Hoài niệm và Mơ ước (Kết)
Hoài niệm và mơ ước (Kết)
Nỗi hoài niệm và những mơ ước ngậm ngùi! Cảm nhận sau khi đọc “Hồi Ký Không Tên” của Chánh Trinh Lý Quí Chung.
Hồ Ngọc Ánh
Ông dân biểu biết dùng quyền của một dân biểu để đi biểu tình - Vui như hội.
Từ cuối năm 1972 trở đi, ông chỉ có hai hoạt động “để nuôi dưỡng tinh thần của mình: dự các buổi họp hằng tuần vào ngày thứ sáu trong nhóm Dương Văn Minh và tham gia các cuộc xuống đường thường do anh Hồ Ngọc Nhuận chủ xướng” (33). Một trong những cuộc xuống đường để lại cho ông nhiều ấn tượng nhất là ngày ký giả đi ăn mày, xảy ra vào ngày 10 tháng 10 năm 1974. Theo ông, do sự ra đời của sắc luật 007/72 mà làm cho hai tổ chức báo chí:
Nghiệp đoàn ký giả Nam Việt và nghiệp đoàn ký giả Việt Nam xích lại gần nhau. Và“ngày ký giả đi ăn mày, đã do 4 tổ chức báo chí ở Sài Gòn tổ chức. Đó là Hội chủ báo, Nghiệp đoàn ký giả Nam Viêt, Nghiệp đoàn ký giả Việt Nam, và Hội ái hữu ký giả. Buổi xuống đường quy tụ nhiều nhà báo tên tuổi, và nhiều dân biểu đối lập với chính quyền Thiệu, đã bị cảnh sát của Thiệu đàn áp thẳng tay”. Nhưng theo ông Chung,“ngày ký giả đi ăn mày đã được tổ chức rầm rộ và gây một ảnh hưởng trong dư luận. Cả hai đài VOA và BBC nhìn nhận đây là cuộc biểu tình lớn nhất kể từ 3 năm qua. Có một chi tiết thú vị là cũng đêm đó, “hậu ký giả đi ăn mày”, dân biểu bác sĩ Đinh Xuân Dũng, đơn vị Bình Thuận đã bị cảnh sát đánh ngay trước mặt Hạ viện và bắt bỏ lên xe đưa đi. Sau khi ông dân biểu Dũng được thả về, nhóm dân biểu đối lập bí mật băng bó ông Dũng kín mít như đang ở trong tình trạng nguy kịch rồi khiêng ông trên băng ca đến Tòa án Sài Gòn trên đường Công Lý để kiện.” (34). Nhưng cuối cùng bị hàng rào concertina chận lại, mà đoàn biểu tình không đến được mục tiêu, phải trở lại Hạ viện.
Cũng trong thời gian này, ông tham gia Lực lượng Hoà giải Dân tộc, ông tổ chức một buổi hội thảo về Hiệp định Paris ở chùa Ấn Quang, hợp tác cùng với“Tổ Chức Đòi Thi Hành Hiệp Định Paris” do Luật sư Trần Ngọc Liễng đứng đầu để tăng khí thế. Một trong những lần hội thảo ở chùa Ấn Quang này, chùa bị lực lượng cảnh sát dã chiến của chính quyền tấn công, bắn phi tiễn hơi cay, hơi ói vào chùa. Ông phải chạy thoát bằng ngõ sau. Do nhảy từ bờ tường xuống, ông bị thương ở chân, phải đi cà nhắc.“Ngay hôm sau Hạ viện họp phiên họp khoáng đại. Có tin các dân biểu đối lập lại tổ chức biểu tình nên cả khu trung tâm thành phố bị cô lập. Chiếc ô tô chở tôi đi họp bị chận lại trên đường Tự Do, ở ngã tư Lê Thánh Tôn. Tôi không thèm đôi co với toán cảnh sát chốt ở ngã tư này, tôi bước xuống xe với hai cây nạng kẹp bên người, đi bộ đến Hạ viện. Ông cho rằng,“đây là một cách tố giác cảnh sát Thiệu đàn áp cuộc hội thảo hôm qua tại chùa Ấn Quang. Dĩ nhiên truyền hình nước ngoài đã không bỏ lỡ dịp ghi hình một dân biểu đi họp với hai cây nạng
”(35). Ông chính thức trở lại các buổi họp của Hạ viện sau khi Hiệp định Paris được ký kết.
Chao ôi,“trước những bất công, những việc làm phi dân chủ, độc tài của chính quyền Sài Gòn”, và tuy rằng,“Quốc hội Sài Gòn khi ấy không khác gì một nhà hát hài kịch rẽ tiền và lố lăng” ông đã vẽ lại cho thấy một hình ảnh sinh hoạt chính trị dân chủ tuy còn non trẻ ở miền Nam trước đây, mà mãi đến hôm nay (2006), nó vẫn chỉ là một giấc mơ đời hư ảo trên đất nước Việt Nam thống nhất dưới chế độ cộng sản toàn trị!
“Đi tìm một chân trời mới” cho một Lý Quí Chung - Một trí thức, và một nhà báo.
Trong chương 8, “Đi tìm một chân trời mới”, ông nói rằng: “người trí thức không còn là mình và đánh mất sự hiện diện của mình trong xã hội sẽ trở thành vô nghĩa và thậm chí đáng lên án nếu sự có mặt của mình chỉ để chấp nhận những gì đã có sẵn và thụ động trước một trật tự đã được thiết lập. Người trí thức phải biết và dám thúc đẩy sự thay đổi tiến lên trong lãnh vực mình hoạt động và đi xa hơn nữa tự trao cho mình sứ mạng và trách nhiệm tìm lời giải đáp cho các bế tắc xã hội” (36). Cũng như trước đó ông đã từng nói “nghề báo không thể tách rời các cuộc đấu tranh cải tiến xã hội, bảo vệ dân chủ và lẽ phải. Một nhà báo dứt khoát phải là một trí thức dấn thân” (37). Và cũng từ đó, ông “thấy rằng chính quyền của ông Thiệu là một cản trở cho hòa bình và thống nhất của đất nước mặc dù Hiệp định Paris đã được ký, hàng loạt hoạt động ủng hộ Hiệp định, tấn công nhằm lật đổ Tổng thống Thiệu được các thành phần đối lập đồng loạt tiến hành”. Như là một thành phần của Lực lượng Hòa giải Dân tộc, ông hoạt động tích cực năng nỗ trong vai trò này, và trong giai đoạn này. Ông đã đến miền Trung, Huế, Đà Nẵng
để vận động quần chúng gây áp lực chính quyền miền Nam thi hành hiệp định Paris (32). Cũng như ông thừa nhận,“phản ứng của các giới chống đối chế độ như chúng tôi được nhiều người biết đến chỉ có một tác động hạn chế”. Nên ông nghĩ đến chuyện lôi kéo các quân nhân và công chức của chế độ Sài Gòn tham dự với nhóm ông. Đó là trường hợp của Trung sĩ Vũ Đạt. Ông Đạt “muốn đấu tranh cho hòa bình đất nước. Tổng thống Thiệu với chính sách hiếu chiến là một cản trở để đi đến hòa bình
” Ông LQC đã dàn xếp và thông báo sẵn cho báo chí nước ngoài. Đúng ngày đúng giờ hẹn, ông LQC cho trung sĩ Vũ Đạt ngồi trước thềm cửa chính Hạ viện (nhà hát lớn thành phố bây giờ).“Tôi (LQC) đưa tay lên hướng về phía Salon-Café Caravelle ra hiệu cho báo chí nước ngoài. Tức khắc họ tràn sang.” Trước một hàng phóng viên báo chí nước ngoài, ông Trung Sĩ Đạt tuyên bố “bất tín nhiệm Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu”. Ngay sau đó, cảnh sát canh chừng khu vực Hạ viện nhào vào bắt ông Trung sĩ Đạt, nhưng những người tổ chức đã nhanh chân đưa ông vào bên trong Hạ viện. Vì không được lệnh, nên cảnh sát không dám xâm nhập nơi làm việc của các ông dân biểu. Ông tận dụng chức năng và quyền lợi dân biểu của mình để thỏa mãn cái ước muốn của mình. Nhưng không thấy, cái nguyện vọng của người bỏ phiếu cho ông được đề cập ở bất cứ đâu trong tập hồi ký! Ông tái tranh cử năm 1971 với dấu hiệu“ngôi sao và bó lúa”, đại diện cho dân lao động thợ thuyền trong khu vực ông tranh cử, không biết ông hẹn gì với cử tri của ông, và họ hy vọng gì ở ông như một người dân biểu, đại diện cho họ ở Quốc hội, thì “về phần mình, từ năm 1973, tôi dứt khoát đi tìm một chân trời mới. Tôi đã quyết định tách khỏi bến bờ cũ mà tôi mất hết niềm tin cho tương lai của đất nước và cho cả cuộc sống của chính mình. Nhưng bến bờ mới vẫn còn xa lạ, chỉ là một vầng sáng ửng lên ở cuối chân trời
”(39).
Rất tiếc không đâu trong“Hồi ký không tên”, thấy ông đề cập lại vai trò trí thức và nhà báo của ông sau ngày đất nước thống nhất, ở cái giai đoạn lịch sử đất nước cực kỳ cần những“trí thức dấn thân có trách nhiệm tìm lời giải đáp cho các bế tắc xã hội, và những nhà báo không thể tách rời các cuộc đấu tranh cải tiến xã hội, bảo vệ dân chủ và lẽ phải. Một nhà báo dứt khoát phải là một trí thức dấn thân”. Đã sống trong chế độ CS, tôi nghĩ rằng guồng máy bạo lực chuyên chính vô sản sẵn sàng nghiền nát những ai có manh tâm“dấn thân” trong chế độ của họ, cho dù chỉ có trong đầu. Nhưng tôi thắc mắc ông Chung nói chi đến cái điều mà ông đã từng làm “như một trí thức dấn thân trước 1975”, và lại im hơi lặng tiếng suốt 30 năm sau ngày đất nước thống nhất, khi chủ nghĩa duy ý chí và căn bệnh tự mãn của Đảng CSVN lôi tuột cả một đất nước đi vào lầm than và phân hóa?
Có cần thiết không, để viết lại hồi ký của chỉ một nữa đời người - chính xác hơn là mười năm hoạt động như một trí thức đối lập ở miền Nam từ 1965-1975 - và một nữa sau - 30 năm từ ngày đất nước thống nhất cho đến ngày “Hồi ký không tên” ra đời - là một sự “im lặng thở dài”?
Ông Bộ trưởng 48 giờ - Một kết thúc lãng mạn.
Đầu tháng 4 năm 1975, ông Dương Văn Minh và nhóm ủng hộ ông họp bàn chuyện thay thế ông Thiệu ở Dinh Hoa Lan. Cuộc họp báo chính thức để nhóm ông Minh tuyên bố với báo chí xảy ra ngay sau đó ở Đường Sơn Quán, một nhà hàng đặc sản nằm giữa một đồn điền cao su trên xa lộ Đại Hàn. Ngày 21 tháng 4 năm 1975, ông Tổng thống Thiệu từ chức sau khi lên truyền hình đọc một bài diễn văn nảy lửa, có cả nước mắt chan hòa! Ông phó Tổng thống Trần Văn Hương lên chức Tổng thống mới của VNCH. Trong cảnh bát nhốn bát nháo này, cả hai ông Đại sứ Pháp và Mỹ áp lực ông Hương từ chức nhằm đưa ông Dương Văn Minh lên, với hy vọng là “được Hà Nội chấp nhận đối thoại”. Tối ngày 26 tháng 4 năm 1975, lưỡng viện Quốc hội được triệu tập để quyết định người thay quyền Tổng thống Trần Văn Hương. Cuộc biểu quyết truất quyền ông Hương và trao quyền cho ông Minh được thực hiện với số phiếu gần như tuyệt đối 147/151 (40). Lễ nhậm chức của tân Tổng thống Dương Văn Minh xảy ra sau đó hai ngày, vào chiều ngày 28 tháng 4 năm 1975. Cũng trong ngày 28 đó, ông LQC được chính thức bổ nhiệm làm Tổng trưởng Bộ Thông tin Chiêu hồi trong chính phủ của Tổng thống Dương Văn Minh. Ngay sau khi nhậm chức, ông LQC đổi tên bộ này thành Bộ Thông tin, bỏ hai chữ chiêu hồi (41). Ngày 29 tháng 4, ông Chung lên truyền hình, mặc dù không có bằng chứng gì để bảo đảm lời nói của mình, ông vẫn “mạnh dạn cam đoan rằng sẽ không có một trận đánh đẫm máu cuối cùng như cả Sài Gòn đang lo sợ” (42). 11 giờ 30 sáng ngày 30 hôm sau, chiếc tăng T-54 của quân giải phóng xuất hiện ở đại lộ Thống Nhất. Chỉ ít phút sau, tiếng chân người vang dội trong đại sảnh (dinh Độc Lập), có cả tiếng khua vũ khí và tiếng đạn lên nòng (43). Mọi người được lệnh ra khỏi phòng, cùng lúc với lệnh “đưa hai tay lên đầu”. Ông
![]() |
| Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu đi từ dinh Độc lập ra đài phát thanh Sài Gòn tuyên bố đầu hàng (trưa ngày 30/4/1975) Nguồn: tienphongonline.com.vn |
Tổng thống Dương Văn Minh đi trước, thiếu tá tùy viên Hoa Hải Đường đi bên cạnh, tiếp theo là Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, ông Bộ trưởng Thông tin LQC cùng mọi người đều đưa hai tay lên đầu bước ra đại sảnh. “Trong lúc hai tay tôi vẫn dơ cao trong tư thế của người đầu hàng. Nước mắt tôi trào ra, tôi khóc vì qúa sung sướng thấy cuộc chiến tranh kéo dài triền miên trên quê hương mình đã kết thúc.” (44) Và chính ông là người đã dẫn Đại úy Bùi Quang Thận, người chỉ huy chiếc xe tăng mang số hiệu 843, lên sân thượng dinh Độc Lập để hạ lá cờ của chế độ Sài Gòn, thay vào đó là lá cờ Mặt trận Giải phóng miền Nam. Sau đó, khi phe giải phóng mời hai ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu đến đài phát thanh để thảo và đọc bản tuyên bố đầu hàng, ông LQC đi theo trên một chiếc xe khác, với những nhà báo người Đức. Khi đến đài phát thanh, thì ông Minh và ông Mẫu đã đến và vào trước. Khi xe ông Chung đến, một nhân vật hoạt động nội thành cho mặt trận là ông Nguyễn Hữu Thái (người ám sát ông Giáo Sư Nguyễn Văn Bông ở Sài Gòn trước đây, năm 1971) (45) và hai thanh niên lạ mặt khác bảo ông: “Anh về đi, khi nào có bộ phận chính trị vào sẽ liên lạc lại” (46). Một lời nói vu vơ, nhưng cũng xem như một tuyên cáo của chính quyền mới “giải nhiệm” chức Bộ trưởng của ông. Tính từ lúc nhậm chức Tổng trưởng Thông tin cho đến ngày ông thôi chức, tổng cộng chưa tới 48 tiếng đồng hồ.
Và như thế, ông đi bộ về nhà. Cổ còn mang cà-vạt, một tay cầm áo vét, một tay cầm xách da chứa đầy một “đống giấy lộn”. Đó là toàn bộ “số tiền phụ cấp hàng tháng rất là cao trong xã hội của một dân biểu nghị sĩ” mà ông đã lãnh một ngày trước đó ở Hạ nghị viện. (47).
“Có thật không, có một thời như thế?”
Năm 1981, đang là sinh viên năm thứ tư Y Khoa ở trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, người viết đỡ đẻ cho bà chị con bác để lôi thằng cháu trai ra đời ở Bệnh viện Hùng Vương Sài Gòn. Năm 2004, Cường - tên của cháu - tốt nghiệp Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, và hiện đang làm một chuyện không dính dáng gì đến luật ở Sài Gòn. Tháng tư năm 2006 này, sau khi cháu Cường vừa đọc xong cuốn “Hồi ký không tên”, cháu vội vàng gọi tôi qua số điện thoại cầm tay:
- “Có thật không cậu, đất nước mình có một thời như thế, khi người ta có quyền ra báo, có tự do ứng cử và bầu cử vào Quốc hội, có đại biểu Quốc hội đi biểu tình chống chính quyền mà không bị tù
”
Sau này khi lớn lên, tôi có điều kiện để đọc và tìm hiểu thêm về hai chế độ đệ nhất và đệ nhị cộng Hòa ở miền Nam trước ngày đất nước thống nhất, tôi hiểu đủ để ngán ngẫm cho cả hai tập đoàn lãnh đạo gia đình trị và quân phiệt này ở miền Nam. Nhưng trước câu hỏi của cháu, tôi trả lời với sự hiểu biết của tôi, một cách thành thật:
- “Vâng, một nữa nước Việt Nam của mình đã có một thời như thế.”
Cháu hỏi tiếp, giọng sôi nổi:
- “Liệu đất nước mình sẽ có lại một sinh hoạt chính trị dân chủ như thế, cho dẫu nó son trẻ, quặt què như năm xưa?”
Đưa ngón trỏ của bàn tay trái bịt lỗ tai trái của mình, còn tay phải thì dí sát cái điện thoại di động vào tai phải, tôi nói như hét rằng tôi hứa với cháu sẽ trả lời khi vào lại Sài Gòn, bởi tôi chợt xúc động với cách đặt vấn đề của cháu; mà hơn nữa, tôi không nghe rõ. Lúc đó, tôi đang thả bộ bên bờ sông Hoài, ở phố cổ Hội An, rất gần với cái loa công cộng treo trên cột điện đang đọc oang oang danh sách những người vừa đắc cử vào Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng cộng sản Việt Nam. Đó là trưa ngày 26 tháng 4 năm 2006, ngày sau hôm bế mạc Đại Hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X ở Hà Nội. Tính ra, chỉ thiếu vỏn vẹn có năm ngày, là đúng trọn 31 năm ngày chiến tranh chấm dứt trên đất nước Việt Nam, và quê hương thống nhất.
Bởi lẽ đó, tuy có nhiều điểm cá nhân tôi không đồng ý với ông Lý Quí Chung qua cuốn hồi ký của ông, nhưng tôi vẫn cám ơn ông. Bởi qua cuốn hồi ký của ông, đã để cho thế hệ đàn em và cháu của ông, nhất là những người sinh trưởng ở Việt Nam sau ngày đất nước thống nhất, có được một cái nhìn về cái thời ông sống, và sinh hoạt chính trị ở miền Nam trước đây. Biết, để so sánh. Biết, để hy vọng và dấn thân giùm ông, như lời ông nói trong hồi ký của mình: “người trí thức không còn là mình và đánh mất sự hiện diện của mình trong xã hội, sẽ trở thành vô nghĩa và thậm chí đáng lên án nếu sự có mặt của mình chỉ để chấp nhận những gì đã có sẵn và thụ động trước một trật tự đã được thiết lập. Người trí thức phải biết và dám thúc đẩy sự thay đổi tiến lên trong lãnh vực mình hoạt động và đi xa hơn nữa tự trao cho mình sứ mạng và trách nhiệm tìm lời giải đáp cho các bế tắc xã hội. Sự tìm kiếm đó có thể thành công hay thất bại, nhưng cái chính là dự dấn thân” (48), và “nghề báo không thể tách rời các cuộc đấu tranh cải tiến xã hội, bảo vệ dân chủ và lẽ phải. Một nhà báo dứt khoát phải là một trí thức dấn thân” (49). Hơn bao giờ hết, đất nước hôm nay dưới chế độ độc tài Đảng trị của ĐCSVN, cần biết bao những trí thức dám dấn thân như lời tâm sự thiết tha của ông LQC, mà suốt ba mươi năm sau ngày đất nước thống nhất, với ông, đó vẫn chỉ là một hoài niệm của một thời ông hoạt động như thỏ giỡn trăng ở Sài Gòn trước 1975; và với thế hệ sinh sau 1975, trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta hôm nay, một sinh hoạt chính trị dân chủ tuy còn son trẻ và quặt què kia vẫn thuần là một niềm mơ ước đầy ngậm ngùi!
Tháng 5, 2006
Xem Xin xem phần I; Xin xem phần II
Copyright © 2006 DCVOnline
(33) “Hồi Ký Không Tên”, tác gỉa Chánh Trinh Lý Quí Chung, nhà xuất bản Trẻ, in và phát hành vào tháng 12, năm 2005, trang 248.
(34) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 253.
(35) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 287.
(36) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 289.
(37) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 48.
(38) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 290.
(39) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 300.
(40) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 367.
(41) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 377.
(42) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 381.
(43) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 407.
(44) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 408.
(45) “Mây Mùa Thu”, (Autumn Cloud), tác gỉa Jackie Bong-Wright, nhà xuất bản Capital Books, Inc. In và phát hành năm 2001. Đoạn liên quan đến cái chết của Giáo Sư Nguyễn văn Bông được đề cập đến trong trang 156 đến 161. Ở trang 161, dòng 18, bà kể sau khi ông Martin Herz, Đại Sứ Hoa Kỳ ở Bulgaria, người đã từng làm cố vấn chính trị cho Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn năm 1970, xác nhận với bà trong lần gặp gỡ ở Washington, DC năm 1972, rằng chính Việt Cộng đã giết chồng bà. Đoạn này bà Jackie viết như sau: “Cũng giống như ông Martin, tôi tin là Việt Cộng giết Bông. Điều này đã được xác định năm 1976 trong cuốn sách mang tựa đề Giải Phóng, được viết bởi nhà báo Ý tả khuynh Tiziano Terzani, người đã ở lại Sài Gòn trong thời gian Việt Cộng chiếm Sài Gòn. Ông đã phỏng vấn những người anh em cộng sản của mình, những người này đã hãnh diện cho biết là họ ra lệnh cho những đồng chí của mình, trong đó có Nguyễn Hữu Thái, giết Bông.” Sđd, trang 161.
(46) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 411.
(47) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 411, 414.
(48) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 289.
(49) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 48.

