Tệ nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em
Nguồn tài trợ: NGOs và chính phủ Mỹ

Nguồn: adaptvietnam.org
Tệ nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em
Tệ nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em và dự án ADAPT
![]() |
| Nguồn tài trợ: NGOs và chính phủ Mỹ Nguồn: adaptvietnam.org |
SAN JOSE (California, USA) -ADAPT - viết tắt của An Giang Đồng Tháp Alliance for the Prevention of Trafficking là một dự án nhằm ngăn chận việc buôn bán phụ nữ, trẻ em và bị cưỡng bức hành nghề mãi dâm, trong hai tỉnh sát biên giới Việt-Miên là An Giang và Đồng Tháp. Chương trình này do tổ chức Vòng Tay Thái Bình (Pacific Links Foundation, viết tắt là PALS) với sự hỗ trợ của hai tổ chức phi chính phủ khác - cũng của người Mỹ gốc Việt (Vietnamese American Non-Governmental Organizations viết tắt là VA NGO) ở Hoa Kỳ - là ICAN (International Children Assistance Network), và Đông Tây Hội ngộ (East Meets West Foundation) thực hiện. Được biết, ba tổ chức thiện nguyện này tài trợ khoảng 70 phần trăm ngân khoản hoạt động cho ADAPT, 30 phần trăm còn là tài trợ bởi chính phủ Hoa Kỳ qua cơ quan USAID.
Hôm thứ Bảy, ngày 6 tháng 10 năm 2007, PALS đã tổ chức buổi tường trình những hoạt động của dự án ADAPT trong thời gian vừa qua ở Việt Nam tại Sobrato Center for Nonprofits, 600 Valley Way, Milpitas, CA 95035 từ lúc 2 giờ rưỡi cho đến 5 giờ chiều. Thành phần tham dự ngoài khách Việt Nam, còn có khách ngoại quốc, đa số là người Mỹ ở vùng Bắc California quan tâm đến vấn đề này.
![]() |
| Chị Tuyết Vân đang thuyết trình (giữa), chị Vương Quyên (ICAN) đang thông dịch sang tiếng Anh và chị Lily Linh Phan, ADAPT Development Officer (phải). Hình: Nguyên Hân
|
Theo cô Lily Linh Phan, việc buôn bán phụ nữ và trẻ em để làm nô lệ tình dục xảy ra ở đồng bằng sông Cửu Long không những chỉ có việc bán nạn nhân qua biên giới mà còn bán nạn nhân đi các nơi khác trong nước. Đặc biệt, hiện tượng này gia tăng trầm trọng trong 10 đến 15 năm qua. Lý do được trình bày là do tình trạng nghèo và trình độ học vấn thấp, tình trạng thiếu thông tin của dân chúng sống trong vùng này. Những nạn nhân này được có thể được phân loại như sau:
Loại I: Các em gái dưới tuổi vị thành niên bị bán qua biên giới để làm nô lệ tình dục, có trường hợp nạn nhân chỉ mới 9 tuổi. Đa số nạn nhân bị cưỡng bách hành nghề mãi dâm ở Cam-bốt. Tuy nhiên, Cam-bốt cũng đóng vai trò của trạm chuyển tiếp, vì có nhiều nạn nhân bị chuyển đi Thái Lan, Mã Lai Á (Malaysia), và có trường hợp bị đưa đi tuốt qua Trung Quốc.
Loại II: Phụ nữ bị dụ dỗ lấy chồng nước ngoài, nhưng khi đến nước người thì bị bán. Tiêu biểu cho loại này là hiện tượng lấy chồng Đài Loan và Đại Hàn trong những năm vừa qua.
Loại III: Các em gái dưới tuổi vị thành niên bị dụ dỗ sẽ có được việc làm ở các thành phố lớn ngay trong nước nhưng rồi bị cưỡng bách trở thành gái làm tiền. Đa số nạn nhân bị đưa về hành nghề mãi dâm ở các thành phố lớn như Sài Gòn, Bình Dương và đã có những trường hợp các em bị đưa ra các tỉnh miền Bắc.
Loại IV: Phụ nữ tình nguyện đi ra nước ngoài tìm việc nhưng rồi cuối cùng bị cưỡng bách hành nghề mãi dâm. Hai nơi tiêu biểu cho loại này là Đài Loan và Mã Lai Á (Malaysia).
Theo báo VnExpress đăng ngày 06/24/2004, Cục Cảnh Sát Hình Sự của Việt Nam công bố, năm 2003, có khoảng 1.800 trường hợp phụ nữ và trẻ con (loại I) bị bán sang nước ngoài. Trong đó, 473 người từ tỉnh Thanh Hóa, 350 người từ tỉnh An Giang, 180 người từ tỉnh Nghệ An, 116 người từ tỉnh Tây Ninh Báo VietnamNet Bridge đăng ngày 8/4/2007 cho biết rằng năm 2006, số trường hợp buôn bán phụ nữ và trẻ con được phát hiện tăng 72 phần trăm so với con số của năm 2005, và số nạn nhân trong các vụ phát hiện được này là 140 phần trăm so với năm trước. Việc phát hiện được các tội ác kịp thời tăng mạnh sẽ giúp được nhiều người thoát nạn bị mua bán. Tuy nhiên, khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn ngày càng lớn và điều này có thể sẽ dẫn đến số phụ nữ, trẻ em bị bán qua biên giới làm nghề mãi dâm bị tăng lên.
Đi vào chi tiết tiền thu nhập của nạn nhân, nhân viên của ADAPT đã cung cấp một vài thông tin thu thập được: Nạn nhân hành nghề mãi dâm loại I, thì người bán phụ nữ hoặc trẻ con có thể được trả 200 Mỹ kim. Các nạn nhân nhận được khoảng 2 đồng rưỡi đến 7 đồng rưỡi cho một ngày làm việc, nếu có. Một số em chỉ được cơm ngày hai buổi mà thôi. Thường thì những nạn nhân bị bắt buộc phải bán dâm này luôn luôn bị ở trong tình trạng nợ nần chủ chứa và rất hiếm khi họ dành dụm được chút tiền riêng. Nạn nhân loại II lấy chồng Đài Loan và Đại Hàn, thường thì cha mẹ cô dâu nhận được 400 cho đến 1.500 Mỹ kim, số tiền này phải chia lại với “công ty môi giới dịch vụ”. Sự thực, đã có một vài trường hợp thành công, gặp chồng tốt bụng và khá giả nên ”cô dâu” giúp đỡ được gia đình ở Việt Nam. Chính những sự thành công có tính may mắn này góp phần rất lớn thúc đẩy các em còn đang tại địa phương “thử thời vận một phen”, bên cạnh yếu tố hàng đầu là nghèo và ít học.
Về phương diện nhân quyền, buôn bán phụ nữ là một hành vi xúc phạm nhân quyền trầm trọng, do bóc lột tình dục ở nạn nhân, cưỡng bách lao động, bị giam cầm tại chỗ, bị vướng mắc bệnh tật Và cho dẫu họ có thoát được để về nhà, rất khó khăn cho các nạn nhân này hội nhập với lại đời sống cũ. Theo một bài báo của VietnamNet đăng ngày 12/23/2006 hầu hết những nạn nhân bị lừa sang nước bạn làm gái mại dâm khi trở về đều bị chấn động về mặt tâm lý. Nguyên nhân là do:
“họ bị các chủ chứa hành hạ hết sức dã man. Họ bị nhốt vào trong phòng kín, không được tiếp xúc với các gái mại dâm khác, chỉ được cho một xô nước và buộc phải liên tục tiếp khách. Thông thường mỗi ngày họ phải tiếp ít nhất 6 lượt khách. Nếu không vâng lời, họ bị lực lượng bảo kê của chủ đánh đập hết sức dã man, đặc biệt là những trường hợp bỏ trốn mà bị chúng bắt được, có thể bị chúng cắt đứt gân tay, chân ”
![]() |
| Chị Phương Thảo đang trình bày những hoạt động cụ thể của ADAPT ở vùng Đồng Tháp và An Giang (phải) và chị Diệp Vương đang thông dịch qua tiếng Anh (trái). Hình: Nguyên Hân
|
Buổi tường trình chấm dứt lúc 5 giờ, sau phần hỏi và trả lời. Xin tóm tắt vài câu hỏi và trả lời đáng quan tâm:
Q: Project này có nhận được sự hỗ trợ từ chính quyền Việt Nam hay không?
A: Dĩ nhiên là có sự hợp tác của chính phủ và chính quyền địa phương để tạo điều kiện cho nhân viên ADAPT tiếp cận và giúp đỡ cộng đồng cũng như các nạn nhân và gia đình họ một cách cụ thể và lâu dài hơn.
Q: Tại sao ADAPT Project hình thành và hoạt động hai năm rồi mà cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại không biết để giúp đỡ?
A: Hai năm đầu tập trung vào làm việc. Hôm nay thì cũng chỉ là bước đầu để đem đến thông tin cho cộng đồng vì thật ra chúng tôi không đủ nhân lực và tài chính.
Q: Tâm lý của nạn nhân như thế nào sau khi được đưa về Việt Nam với gia đình sau một thời gian tại nước ngoài?
A: Rất phức tạp và đáng thương. Có vài trường hợp phải đưa họ đến trung tâm học nghề ở chỗ khác nơi mà không ai biết họ để tránh bị chấn thương tâm lý.
Q: Về phương diện tâm lý, ADAPT có chương trình gì để giúp họ tái xây dựng lòng tự tin cho họ?
A: (Phần này do Gs. Oanh trả lời. Gs. Oanh đã tốt nghiệp ở Đại học Wisconsin ngành Xã hội học năm 1958 và là khách mời của PALS tại buổi họp mặt này). Sau năm 1975, ngành công tác xã hội ở miền Nam bị gián đoạn. Khái niệm cán sự xã hội (social worker) biến mất cho đến năm 2004, thì mới chính thức trở lại. Chính vì vậy mà cán sự xã hội thiếu trầm trọng ở Việt Nam. Riêng ADAPT thì không đủ tài lực để thuê những chuyên gia trong lãnh vực tâm lý này. Vì vậy, ADAPT mong mỏi các chuyên gia trong ngành công tác xã hội đóng góp với ADAPT một tay.
Cũng kêu gọi mọi người hãy quan tâm đến vấn đề này, ADAPT trông đợi sự trợ giúp tài chánh cũng như đóng góp công sức để cùng ADAPT làm việc ở Việt Nam. ADAPT đặc biệt kêu gọi nhân sự có kinh nghiệm trong lãnh vực công tác xã hội, thầy cô giáo, những nhà tâm lý học, và sinh viên.
© DCVOnline
website: www.adaptvietnam.org


