataea. Thế giới Địa Trung Hải ngạc nhiên vì liên minh các thị quốc nhỏ rải rác của Hy Lạp đã có thể đứng vững trước đế quốc Ba Tư hùng mạnh. Năm 490, đội viễn chinh Ba Tư của Darius đại đế bị Hy Lạp đánh bại ở Marathon. Mười năm sau, con của Darius là Xerxes đem một đạo quân hùng mạnh hơn cố chinh phục Hy Lạp, nhưng cũng bị đánh thua trong hai trận chiến quan trọng, trận thủy chiến ở Salamis năm 480 và trận đánh bộ ở Plataea năm 479. Từ đó Ba Tư không còn là mối đe dọa đối với các thị quốc Hy Lạp nữa.

Trước chiến tranh với Ba Tư, Sparta được xem là lãnh tụ của các thị quốc Hy Lạp. Nhưng từ nay, Athens nổi lên tranh quyền lãnh đạo. Trong trận Marathon, lực lượng Sparta chỉ đến tiếp viện sau khi Athens đã chiến thắng. Ở Salamis, 200 chiến thuyền của Athens là phân nửa hạm đội Hy Lạp dưới sự chỉ huy tài tình của viên tướng Themistocles của Athens.

Tiểu lục địa Hy Lạp từ nay không còn sợ kẻ xâm lăng, nhưng vẫn bị Ba Tư quấy nhiễu. Để chống các cuộc tấn công của Ba Tư từ mặt biển, các thị quốc trên đảo và ven biển phía đông vịnh Aegean liên kết lại dưới sự lãnh đạo của Athens, thay vì Sparta ở sâu trong đất liền. Liên minh Delos dần dần trở thành đế quốc Athens, dù trên danh nghĩa vẫn là liên minh của các thị quốc bình đẳng.

Uy thế của Athens dẫn đến sự kình địch với Sparta ngày càng rõ ràng và gay gắt. Vào giữa thế kỷ thứ 5 TCN, Hy Lạp chia thành hai nhóm. Sự phân chia dựa trên ý thức hệ: nhóm theo Athens lập chính quyền dân chủ, nhóm Sparta theo chế độ thiểu số chuyên chế.

Trong thập niên 460 và ba mươi năm sau đó, Pericles trở thành lãnh tụ chính trị ở Athens. Thế lực đế quốc Athens lên đến tột đỉnh và nền dân chủ Athens phát triển trọn vẹn, trong đó tất cả quyết định quan trọng do toàn bộ nam công dân của thị quốc biểu quyết chấp thuận. Ngoài ra, Athens cũng phát triển về mặt văn hoá, Pericles tuyên bố Athens là “trường học của Hy Lạp”. Trong thời gian từ năm 447 tới 438, kiến trúc sư Phidias của Athens xây đền Parthenon với bức tượng Zeus ở Olympia và tượng Athena bằng vàng và ngà voi ở Acropolis. Kịch nghệ Athens trong giai đoạn này phát triển thành mẫu mực cho nhiều thế kỷ sau. Athens trở thành trung tâm triết học, trường y khoa của Hippocrates trên đảo Cos giảng dạy dựa trên phương pháp khoa học. Nền dân chủ phát triển, nhu cầu giáo dục tăng theo, nhất là nghệ thuật hùng biện giúp tranh luận trong các buổi họp đại nghị của thị quốc, và các vị thầy giỏi nhất Hy Lạp thuộc nhóm Sophist tập trung về Athens.

Socrates gần 40 tuổi khi chiến tranh Athens-Sparta bùng nổ năm 431. Ông sống suốt thời trẻ trong một Athens tột đỉnh quyền lực và văn hoá. Trong khi đó, Plato sinh năm 428-427, và khi lớn lên Athens đã mất dần ảnh hưởng và thua trận.  Lúc Plato mới ở tuổi thiếu niên, Athens đưa quân đi đánh Sicile, hy vọng gây lại thế lực của mình trên các thị quốc Hy Lạp ở phía tây, nhưng bị đánh bại, mất hai hạm đội và hai quân đoàn. Từ đó Athens không bao giờ hồi phục lại tuy chiến tranh tiếp diễn thêm một thập niên nữa.

Trong thời gian này, Plato là một trong những thanh niên theo nghe Socrates đối thoại với lữ khách và đồng bào trên đường phố Athens. Socrates thuyết phục kẻ đối thoại định nghĩa rõ các khái niệm của họ, nhất là những từ thuộc về đạo đức mà họ thường dùng một cách mơ hồ, và khuyến khích họ đặt những câu hỏi trái quy ước để thăm dò các quan điểm nghịch lý. Những quan điểm này thể hiện niềm tin rằng “cuộc sống không tra xét không đáng để con người sống” (“the unexamined life is not worth living for a man”).

Tuy nhiên, nghịch lý lớn nhất của Socrates chính là Socrates. Chúng ta chỉ biết về ông qua những gì người khác viết. Là một trong những bậc thầy lớn nhất trong lịch sử nhân loại, ông chưa từng viết một quyển sách, không mở trường, không sống bằng nghề dạy học. Phương pháp của ông là luôn luôn nhìn những khái niệm quen thuộc bằng cái nhìn mới, không tự mãn với những định nghĩa sẵn có, tìm kiếm chân lý qua thảo luận, đặt câu hỏi và trả lời để từng bước đi tới đồng thuận. Tóm lại, đó là một phương pháp đơn giản nhưng cơ bản.

Socrates thảo luận nhiều vấn đề, nhưng điều quan trọng nhất trong giảng dạy của ông là cách ông thảo luận hơn là kết luận ông đạt đến. Ông bị Athens xử tội chết vì tỏ ra bất kính các định chế của Athens, vì chế giễu nền dân chủ và đạo đức chung (đáng chú ý nhất là ranh mãnh ngâm các đoạn thơ của Homer), và dạy thanh niên bất tuân lời cha mẹ.

Nền dân chủ và bồi thẩm đoàn Athens gồm 501 công dân khi ấy không thể dung thứ các quan điểm trái quy ước nữa. Sau khi nghe Socrates tự bào chữa, và công tố viên Meletus, Anytus và Lycon buộc tội, 280 người trong bồi thẩm đoàn phán quyết Socrates có tội. Theo luật của Athens, ông có quyền đề nghị một hình phạt nhẹ hơn tử hình. Thoạt đầu, ông từ chối nhượng bộ, nhưng qua lời yêu cầu của Plato và các bạn, ông đề nghị chịu phạt một số tiền tương đối nhỏ 30 minas (3000 USD thời 1960) so với tội, số tiền do các bạn ông đứng ra cam kết. Bồi thẩm đoàn nổi giận và phán quyết lần thứ nhì với 360 phiếu buộc ông phải uống thuốc độc.

Socrates chấp nhận bản án. Dường như ông nghĩ thị quốc có quyền kết án ông. Ông bị buộc tội phóng đại khả năng của luận lý, và chỉ dùng luận lý một cách tiêu cực, nhưng theo ông, vạch trần sai sót và xoá bỏ u mê là bước cần thiết để tìm chân lý. Lời giảng của ông khuyến khích xét lại mọi định chế của con người, nhất là các định chế truyền thống vốn được hiển nhiên chấp nhận của thị quốc.

Sau bản án, Socrates bị giam một tháng vì Athens đang vào dịp lễ, trong thời gian này không được thi hành án tử hình. Crito và các bạn ông đề nghị hối lộ để ông vượt ngục, và có thể chính công tố viên Anytus cũng hy vọng một thoả hiệp như thế. Nhưng Socrates không đồng ý; thay vào đó, ông thảo luận tính chất đạo đức của đề nghị đó và chơi trò luận lý đến phút chót. Học trò và gia đình đến thăm ông trong tù mỗi ngày, Plato tả ông xoa đầu bé Phaedo và nói: “Phaedo, ngày mai ta chắc mớ tóc này sẽ bị cắt” (một hình thức để tang của thời đó). Vợ ông, Xanthippe, vừa khóc vừa bế đứa con nhỏ nhất của họ trên tay. Ông an ủi bà, và yêu cầu Crito đưa bà về nhà. Người học trò trung thành than: “Thầy chết không đáng”. Socrate hỏi lại: “Vậy ngươi cho rằng ta xứng đáng với cái chết chăng?”

*

Trong Phaedo, Plato tả những giây phút cuối của Socrates như sau:

“... ông đứng lên và vào phòng tắm, Crito theo ông và bảo chúng tôi đợi. Chúng tôi ngồi lại nói chuyện, đặt vấn đề với những điều đã bàn, và lại nói đến nỗi bất hạnh lớn lao sắp xảy đến cho chúng tôi. Chúng tôi cảm thấy như sắp mất một người cha và từ nay sẽ mồ côi. Khi ông tắm xong, họ mang các con ông- hai đứa con trai nhỏ và một đứa đã lớn - và các bà trong gia đình ông đến với ông. Trước mặt Crito, ông dặn dò họ những điều ông muốn. Rồi ông bảo các bà và trẻ con ra về, và ông nhập bọn với chúng tôi. Sau khi tắm xong, ông đến ngồi xuống và nói chuyện một lúc ngắn, sau đó viên sĩ quan ban Mười Một đến đứng cạnh ông và nói:

- Socrates, tôi sẽ không trách ông như đã trách kẻ khác. Họ nổi giận và nguyền rủa tôi khi tôi theo lệnh cấp trên bảo họ uống thuốc độc. Trong thời gian ông ở đây, bằng nhiều cách, tôi dần dần biết ông là người quí phái nhất, hoà nhã nhất và tốt nhất trong số người đã đến đây. Vì vậy bây giờ tôi biết ông sẽ không gây khó khăn cho tôi. Ông biết ai chịu trách nhiệm và ông sẽ hướng cơn giận về họ. Ông biết tôi mang tin gì. Giã biệt ông, và chúc ông chịu điều phải đến một cách dễ dàng.

Viên sĩ quan khóc và quay ra. Socrates ngửng nhìn ông ta và nói:

- Giã biệt ông, chúng tôi sẽ làm như ông bảo.

Ông quay sang chúng tôi và nói:

- Anh ta thật dễ thương! Suốt thời gian tôi ở đây, thỉnh thoảng anh ta vào nói chuyện với tôi, anh ta là người hợp ý nhất. Và bây giờ anh ta thành thật khóc cho tôi. Nào, Crito, ta hãy tuân lệnh anh ấy. Nếu thuốc độc đã sẵn sàng, hãy để người ta mang đến; nếu chưa, hãy để họ chuẩn bị.

Crito nói:

- Nhưng Socrates, tôi nghĩ mặt trời còn sáng trên đồi, chưa lặn. Tôi biết có người rất lâu sau khi nhận lệnh họ mới uống thuốc độc. Họ ăn uống, và một số còn gần gũi người yêu nữa. Đừng vội, vẫn còn thời giờ.

Socrates nói:

- Crito, họ làm thế là tự nhiên, vì họ nghĩ như thế có lợi gì đó, nhưng đối với tôi không cần. Tôi chẳng thấy lợi lộc gì nếu uống thuốc độc trễ một chút, ngoại trừ chỉ trở thành khôi hài dưới chính mắt mình vì bám lấy cuộc sống, và cố giữ nó thêm khi chẳng còn gì. Thôi hãy làm như tôi yêu cầu và đừng khước từ tôi nữa.

socrates.jpg

Cái chết của Socrates, tranh Jacques-Louis David

   Nghe thế, Crito gật đầu ra dấu cho gã nô lệ đứng gần ông. Gã nô lệ đi ra, lát sau trở vào với người bào chế thuốc độc mang sẵn thuốc trong chén. Socrates thấy ông ta, ông nói:

- Ôi dào, ông bạn tốt, ông thông thạo việc này, người ta phải làm gì?

- Chỉ uống, rồi đi rảo tới khi chân ông cảm thấy nặng rồi nằm xuống để tự nó làm việc.

Và ông ta đưa chén thuốc cho Socrates, ông vui vẻ nhận lấy không run sợ hay biến sắc, mà nhướng mắt nhìn ông ta như thói quen và hỏi:

- Ông nghĩ sao nếu tôi rưới một ít làm lễ? Có được phép không?

Ông ta nói:

- Chúng tôi chỉ pha vừa đủ.

Socrate nói:

- Tôi hiểu, nhưng người ta được phép, thật ra ta phải thốt lời cầu nguyện thần linh cho chuyến đi từ đây tới chốn xa được may mắn. Đây là lời cầu nguyện của tôi.

Và trong khi nói, ông đưa chén lên uống một cách trầm tĩnh và dễ dàng. Hầu hết chúng tôi có thể cầm nước mắt đến lúc đó, nhưng khi thấy ông uống và sau khi ông uống, chúng tôi không kìm được nữa. Nước mắt tôi chảy đầm đìa khôn cản. Vì thế tôi che mặt. Tôi khóc cho mình - không phải cho ông, nhưng cho nỗi bất hạnh của mình bị tước đi một người đồng chí như thế. Crito không thể ngăn nước mắt và đứng lên thậm chí trước tôi. Apollodorous trước đó đã khóc không ngừng, và lúc này những dòng nước mắt và giận dữ ồn ào của anh ta làm mọi người có mặt oà khóc, ngoại trừ Socrates, ông nói:

- Gì thế này, các bạn lạ lùng của tôi. Chính vì vậy tôi đã đưa các bà ra khỏi đây, để tránh chuyện khó coi, vì tôi biết ta nên chết trong im lặng. Thôi hãy im lặng và tự kìm chế.

Lời ông nói làm chúng tôi xấu hổ và thôi khóc. Ông đi rảo, và khi ông nói nặng chân, ông nằm ngửa lưng như đã được chỉ dẫn. Người đưa thuốc độc sờ thân ông, một lát sau thử bàn chân và chân ông, ấn mạnh bàn chân và hỏi ông có cảm thấy không, Socrates nói không. Rồi ông ấn bắp chân, và lần lên thân mình và cho chúng tôi thấy nó đã cứng lạnh. Ông tự cảm thấy và nói khi lạnh đến tim ông sẽ đi. Khi bụng ông lạnh, Socrates mở khăn che đầu - trước đó ông đã che - và nói - đây là những lời cuối của ông:

- Crito, chúng ta nợ thần Asclepius một con gà cúng, đừng quên.

Crito nói:

- Tôi sẽ làm, hãy nói cho chúng tôi biết còn gì nữa không.

Nhưng không có câu trả lời. Một lúc ngắn sau đó, Socrates cử động, người ta mở khăn che ông và mắt ông cứng đờ. Thấy thế Crito che mắt và miệng mình.

Người đồng chí của chúng tôi chấm dứt cuộc đời như thế, hỡi Echecrates, một người chúng ta có thể nói là tốt nhất trong số tất cả những người chúng ta biết, và cũng là người minh triết nhất và chính trực nhất.”

Tham khảo và lược dịch:

- William Durant, The Story of Civilization - The Life of Greece, Simon & Schuster, New York, 1966.

- G. M. A. Grube, Plato’s Republic, Hackett Publishing Company, Indianapolis, 1974.

- G. M. A. Grube, The Trial and Death of Socrates, Hackett Publishing Company, Indianapolis, 1983.

- J. M. Roberts, A Concise History of the World, Oxford University Press, New York, 1995.

- Bertrand Russell, A History of Western Philosophy, Simon and Schuster, New York, 1972.

 

Categories

Leave a comment

About this Entry

This page contains a single entry by dcvblogs published on October 29, 2007 8:10 PM.

Trong lùm cây was the previous entry in this blog.

Wahington D.C. - Thủ đô tình, tiền, quyền lực is the next entry in this blog.

Find recent content on the main index or look in the archives to find all content.

danchimviet
danchimviet