Hoài niệm và Mơ ước (II)
Hồ Ngọc Ánh
Hoạt động đối lập với chính quyền Sài Gòn - Thỏ giỡn trăng.
![]() |
| Hoạt động đối lập với chính quyền Sài Gòn - Thỏ giỡn trăng Nguồn: ml.hss.cmu.edu |
Trong những ngày đầu ở Quốc hội, ông tự thừa nhận hành tranh chính trị của ông hầu như chẳng có gì, vì chưa từng trải qua một ngày học luật và chưa từng có những hoạt động chính trị đúng nghĩa. Nhưng ông thấy rõ rằng, đây là một Quốc hội làm hiến pháp, nhưng trước hết nó phải là diễn đàn của dân, vì dân và tiếng nói quan trọng nhất đối với một dân biểu trên diễn đàn Quốc hội vào thời điểm đó nhất thiết là tiếng nói đấu tranh cho dân chủ và công bằng (10). Hồi ký không đề cập ông hứa hẹn với cử tri của ông là sẽ làm gì cho họ sau khi đắc cử, và cũng không thấy ông đề cập đến những thành tựu ông mang đến cho cử tri của ông suốt ba nhiệm kỳ ở Quốc hội.
Trong thời gian ở Quốc hội Sài Gòn, ông làm trưởng khối Dân tộc,“là khối dân biểu đối lập đầu tiên trong Quốc hội Sài Gòn, do lập trường chống chính quyền quân sự và chống chiến tranh” (11). Với tư cách là Trưởng khối dân tộc, ông đã được mời thuyết trình về dự thảo hiến pháp cho lớp cao học (ngành đốc sự) ở Học viện Quốc gia Hành chánh, được Tổng hội Sinh viên Sài Gòn mời tham dự cuộc hội thảo về tình hình miền Nam và Quốc hội Lập Hiến cùng với Linh mục Nguyễn Ngọc Lan. Qua những hoạt động đối lập với chính quyền Sài Gòn trong thời gian này, mà ông được tái đắc cử vào Quốc hội lập pháp năm 1967. Theo ông, là “bởi phần nhiều các báo đều dành thiện cảm cho các dân biểu đối lập và tỏ ra coi thường các phần tử thân chính quyền mà họ gọi là ‘gia nô’”. Tuy nhiên, ông cho hay, trong thời gian ông Phan Khắc Sửu là chủ tịch Quốc hội, “cụ (PKS) tương đối giữ được tư cách của một nhân sĩ có tinh thần dân tộc và không chịu bán mình cho chính quyền dù phải luôn đối phó với nhiều áp lực” (12).
Trong gần suốt hai thập niên 60 và 70, ông “mò mẫm” con đường đi giữa một chính trường Sài Gòn cực kỳ hỗn loạn. Ông tự vạch cho mình một con đường đi, mà theo ông, “với một thứ ánh sáng duy nhất xuất phát từ con tim: đó là lòng yêu nước rất đơn sơ với mong muốn Tổ quốc của mình được độc lập, hòa bình và thống nhất. Trước mắt, sự can thiệp của người Mỹ phải chấm dứt, người Việt Nam yêu thương nhau và nước Việt Nam phải là của người Việt Nam” (13).
Ngay sau khi hiến pháp vừa được ban hành vào ngày 18 tháng 3 năm 1967, cuộc chạy đua giành ảnh hưởng giữa hai ông Thiệu và Kỳ diễn ra ráo riết. Khi ông Kỳ quyết định rút lui không ứng cử Tổng thống nữa thì Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia đề nghị ông Kỳ đứng phó trong liên danh ứng cử của ông Thiệu “để giữ sự đoàn kết trong quân đội”. Như vậy, lần ứng cử Tổng thống này, ngoài liên danh Thiệu Kỳ, có 10 liên danh khác của các nhân sĩ và đảng phái ghi danh ứng cử. Trong các liên danh dân sự, có liên danh của ông Trần Văn Hương (14). Kết qủa là liên danh Thiệu-Kỳ về đầu trên toàn miền Nam với 35% số phiếu. Theo hiến pháp, kết qủa bầu cử này phải được Quốc hội hợp thức hóa. Đây là lo âu không nhỏ cho ông Nguyễn Văn Thiệu và các phe nhóm của ông (15).
Vì lẽ đó, ông Thiệu vận động ông Lý Quí Chung như là trưởng khối Dân tộc bỏ phiếu hợp thức hóa sự đắc cử của ông Thiệu. Ông Thiệu đã mời ông LQC đến nhà riêng của mình để vận động, nhưng ông Chung từ chối. Ông còn kể thêm ông Thiệu đề nghị ông Chung cứ công khai giữ vững lập trường của mình, nhưng khi bỏ phiếu kín, thì xin ông Chung bỏ phiếu hợp thức hóa kết qủa bầu cử. Ông Chung đã trả lời thẳng thắn là ông từ chối làm điều này. Nhưng cuối cùng, Quốc hội lập hiến đã hợp thức hóa sự đắc cử của liên danh Thiệu-Kỳ với 58 phiếu thuận và 43 phiếu chống.
Cuối năm 1967 này, ông tái đắc cử vào Quốc hội lập hiến một lần nữa. Và khẩu hiệu tranh cử của ông lần này là “một miền Nam trung lập trong một Đông dương trung lập”. Như đã đề cập đến trong phần mở đầu, có lẽ là một sự cố ý khi trong “Hồi ký không tên”, người ta đã bỏ đi hai chữ cộng sản. Bởi tấm hình in hai áp phích vận động bầu cử của ông ngay ở trang 109 mà độc giả có thể đọc được rõ ràng là “1 Miền Nam Trung Lập Không CS Trong Một Đông Dương Trung Lập”. Nhưng trong hồi ký, khẩu hiệu này bị đục bỏ hai chữ Không CS, để chỉ còn lại: “1 Miền Nam Trung Lập Trong Một Đông Dương Trung Lập” ở trang122? Để theo đuổi lập trường hòa bình của ông lúc đó, sau khi ông đắc cử, ông gởi thư đến một số nhà lãnh đạo Châu Á như Thủ tướng Malysia Tengku Abdul Rahman, Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu, Thủ tướng Nhật bổn Sata yêu cầu họ hỗ trợ giải pháp này (16). Trong nhiệm kỳ Hạ nghị viện 1967-1971, ông Chung cho hay phe đối lập với chính phủ Sài Gòn có hai tờ báo hàng ngày khá mạnh về số lượng phát hành. Đó là tờ Tin Sáng của dân biểu Ngô Công Đức, và tờ tiếng nói Dân Tộc do chính ông LQC làm chủ nhiệm kiêm chủ bút.
Tháng 8 năm 1971, ông LQC ra ứng cử dân biểu Hạ nghị viện lần thứ ba và đắc cử thêm một lần nữa. Trong thời gian vận động bầu cử này, ông có một tuyên bố trên đài truyền hình và cả trên báo chí rất dứt khoát: “Tôi đắc cử Hạ nghị viện và sau đó ông Nguyễn Văn Thiệu cũng đắc cử tổng thống trong cuộc bầu cử độc diễn, thì tôi sẽ từ nhiệm và rút ra khỏi Hạ nghị viện để phản đối cuộc bầu cử không dân chủ của ông Thiệu.” (17) Hai tháng sau đó, tức tháng 10 cùng năm 1971, ông Thiệu đắc cử Tổng thống qua một cuộc bầu cử “độc diễn” độc đáo và trơ trẽn không khác chi bầu cử theo thể thức “Đảng chọn dân bầu” dưới chế độ CS sau này. Đã lỡ tuyên bố với cử tri, ông LQC không còn con đường nào khác hơn là “lên diễn đàn Quốc hội đọc lá thư gởi cho Chủ tịch Hạ nghị viện chính thức xin từ nhiệm, thực hiện đúng lời tuyên bố của mình khi ra tranh cử”. Đơn từ nhiệm không được Chủ tịch Hạ nghị viện chấp thuận với lý do đơn giản: nhiệm kỳ dân biểu do nhân dân ủy thác bằng lá phiếu, do đó Chủ tịch Hạ nghị viện không có thẩm quyền giải quyết sự từ nhiệm của người đắc cử. “Dù không được chính thức từ nhiệm, tôi vẫn giữa quyết định ‘tẩy chay’ Quốc hội của Nguyễn Văn Thiệu” (18). Và như vậy, tuy mang tiếng là dân biểu trong thời gian này, ông không còn tham gia hoạt động hội họp gì với Quốc hội nữa. Thay vào đó, ông đi làm cái việc mà ông thích: làm báo và bên cạnh đó, “tham gia cả việc bưng bê các thức ăn cho khách”, cho tiệm ăn do ông ta mở, vợ ông qủan lý và phụ trách bếp (19), rồi
chơi quần vợt. Ông hãnh diện khoe tuy mình mới bắt đầu chơi quần vợt từ cuối năm 1971, nhưng ông “tiến rất nhanh trong thời gian “tẩy chay” Hạ nghị viện,“rãnh rỗi nên ngày nào tôi cũng vào Xẹt Tây đánh quần vợt. Tôi chơi ba năm tiến bằng người ta chơi sáu năm”! (20). Trong chương“những tháng ngày tưởng như bế tắc
” đó, ông sống như Tây,“mỗi sáng tôi vào Xẹt Tây ăn sáng, đánh quần vợt cho tới trưa, rồi sang hồ bơi ăn cơm trưa và xuống hồ bơi
phơi nắng cho đến chiều tối mới về nhà” (21).
Tuy vậy, trong thời gian này, là “thời gian thật chán nản đối với tôi. Bỗng chốc nhận ra sự bất lực của hoạt động chính trị nghị trường và thân phận làm ‘đối lập kiểng’ của mình. Tôi cảm nhận mình không khác gì một con gà bị trụi lông” (22). Cũng trong thời gian này, sau khi ông Thiệu đắc cử Tổng thống qua màn độc diễn, ông Thiệu bắt đầu cũng cố quyền lực của mình “tăng cường các biện pháp siết chặc phe đối lập, đồng thời tiến hành triệt để đàn áp, bắt bớ các phần tử bị coi là thân cộng”. Nên, “trong tình hình bế tắc ấy, các thành phần chống Thiệu không còn sự chọn lựa nào khác là phản đối chính quyền bằng cách xuống đường biểu tình, làm báo nói, tổ chức báo nói
” Và như thế, nhằm cái lúc rãnh hơi, và chán nản ngay cái cảnh ăn sáng, chơi quần vợt, phơi nắng đã đời ở Xẹt Tây, ông trở lại hoạt động bằng cách tham gia rất nhiệt tình các cuộc xuống đường, tổ chức báo nói của các bạn đồng viện của ông. Như ông nói,“tôi không bao giờ vắng mặt” (23).
Nhiều cuộc biểu tình được tổ chức bởi các dân biểu đối lập trước Quốc hội đã bị cảnh sát dã chiến của chính quyền ông Thiệu đàn áp. Cũng như nhiều lần đi làm “báo nói” (cầm microphone chạy bằng pin và nói trước công chúng, thường là các đầu chợ, khi chợ còn buôn bán đông đúc), cũng đã bị cảnh sát địa phương “làm khó dễ”, bằng cách áp tải cả đoàn dân biểu đối lập đang đi làm báo nói đi qua địa phận khác không còn là trách nhiệm của mình, rồi “thở phào nhẹ nhõm khi thấy ô tô của chúng tôi đã lên phà. Cảnh sát Cần Thơ coi mình đã làm xong phận sự. Bên kia bờ thuộc trách nhiệm của cảnh sát Vĩnh Long” (24). Cách làm báo nói này không những chỉ xảy ra ở miền Tây, mà ngay cả “sau khi Hiệp định Paris đã ký kết, chúng tôi mang tận ra Huế ‘diễn’ rất thành công ngay tại chợ Đông Ba” (25).
Tháng 8 năm 1972, ông Tổng thống Thiệu ký sắc luật 007, khiến cho 16 tờ báo ngày và 15 tờ báo định kỳ phải đóng cửa. Ông Chung giải thích thêm, “sắc luật 007/1972 này bắt buộc mỗi tờ báo phải đóng ký qũy 20 triệu đồng (lúc ấy tương đương 47000 đô-la), còn báo định kỳ thì 10 triệu. Nếu không nạp đủ số tiền đó, thì báo bị rút giấy phép” (26). Chính cái sắc luật quái gỡ này làm điêu đứng giới báo chí miền Nam lúc đó. Tờ Bút Thần của ông LQC cùng chung số phận, phải đóng cửa sau đó. Nhưng“trong số báo Bút Thần cuối cùng, ngoài sự lên án sắc luật 007/72 dành độc quyền ra báo cho những kẻ giàu có - báo chí của giai cấp tư bản - tôi còn có một tuyên bố trong bài xã luận: vĩnh viễn không cầm viết nữa. Thế là sau khi tẩy chay Quốc hội - không đi họp nữa - tôi ‘tẩy chay’ viết!” Để “nhiều năm sau nhìn lại, tôi vẫn không biết mình có những quyết định đó đúng hay sai” (27).
Trong giai đoạn này, ông không đứng về phía cộng sản, bởi theo ông, “lý do đơn giản là ông không biết gì về người cộng sản”. Ông cũng không tự cho mình là thành phần “quốc gia”, bởi ông cho chế độ Sài Gòn không đại diện cho nhân dân miền Nam, phản dân chủ và hoàn toàn không có khả năng bảo vệ chủ quyền đất nước (28). Nên ông tự dịch mình vào giữa, và tự gọi mình là người Việt cô đơn. Với ông, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng là người Việt cô đơn, người Việt đứng giữa như ông (29). Tuy nhiên vào năm 1974, khi ông cho rằng “tình hình gần như bế tắc đối với giới thanh niên trí thức tiến bộ, kể cả phần tử đối lập”, ông có bàn với ông Dương Văn Ba “tìm cách liên lạc với Mặt trận Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) và chọn hẳn con đường hoạt động bí mật”. Nhưng cả ông và ông Ba chẳng ai biết cách nào để liên lạc với MTGPMN (30). Mặc dù ông thừa nhận, sự hiểu biết về Hồ chủ tịch và MTGPMN rất trễ tràng và ít ỏi. Cũng may cho ông chưa gia nhập MT trong thời gian đó, nên ông không bị “bay hơi” theo cái Mặt trận hữu danh vô thực này. Vì vậy, khi các ông Trương Như Tảng, Đoàn Văn Toại
phải vượt biên năm 1977, bà Bs Dương Quỳnh Hoa chính thức trả lại thẻ đảng năm 1979, thì ông LQC vẫn ung dung viết báo ở Sài Gòn!
Tuy vậy, ông đã không giữ lời hứa“tẩy chay viết” này lâu. Sau khi nghĩ viết một thời gian ngắn, ông đồng ý hợp tác với tờ Dân Tộc, nhưng cũng chỉ trong một thời gian ngắn. Cuối cùng, ông trở lại cầm bút theo lời mời của ông Lý Chánh Trung và Dương Văn Ba khi hai người này làm tờ Điện Tín. Theo ông LCT, “thực tế cận thời điểm này, việc tìm kiếm một diễn đàn để bày tỏ quan điểm là hết sức cần thiết. Tiếp tục giữ thái độ ‘tẩy chay’ chính quyền mà treo bút là không thiết thực và hoàn toàn bất lợi” (31).
Lướt qua một đoạn dài như vậy, để thấy nếu như con đuờng ông LQC chọn lúc vào đời, như một sự dấn thân để đấu tranh chống độc tài, cho lẽ phải, công lý và dân chủ cho mọi người, như ông nói - là một thái độ sống đẹp và hùng; thì trong thực tế, cái khoảng thời gian mười năm (1965-1975) ông LQC loay hoay đấu tranh, hoạt động đối lập với chính quyền Sài Gòn dạo đó nó gợi lên trong tôi một hình ảnh lung linh, rộn ràng của cái cảnh
thỏ giỡn trăng. Giỡn mệt rồi thì “vào Xẹt Tây ăn sáng, đánh quần vợt cho tới trưa, rồi sang hồ bơi ăn cơm trưa và xuống hồ bơi
phơi nắng cho đến chiều tối mới về nhà” (32). Khi lấy lại sức và chán chê cái xẹt Tây, thì trở lại hoạt động bằng cách tham gia rất nhiệt tình các cuộc xuống đường, tổ chức báo nói của các bạn đồng viện của ông!
Tháng 5, 2006
(Còn tiếp)
Xem Xin xem phần I; Xin xem phần III (kết)
Copyright © 2006 DCVOnline ©
(10) “Hồi Ký Không Tên”, tác gỉa Chánh Trinh Lý Quí Chung, nhà xuất bản Trẻ, in và phát hành vào tháng 12, năm 2005, trang 86.
(11) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 90.
(12) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 96.
(13) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 106.
(14) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 114.
(15) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 115.
(16) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 126.
(17) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 215.
(18) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 216.
(19) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 216.
(20) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 260.
(21) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 273.
(22) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 227.
(23) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 228.
(24) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 237.
(25) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 238.
(26) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 241.
(27) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 248.
(28) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 107.
(29) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 147.
(30) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 108.
(31) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 256.
(32) “Hồi Ký Không Tên”, sđd, trang 273.

