Những người lính Việt Nam Cộng hòa và ngày 30/4
Mạc Việt Hồng thực hiện
Việt Hồng (VH): Họ là những người lính đã từng vào sinh ra tử, đã từng chịu nhục nhã vì thất bại, từng qua những tháng ngày khổ cực trong các trại cải tạo và mang đầy mặc cảm khi trở lại cuộc sống bình thường. 31 năm đã qua đi, thời gian đã chữa lành những vết thương trong lòng họ. Giờ đây, cũng như tôi, như bạn, họ là những công dân bình thường trong xã hội. Họ nói gì, nghĩ gì về ngày 30/4 và về những cựu thù của mình? Xin hãy lắng nghe họ, những người lính Việt Nam Cộng hòa.
Tên những người lính tham gia phỏng vấn được xếp theo thứ tự của bảng chữ cái: Đại úy Phạm Văn Bản (đang sống tại Mỹ), Đại úy Nguyễn Vinh Hiển (Mỹ), Đại úy Trần Phi (Thụy sỹ) và Thiếu tá Trần Cẩm Tường (Úc)
VH: Xin ông cho biết ông đã tại ngũ bao nhiêu năm, binh chủng và cấp bậc của ông?
Phạm Văn Bản (PVB): Tôi là Hoa Tiêu Khu Trục Phản Lực A-37 Phi Đoàn Thần Báo 520, Không Đoàn 74 Chiến Thuật, Sư Đoàn 4 Không Quân, Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).
Tôi là sĩ quan không quân, tốt nghiệp trường phi hành Hoa Kỳ về nước vào tháng 7 năm 1973, có số điểm huấn luyện 91.56 (Grade A, điểm hạng ưu cấp quốc tế). Theo chỉ thị của Bộ Tư Lệnh Không Quân, ưu tiên cho những sinh viên có số điểm huấn luyện hạng cao, tôi được quyền chọn lựa đơn vị tác chiến. Tôi về phục vụ gần nguyên quán, sống gần với cha mẹ và nơi sinh trưởng của mình. Tôi trình diện Sư Đoàn 4 Không Quân ngày 15 tháng 11 năm 1973, và về Phi Ðoàn Thần Báo phục vụ chiến đấu cho tới giờ phút cuối cùng. Thời gian tác chiến của tôi, đúng là một năm sáu tháng.
Tôi cũng xin thưa, trước khi tôi về binh chủng Không Quân, tôi đã là thông dịch viên của Bộ Tư Lệnh Lục Quân Hoa Kỳ tại căn cứ Long Bình, Biên Hòa, từ tháng 5 năm 1968 với cấp bậc Trung Sĩ (Staff Sergeant, E-6). Tôi trực thuộc ngành Dân Sự Vụ (Civic Action) Lữ Đoàn 18 Quân Cảnh (US 18th Military Police Brigate) Lục Quân Hoa Kỳ (US Army). Với chương trình dân sự, nhiệm vụ công tác của tôi gồm cứu trợ, cứu thương, cứu tế, đi xây cất trường học, bệnh viện, nhà thờ, chùa tự, cầu cống, đường xá, chợ... và theo phái đoàn y tế thế giới... để khám bệnh, phát thuốc men, trợ cấp lương thực thực phẩm... cho các đồng bào nghèo khổ ở những nơi xa xôi hẻo lánh trong kế hoạch bình định và phát triển của Lữ Đoàn 18 Quân Cảnh Hoa Kỳ. Ngoài ra, tôi còn có công tác thông dịch thẩm vấn tù binh, điều nghiên tin tức tình báo, mở chiến dịch bình định và phát triển nông thôn, thâu phục nhân tâm....
Tôi đi du học ngày 9 tháng 11 năm 1971 tại Lackland AFB, Texas khi đang mang cấp Chuẩn úy. Tôi tốt nghiệp Phi công Phản lực (Jet Pilot) tại trung tâm huấn luyện phi hành phản lực Sheppard AFB, tôi được thăng cấp Trung úy. Sau đó một trận đánh, tôi được đặc cách lên cấp Đại úy, kèm theo Chiến thương Bội tinh và Ðệ Ngũ Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương.
Nguyễn Vinh Hiển (NVH): Tôi trình diện Trung tâm 3 tuyển mộ nhập ngũ vào đầu năm 1963, kế đó theo học Khóa 15 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Tính cho tới tháng 4 năm 1975 tôi có hơn 12 năm mặc áo nhà binh. Sau khi mãn khóa huấn luyện vào cuối năm 1963, tôi được chọn vào binh chủng Quân Cảnh. Cấp bậc sau cùng của tôi là Đại Úy, chức vụ là Chỉ Huy Trưởng Trại Tù Binh Cộng Sản Việt Nam ở Phú Tài (Qui Nhơn)
Trần Phi (TP): Thưa chị, tôi đã tại ngũ được gần 14 năm từ năm 1962 tới năm 1975. Đầu tiên tôi làm Thông dịch viên cho Đệ Ngũ Liên Đoàn lực lượng đặc biệt của Hoa Kỳ sau đó tham gia lực lượng này với cấp bậc Đại úy. Tôi thuộc lực lượng biệt kích. Những đơn vị đàn anh của tôi, họ được tung ra miền Bắc nhưng tôi vào lực lượng biệt kích rất trễ nên đang chuẩn bị nhảy ra ngoài miền Bắc thì cuộc đảo chính ông Ngô Đình Diệm xảy ra nên chúng tôi không phải đi nữa. Sau này chúng tôi có đi nhảy dù vào các mật khu của Việt cộng. Trực thăng đã thả chúng tôi vào và đón chúng tôi về.
Trần Cẩm Tường (TCT): Tôi tại ngũ 13 năm, cấp bậc Thiếu tá, tôi thuộc Sư đoàn 18 Bộ Binh. Tôi xuât thân từ trường Võ bị Đà Lạt, tôi được đào tạo chính quy.
VH: Ông có nhớ đã tham gia bao nhiêu trận đánh? Ông có bị thương không?
PVB: Tôi đã có tổng cộng hơn 1200 giờ bay trong phiếu phi hành, đã tham chiến với hàng ngàn phi vụ yểm trợ, oanh kích những vùng phi quân sự, Cục R, đường mòn Hồ Chí Minh, hay địa đạo Củ Chi, hoặc Lộc Ninh thủ đô của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Ngoài ra, tôi còn có nhiệm vụ phải chở các anh / chị phóng viên Đài Truyền Hình Cần Thơ mang máy quay phim đi quay phim chiến trường... thời ấy tôi đã thường viết chính luận và đăng tải trên số báo chí Sài Gòn.
Tôi cũng tham dự nhiều trận oanh kích lớn, và hợp đoàn bay với hàng trăm tàu bạn để không tạc Hạ Lào, Biển Hồ, Lộc Ninh, Ban Mê Thuật... Tôi đã được mệnh danh là Tank Killer (người săn T54).
Là hoa tiêu điểm đầu nên tôi cũng được cử phi vụ hợp đoàn không chiến và yểm trợ Hải Quân VNCH trong cuộc tấn công Hải Quân Trung Quốc tại đảo Hoàng Sa. Tôi nhớ lại rằng ngày ấy chúng tôi tập dượt không chiến và chuẩn bị cho trận đánh ra quần đảo Hoàng sa. Tiếc thay, vào phút cuối, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lại ra lệnh không cho chúng tôi tiếp tục thi hành trận địa chiến và không chiến này (Air-to-Ground, Air-to-Air), với lý do mà Tổng Thống đưa ra là "bảo vệ tài nguyên quốc gia."
Tôi có bị thương trong trận Klong Khot, một phi vụ nhằm xóa sổ Công Trường 9 miền Bắc đang tiến vào miền Nam qua ngõ Laos và Cambodia. Đúng lúc 3 giờ chiều ngày 26 tháng 1 năm 1975, vừa đánh xong vòng bom thứ hai, trong lúc tăng tốc lấy lại cao độ, thì tôi bị bắn hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7, bị nổ tung máy cánh trái, tôi thì bị thương phải nhảy dù. Khi dù mở lơ lửng trong không gian thì tôi dần dần hồi tỉnh, đếm được hơn trăm mũi đạn địch đang bắn tôi, nổ lỗ chỗ trên cánh dù. Tôi phải lái dù chạy tránh xa mục tiêu, rồi đáp xuống khu rừng hoang vắng trên phần đất Cambodia, cách xa biên giới Tây Ninh khoảng hơn trăm cây. Tôi chui vào một bụi cây ẩn nấp trước khi cảm thấy mình ngã gục. Tôi hạ chiếc máy vô tuyến liên lạc và cây súng ngắn sang một bên, mở hành trang và đọc sách hướng dẫn, lấy thuốc men và băng bó vết thương, ăn chút lương khô. Khi bị thương ra máu là lúc khát nước nhất, mà uống nhiều nước thì khó sống. Trời tối dần... sau khi đánh bức điện morse đi, các bạn thân của tôi từ khắp nơi đã đến cứu, gồm có A37, F5, trực thăng kéo tới đánh bom và thả trái sáng, tạo vành đai an toàn cho tôi trú ẩn qua đêm. Vì đạn bắn như mưa, nên mãi tới sáng tôi mới được bốc lên trực thăng tải thương mang về tiền đồn biên giới Châu Đốc băng bó vết thương. Trên trực thăng tôi đã xỉu nhiều lần, nhưng khi tỉnh thì rất khát nước. Lúc đó tôi thấy có người cầm bông thấm nước từ bidon rồi đặt trên môi. Tôi mở mắt thấy ông tướng hai sao, vội dơ tay chào, nhưng cánh tay đang cột vào bangka. Ông tướng nhìn tôi mỉm cười vì hiểu ý định của tôi, đó chính là Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Vùng 4 Chiến Thuật, người sau đó đã tuẫn tiết khi Sài Gòn thất thủ. Tôi liếc nhìn xuống chiếc vai áo rách nát của mình và thấy vật lạ... ba bông mai vàng mới toanh của cấp đại úy đã được Thiếu Tướng Nam gắn cho tôi lúc còn bất tỉnh; ông nói: "Nằm nghỉ đi em, Thần Báo 2".
NVH: Binh chủng chúng tôi là binh chủng chuyên môn, phụ trách về quân phong, quân kỷ cho quân đội. Bản thân tôi không hề trực tiếp tham dự một trận đánh nào. Chỉ có một lần tôi tham dự cuộc hành quân Đỗ Xá vào đầu năm 1964, nhưng với tư cách một sĩ quan của bộ tham mưu hành quân, chuyên trách về tù binh. Do mức độ giao tranh của quân đội hai bên càng ngày càng gia tăng, con số tù binh do QLVNCH bắt giữ tại mặt trận càng nhiều, và cũng không thể giam giữ các tù binh này với các tù thường phạm ở các nhà lao hàng tỉnh, quân đội miền Nam phải thiết lập các trại tù binh tại mỗi vùng chiến thuật. Nhiệm vụ canh gác, điều hành các trại tù này được QLVNCH giao cho binh chủng Quân Cảnh. Thành thử nhìn chung binh chủng chúng tôi không hề trực tiếp tham dự một trận đánh nào, song trong thực tế chúng tôi phải đối đầu thường trực với một trận đánh ở đằng sau chiến trường. Mặc dù trong trận đánh này quân hai bên không mấy khi dùng đến súng đạn, song đó là một trận đánh liên tục không bao giờ ngừng.
Sau cùng trong hồi kết cuộc của cuộc nội chiến Nam Bắc, tôi dẫn đầu một đơn vị từ Qui Nhơn triệt thoái về phía nam, và bị vây đánh ở Tuy Hòa. Lần này thì tôi gom góp tất cả các tàn binh lạc ngũ của các đơn vị khác, rút về cố thủ tại doanh trại của Tiểu Khu Tuy Hòa, cố cầm cự để chờ viện binh tới. Lúc đó đơn vị do tôi chỉ huy là một tiểu đoàn trừ, cộng với các binh sĩ lạc ngũ của các đơn vị khác thành một đạo quân hơn một tiểu đoàn. Súng ống thì nhiều vô kể, nhưng tinh thần binh sĩ hầu như không có. Tôi và các sĩ quan dưới quyền đôn đốc binh sĩ trên các tuyến phòng ngự bằng những máy phóng thanh xách tay của đơn vị tôi, hệt như dẫn lính đi tập bắn. Chúng tôi cố thủ tiểu khu Tuy Hòa từ 6 giờ 30 sáng cho tới 11 giờ trưa, thì xe tăng của Bắc Quân vào trận. Chúng tôi không chống trả nổi hỏa lực của các chiến xa này, đành phải phân tán nhỏ hàng ngũ, rồi rút lui qua ngả sau của Tiểu Khu Tuy Hòa. Tôi dẫn được một tiểu đội leo lên được một con thuyền đánh cá, và được chở vào Nha Trang. Tôi có ghi lại trận đánh này trong cuốn hồi ký Ngày N+.. Đó là lần đụng độ đầu tiên và là cuối cùng với quân đội miền Bắc trong hơn 12 năm quân ngũ của tôi. Tất nhiên, có nhiều người chết trong trận đánh này.
TP: Số trận đánh mà tôi đã tham gia thì nhiều lắm. Tất cả những mặt trận lớn thì lực lượng biệt kích, lực lượng đặc biệt của chúng tôi đều được tung vào để giải tỏa các trận đánh. Nhưng số tôi rất may, tôi chỉ bị thương có hai lần.
TCT: Tôi được huấn luyện sỹ quan chính quy, ra trường năm 1965 đến năm 1975 tôi đã tham gia rất nhiều trận đánh từ những trận đánh nhỏ tới những trận đánh lớn, tôi có bị thương 5 lần nhưng cũng may đạn chỉ vào thịt thôi.
VH: Kỉ niệm nào đáng ghi nhớ nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông?
PVB: Về kỷ niệm đáng ghi nhớ trong đời binh nghiệp của tôi, thưa Cô Việt Hồng có lẽ sáng đẹp nhất trong lòng tôi cho tới ngày nay là hình ảnh của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, người tuẫn tiết khi Sài Gòn thất thủ. Sau khi tầu tôi trúng đạn và tôi nhảy dù, vị Tư Lệnh Vùng IV này đã túc trực trên trực thăng bay quan sát trên mục tiêu tại chiến trường mà tôi đang ẩn náu, cho tới khi cứu được tôi như câu chuyện tôi đã trình bày phần trên. Đó là kỷ niệm sống trong tôi và tôi đã khóc thương Thiếu Tướng Nam khi nghe người sĩ quan tùy viên của Ông và cũng là bạn của tôi thuật lại chuyện.
NVH: Kỷ niệm đáng ghi nhớ trong đời binh nghiệp... Với một thời gian quân ngũ kéo dài hơn 12 năm, lại thuyên chuyển đi đủ bốn vùng chiến thuật, thành thực mà nói tôi có quá nhiều kỷ niệm trong đời quân ngũ của tôi. Nhưng có lẽ kỷ niệm sâu đậm nhất trong đời quân ngũ của tôi lại không liên hệ tới cuộc đời binh nghiệp của tôi. Cuối năm 1967, tôi phải thuyên chuyển ra trại tù binh Phú Quốc, mặc dù chỉ mang cấp bậc Trung úy, song tôi phải đảm nhiệm 2 chức vụ mà trên bảng cấp số các chức vụ này đều là Thiếu tá. Trong thời gian này, những dấu hiệu từ các mặt trận ở bốn vùng chiến thuật cho biết Bắc Quân sẽ mở những trận đánh lớn trên bốn vùng chiến thuật, và vì vậy quân đội miền Nam phải thiết lập thật mau một trại tù ở Phú Quốc có khả năng giam giữ đến 30 ngàn tù binh của các trại giam ở trong đất liền đưa ra, vì sợ rằng Bắc Quân sẽ dùng những đơn vị nhỏ cảm tử, đánh giải vây cho các trại giam ở đất liền. Chúng tôi vừa xây doanh trại, vừa tiếp nhận tù binh. Một lần đi thăm viếng doanh trại đang được Công binh hoàn tất, để đón nhận thêm tù binh mới, tôi thấy một người lính Công binh ôm một người tù khóc ròng. Hỏi ra thì biết họ là anh em ruột. Người anh trọ học ở ngoài tỉnh, rồi đến tuổi quân dịch thì đăng lính Công binh. Người em ở nhà quê bị cưỡng bách gia nhập bộ đội của MTGPMN. Cả đêm đó tôi không ngủ được khi nghĩ tới hai anh em người này. Họ may mắn gặp nhau dù trong hoàn cảnh trớ trêu, nếu không may họ có thể bắn vào nhau trong một trận đánh nào đó. Và chuyện đó hình như không thiếu trong chiến tranh VN. Bản thân tôi là một sĩ quan của trại giam, cha tôi dặn tôi lập cho ông một danh sách những người tù binh miền Bắc, sinh đẻ ở mấy huyện quê nội và quê ngoại tôi trong tỉnh Hải Dương. Tôi lập được một danh sách vài chục người đem về. Cha tôi đọc chăm chú, ngẫm nghĩ một hồi rồi chỉ vào cả chục người trong danh sách, nói rõ gốc gác của những người này. Có hai người trong danh sách tôi thiết lập cho cha tôi xem, là anh em họ với tôi.
TP: Nói chung thì không có kỷ niệm nào đáng ghi nhớ nhiều, tôi chỉ xin kể vắn tắt về một biến cố trước ngày 30/4. lúc đó đơn vị chúng tôi được điều về bảo vệ Đài truyền hình ở Sài Gòn. Đang buổi trưa thì tự nhiên chúng tôi mất hết liên lạc với cấp trên. Rồi tôi thấy xe tăng Bắc Việt tiến vào và chúng tôi nhận được lời kêu gọi buông súng đầu hàng. Lúc đó chúng tôi rất ngỡ ngàng. Quân đội Bắc Việt chào chúng tôi và chúng tôi cũng chào họ. Cảm giác lúc đó khôi hài lắm. Sau này thì tôi được biết rằng quân đội Bắc Việt được lệnh không được bắn giết chúng tôi mà phải đối xử với chúng tôi nư anh em. Lúc dó họ rất vui vẻ khi thấy chúng tôi, chúng tôi cũng vui cười khi thấy họ. Có nhiều người lính VNCH vứt bỏ súng ống, họ đã nhắc chúng tôi cầm súng đem về nhà đi, rồi sau sẽ trình diện, không nên vứt súng như vậy để những kẻ cướp giật có thể lợi dụng. Theo nhận định của cá nhân tôi thì thái độ của họ lúc đó tử tế. Điều đó cũng an ủi chúng tôi nhiều và riêng tôi, không ngạc nhiên gì về ngày 30/4. Tôi biết đã có cuộc sắp đặt của người Mỹ, số phận miền Nam Viêt Nam được quyết định trước đó rồi.
TCT: Có 2 trận đánh mà trong đời tôi không thể nào quên được, đó là trận năm 1972 tại An Lộc và thứ hai là trận đánh tại Long Khánh vào tháng 4 năm 1975.
VH: Ngày 30/4/1975 ông đang ở đâu? Cảm giác của ông khi đó như thế nào?
PVB: Lúc 10 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, tại phi trường Bình Thủy, tôi nhận lệnh oanh kích khu vực vòng đai an ninh vì địch quân tràn tới Lộ Tẻ Ba Xe. Khi tôi vác dù ra xe để ra phi đạo lấy tàu trong tiếng reo hò vang dội của anh em Sư Ðoàn 4 Không quân đang cổ vũ cho tôi. Khi đang thi hành công tác đánh bom, tôi nghe lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh, mà nước mắt tuôn trào. Thương cho chính mình, thương cho dân tộc mình, và thương cho vợ con tôi kẹt lại, nên tôi bay trở lại, đáp xuống phi trường Trà Nóc đúng 2 giờ chiều ngày đó; mặc cho bạn bè năn nỉ hối thúc đi Utapao, Thái Lan.
Cảm giác của tôi lúc đó thật là lẫn lộn dù tôi là người thuộc dạng bình tĩnh là và tự tin. Vào thời du học Hoa Kỳ, tôi đã tới thư viện tìm đọc sách nói về chiến tranh Việt Nam của cả hai phía. Tôi cũng tưởng Việt cộng sẽ thi hành chính sách hòa hợp hòa giải như sau cuộc nội chiến Nam Bắc của Hoa Kỳ năm 1865, cách nay 100 năm. Do đó, tôi có cảm giác an toàn trong ngày 30 tháng 4 năm 1975 sau khi tôi đọc chính sách 7 điểm của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Những người cộng sản đã đánh mất cơ hội ngàn vàng để mở ra trang sử huy hoàng cho dân tộc ta. Chiếu hoa không ngự mà lại tranh giành để ngồi vào manh chiếu rách!
NVH: Ngày 30 tháng 4 tôi ở Sài Gòn, những đêm trước của ngày này tôi nằm ngủ trong căn nhà mà tôi đã sống suốt thời niên thiếu, trên chiếc giường sắt nhà binh, mà cha tôi đã mua lại từ khi gia đình tôi di cư vào Nam. Có một hai đêm tôi leo lên mái nhà, nằm nhìn những trái hỏa châu được pháo binh bắn đi từ căn cứ ở Phú Lâm, thỉnh thoảng thấy một chiếc máy bay đơn lẻ lao mình trong đêm tối. Những tiếng súng từ xa ì ầm vọng lại. Vòng vây cứ mỗi lúc mỗi tiến gần lại Sài Gòn, những ngả thoát đã bị bịt kín. Đường Biên Hòa, Vũng Tầu đã bị chặn, chỉ còn một ngả duy nhất xuống vùng IV, thế nhưng tình hình này không hiểu số phần của miền Nam còn kéo dài được bao lâu. Tôi nghĩ tới hai chục năm của gia đình tôi, của cá nhân tôi trong vùng đất này. Có lúc tôi hơi oán cha tôi, khi nhập ngũ khóa 15 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, tôi đã rắp tâm tình nguyện gia nhập binh chủng Biệt Động Quân. Thế nhưng do những vận động của cha tôi, tôi ra trường trở thành một sĩ quan Quân Cảnh. Chính vì vậy mà tôi trở thành một sĩ quan ba gai nhất binh chủng. Phải chi cứ để tôi ở Biệt Động Quân, có thể tôi đã chết từ nhiều năm trước, như những người bạn cùng khóa tôi ở binh chủng này giờ đây đã chết bẩy, còn ba, chết hai, còn một mới ra cảnh này. Cho dù nếu không chết thì có thể trong phút cùng đường, tôi có thể cùng với vài binh sĩ dưới quyền đổi mạng mình, lấy một cái gì đó.
Phải chính vì cha tôi và nhiều người cha khác không muốn con mình chường mặt ra mặt trận, nên miền Nam mới có ngày thê thảm như thế này. Tất nhiên tôi cũng hiểu trong cuộc chiến tranh nồi da sáo thịt này, số phận của miền Nam không hoàn toàn nằm trong tay của người miền Nam. Số phận của miền Bắc thì phần vì may mắn hơn, phần vì những người lãnh đạo ở miền Bắc có trái tim không chứa máu người, có khối óc đã hóa thạch nên sau này cảnh kết thúc của chiến tranh mới kinh hoàng như thế.
TP: Cảm giác của tôi lúc đó rất hoang mang, sợ sệt, lo lắng cho tương lai của mình. Thực ra tôi đã biết trước số phận của miền Nam Việt Nam ngay từ cuộc hòa đàm Paris năm 1972, lúc đó tôi đã biết rằng Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia CS.
TCT: Ngày 30/4/1975 chúng tôi đang chỉ huy Tiểu Đoàn thuộc Sư Đoàn 18 Bộ Binh, tiểu đòan của tôi lúc đó khoảng 600 quân, chia làm 4 đại đội tác chiến và 1 đại đội chỉ huy. Chúng tôi đánh nhau suốt từ ngày 10/4 tại Long Khánh từ đó kéo dài tới Long Bình rồi tới Trảng Bom. Ngày 30/ 4 chúng tôi kéo quân lên đồi Bác Sỹ Tín đối diện với Nghiã trang Quân đội để chặn lực lượng từ ngoài Bắc tiến vào. Chúng tôi đánh nhau tới khi có lệnh đầu hàng của Tướng Dương Văn Minh. Ngay cả khi có lệnh rồi, một số anh em vẫn không muốn buông súng, tinh thần của chúng tôi vẫn chưa bị sa sút. Theo lệnh ông Dương Văn Minh chúng tôi phải bàn giao vũ khí lại cho phía bên kia. Chúng tôi hoàn toàn bất ngờ và xúc động trước lệnh đầu hàng.
VH: Ngày 30/4 có ý nghĩa thế nào trong cuộc đời ông?
PVB: Tôi phát hiện ra người cộng sản nói không cho trúng, khi tôi đứng bên Trung Tá Nguyễn Văn Nguyên Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Bình Thủy còn ở lại để làm cuộc bàn giao đơn vị cho phía miền Bắc. Những lời nói, những cử chỉ, hành động hống hách của người cộng sản lúc đó tạo cho tôi một cái nhìn không phục, không tin về họ.
Tất cả đã giải đáp cho tôi những gì suy tư tìm hiểu đúng đắn như lời ông cha tôi nhắn nhủ căn dặn tôi về người cộng sản: vừa cố chấp, không lẽ phải, và giết người một cách lạnh lùng. Sau ngày mất nước, tôi càng khâm phục tiền nhân với lời nhận xét qúa đúng về bản chất của người cộng sản Việt Nam. Từ đó tôi lại càng xót thương cho dân tộc tôi chịu đắng cay bởi loại người cầm quyền phi nhân bản tính như thế này. Và đảng cộng sản cầm quyền thì đất nước này đã không ngóc đầu lên nổi, người nghèo thì càng nghèo khổ thêm, và xã hội trở nên mê muội dốt nát, đầy dẫy bất công, thối nát.
NVH: Tôi thường nghĩ đến hai biến cố lớn nhất trong lịch sử cận đại Việt Nam. Trước tiên là biến cố chia đôi đất nước vào năm 1954. Khách quan mà nói thì biến cố này tuy là một vết dao chém ngang mình tổ quốc, đất nước bị chia đôi. Nhưng nếu không có biến cố này thì nước Việt mãi mãi chỉ tốn tại trên mặt cai trị hành chánh mà thôi. Còn về ngôn ngữ, văn hóa vẫn là ba phần đất riêng biệt. Những người Bắc vào Nam, và những người Nam ra Bắc vô hình chung là những chất xúc tác cho việc tái thống nhất cả ba miền trên nhiều lãnh vực.
Giờ tới biến cố thứ hai chính là việc tái thống nhất đất nước, hay chính là biến cố 30 - 4 - 75. Tôi là một người lính của miền Nam, cũng như hàng triệu người miền Nam khác mong muốn việc thống nhất này sẽ diễn ra theo chiều từ Nam ra Bắc, và nếu vậy chắc chắn là sẽ đẹp hơn cái chiều từ Bắc vào Nam như lịch sử đã diễn ra trong ba chục năm nay. Nhưng lịch sử thì không thể NẾU, hiện nay quốc gia đã thu về một mối, việc tái thống nhất này nếu được chỉ đạo bởi những khối óc thông minh, không bệnh hoạn thì đất nước giờ đây hẳn là tươi sáng hơn. Dù kết quả ngày hôm nay có xấu thế nào chăng nữa, thì nghĩ cho cùng việc tái thống nhất đã làm cho nước Việt hiện nay đồng nhất hơn cách đây năm chục năm.
Nói tóm lại ngày 30 - 4 đối với cá nhân tôi là một vết thương không bao giờ ngậm miệng, nhưng đối với lịch sử thì chẳng qua đó là chỉ là một cái chớp mắt, trong cái chớp mắt này có hàng triệu người nằm xuống, có hàng triệu người phải bỏ nước mà đi. Chẳng may sinh ra trong thời điểm đen tối đó, tôi chỉ mong những thế hệ sau của lịch sử sẽ không bị cai trị bởi những con người bệnh hoạn như cả nước đang gánh chịu hiện nay.
TP: Tôi muốn quên hết quá khứ để sống với hiện tại và tương lai. Tôi ít khi nhớ tới ngày này, nhiều khi do bạn bè nhắc tới hoặc do đọc báo tôi mới nhớ tới nó.
TCT: Là một sỹ quan quân đội VNCH, tôi không thể nào quên được ngày 30/4/1975. Tất cả chúng tôi đều bị sốc rất dữ dội. Vì là cấp chỉ huy, tôi không thể để lộ cảm xúc của minh. Nhắc tới ngày đó tôi không thể nào nén nổi xúc động, tôi không biết diễn tả cảm xúc của mình như thế nào. Thứ nhất, chúng tôi cảm thấy rất đau buồn. Là một quân nhân khi phải chấp nhận lệnh đầu hàng, nhìn đơn vị tan rã, tôi cảm thấy danh dự của mình bị xúc phạm rất nhiều. Tôi không biết giải thích như thế nào để anh em hiểu được việc phải buông súng đầu hàng. Mặc dù rất hoang mang nhưng vì là cấp chỉ huy chúng tôi không thể tỏ ra hèn nhát được. Trong lòng rất đau đớn nhưng tôi vẫn phải tỏ ra cứng rắn trước mặt cấp dưới của mình. Một số anh em quân nhân đã khóc. Tôi không khóc được nhưng trong lòng tôi khóc.
Đến bây giờ mỗi khi ngày 30/4 đến, sự xúc động trong tôi vẫn còn, tuy nó dịu dàng hơn. Tôi thật khó diễn tả cảm giác của tôi về ngày đó, tôi cảm thấy như đã mất mát một cái gì đó quý báu nhất cuộc đời mính.
TCT: Ngày 30/4 tôi thường nhớ tới những đồng đội của mình, thương tiếc những người đã ra đi.Tôi rất đau lòng thấy các Nghĩa trang của anh em VNCH tại VN bị san phẳng, bị phá phách hoặc không ai chăm sóc. Ở nước ngoài, chúng tôi cũng có tượng đài để kỉ niệm, thắp nén nhang cho anh em, đồng bào đã hy sinh. Ngày 30/4 năm nay, chúng tôi cũng sẽ kỷ niệm, làm lễ truy điệu, cầu nguyện cho linh hồn anh em VNCH và đồng bào siêu thoát
VH: Sau năm 1975, ông có bị đi trại cải tạo không?
PVB: Sáng ngày 5 tháng 5 năm 1975, CS kêu gọi sĩ quan của chế độ cũ trình diện học tập cải tạo, với thời gian một tuần tới 10 ngày, nhớ mang theo đồ dùng cá nhân và tiền chi tiêu ăn uống. Tôi vừa bước ra sân thì thấy ồn ào, đội võ trang vây bọc và lên đạn AK lách cách, một người tiến lại đọc lệnh bắt tôi. Sau ít giây ngạc nhiên, họ trói tôi và lấy khăn bịt mắt rồi dẫn đi, mặc những tiếng than khóc van xin của cha mẹ, vợ con, anh em và những bạn bè thân thiết của tôi.
Ban quân quản Kiên Tân bắt đầu hỏi tôi và bắt tôi viết lời khai, họ tuyên bố với tôi rằng: "Anh thuộc diện đối tượng của tỉnh, chúng tôi thi hành lệnh tìm anh." Trời tới nhá nhem tối, tôi được lôi ra khỏi cũi sắt cùng với hàng chục sĩ quan VNCH khác, được mang lên xe bít bùng áp tải chở đi. Xe chạy vòng vo, có lẽ họ muốn đánh lạc hướng nhưng với tôi thì vùng này không xa lạ vì tôi sinh trưởng ở đây.
Sau khi bị thanh lọc ở Rạch Giá, chúng tôi được chuyển tới trại tù binh U Minh có 8 cái K và bị đóng quyện (cùm chân) và bộ đội canh gác. Dưới lưng thì nước ngập đỏ như máu, muỗi đông như trấu và đỉa lền như bánh canh. Ðã đói khổ rách rưới thì chớ, muỗi mòng lại cũng đồng ý theo phe thắng trận chỉ săn tù nhân cải tạo khốn khổ mà cắn mà hút. Thật là thê lương. Và tôi đã bị hành hạ trong suốt 7 năm tù đến nỗi gần đứt gân chân phải.
NVH: Không, tôi may mắn thoát được ra nước ngoài.
TP: Dạ có, thưa chị. Tôi bị đi cải tạo 4 năm, năm đầu tiên tôi cải tạo ở trại Đá Bàn (Khánh Hòa), họ đối xử với chúng tôi rất tệ. Lúc đó họ sử dụng cán bộ quản giáo là những người vô học. Họ đối xử với chúng tôi khi đó hết sức tàn nhẫn. Sau năm 1976, tôi được chuyển sang trại A 30, ở đó họ đối xử với chúng tôi tốt hơn một chút nhưng vấn đề cưỡng bức lao động vẫn thường xuyên xảy ra. Họ muốn hành hạ chúng tôi bằng lao động. Tôi có một chút may mắn là, trong thời gian tôi cải tạo, tôi quen một ông Trung tá công an, ông ấy cũng biết rõ hoàn cảnh của tôi và cũng có liên hệ với phía gia đình tôi. Ông ấy đã giúp tôi được ra trại sớm. Khi về địa phương, tôi có chuyên môn là ngành thú y, lúc đó huyện đang thiếu người nên tôi cũng được trọng dụng nên tôi hòa nhập vào cuôc sóng cũng không mấy khó khăn. Sau đó tôi xin ra nước ngoài theo diện bảo lãnh nhưng không được chấp nhận, tôi vượt biên năm 1989.
TCT: Tôi bắt buộc phải đi trình diện cải tạo. Tôi đã ở trại cải tạo trong 7 năm, ở ngoài Bắc. Đó là những ngày rất đen tối, nằm giữa núi rừng Yên Bái, chúng tôi không biết gì về cuộc sống bên ngoài. Chúng tôi vừa đói, khát, vừa mang nỗi niềm nhục nhã của những người thua trận.
Ra khỏi nhà tù nhỏ, chúng tôi vào "nhà tù lớn". Bẩy năm sau, tôi trở về, nhà của tôi bị chiếm mất, tôi không được ở, vợ con phải bị đưa về quê. Không chịu được cuộc sống trong cái "nhà tù lớn" này, năm 1984 chúng tôi đã vượt biên.
VH: Ông có hay trăn trở về nguyên nhân thất bại của quân đội VNCH không? Theo ông tại sao quân đội VNCH lại thất bại?
NVB: Theo tôi, VNCH đã thiếu vắng một nền tảng căn bản về triết thuyết dân tộc, vững chắc nhằm nêu cao chính nghĩa quốc gia; đồng thời, khai triển rộng rãi về sách lược quốc phòng bảo vệ đất nước một cách thực tế, nhằm vận động toàn dân toàn diện trong việc giữ nước và xây dựng phát triển chế độ tự do dân chủ.
NVH: Tất nhiên tôi hay suy nghĩ về việc thất trận của miền Nam, nhất là mỗi khi chẳng may xem phải một phim thuộc hạng bét của Hollywood, do những anh đạo diễn hạng B, làm những phim rẻ tiền về chiến tranh Việt Nam. Các đạo diễn này hoặc vô tình vì không biết, hay có thể cố ý bôi xấu đạo quân có tôi là một người lính trong đạo quân đó. Tôi không bao giờ chấp những đạo diễn của miền Bắc làm phim về chiến tranh Việt Nam. Phần đông các đạo diễn cũng như các kịch tác gia, các nhà văn, nhà thơ xuất thân từ miền Bắc, được đào tạo trong thời chiến tranh chẳng qua chỉ là những con ngựa kéo xe, có hai miếng da che mắt, và họ chỉ có thể nhìn vũ trụ qua hai vệ đường mòn. Nói một cách tệ hại thì chiến tranh Việt Nam chẳng qua chỉ là một canh bạc của các đại cường, máu xương thì của dân Việt, còn miền Bắc với Đảng Cộng Sản Việt Nam được coi là một cửa được các con bạc thông đồng với nhau cho ăn mà thôi.
TP: Nếu có thời giờ, tôi sẽ nói hết để cho cô hiểu, tôi biết trước chiến lược của người Mỹ với Miền Nam Việt Nam nên thất bại của VNCH là lẽ đương nhiên. Tôi không trăn trở gì về điều này.
TCT: Tôi hay trăn trở lắm chứ, là một sỹ quan đựơc huấn luyện chính quy, tôi luôn tự hỏi mình, hỏi người, tại sao chúng tôi lại thất bại. Nhưng rất cuộc thì trong mọi cuôc chiến phải có người thắng, người thua. Đó là lẽ đương nhiên.
VH: Có khi nào ông ân hận hay hối tiếc không về thời gian tại ngũ của mình không?
PVB: Có thể nói, thế hệ của tôi ở miền Nam Việt Nam tự do là được ươm trồng và chăm sóc kỹ lưỡng về đủ mặt do lớp người cha anh truyền đạt. Thành qủa này là do tâm huyết của những lớp người ông, cha anh tôi sau hai thập niên xây dựng kiến thiết quốc gia. Chúng tôi là thế hệ thứ ba, tức người trưởng thành trong nhận thức chính trị, trong sinh hoạt tự do dân chủ, chuộng nhân bản tính và lẽ phải. Do đó, tôi không lấy gì làm ân hận hay hối tiếc, vì tôi làm đúng tiếng gọi của con tim như vừa dẫn chứng.
Thứ đến, đời binh nghiệp đã giúp tôi chấp cánh bay cao, tư tưởng thăng hoa và lao động thăng tiến. Trong 7 năm quân ngũ thì thời gian huấn luyện rất dài và tôi trở thành chuyên viên đa năng. Ví dụ điển hình như trong lãnh vực vi tính, tôi được học hỏi và sử dụng nó từ thập niên 70, chớ đâu phải ngày nay. Ngoài ra còn nhiều lãnh vực khác mà đời quân ngũ của tôi đã tạo cho tôi đi trước những vấn đề thời đại. Chỉ tiếc chăng là tôi chưa được mang vốn liếng sở trường của mình ra để phục vụ cho dân tộc tôi, cho đồng bào tôi. Nợ nước chưa trả, thì tôi ân hận thật.
NVH: Tôi không bao giờ hối tiếc thời gian tại ngũ của tôi. Nếu có hối tiếc thì chỉ hối tiếc là tại sao ngày xưa tôi coi quân đội như là một nơi để du lịch. Lẽ ra tôi phải lo tròn trách nhiệm của một cấp chỉ huy tốt hơn, cho dù có là một cấp chỉ huy nhỏ thì cũng vẫn đội trên đầu một cái casquette sĩ quan, trong đó có một huy hiệu của QLVNCH, với một hàng chữ TỔ QUỐC, DANH DỰ, TRÁCH NHIỆM. Nếu có hối tiếc là trong suốt thời gian tôi ở lính, tôi không gặp được các cấp chỉ huy cao cấp có đủ tài, đức làm cho tôi tâm phục, khẩu phục. Cả miền Nam có khoảng 100 ông tướng, thế mà tôi chỉ nghe được có vài ông Tướng ra Tướng. Cũng nhân nói đến Tướng, tôi muốn nhắc đến ông Tướng Giáp nổi danh ở ngoài Bắc. Tôi không hiểu tài điều binh, khiển tướng của ông Giáp kinh thiên động đĩa tới đâu, nhưng trong những tài liệu mới được bạch hóa sau này cho thấy, trong các cuộc tranh chấp với Lê Duẫn, và Lê Đức Thọ trước kia, và với Lê Đức Anh bây giờ khiến cho tôi nghi ngờ về những lời đồn đại quanh ông. Một ông Tướng lừng danh không thể để cho đối thủ chính trị của mình, bắt ngồi xuống coi về sinh đẻ. Một ông Tướng ra Tướng không thể để cho đàn em bị người ta vu oan, giáo họa, thậm chí bị thanh trừng mà mình thì cứ mũ ni che tai. Một ông Tướng cho ra Tướng khi đi viếng tang một ông Tướng khác (Trần Độ), thì không thể để người ta bắt ép mình phải thay đổi những dòng chữ trên vòng hoa tang.
TP: Tôi luôn hãnh diện về thời gian tôi tại ngũ. Tôi thấy buồn vì số phận của một quốc gia nhược tiểu như VN đã bị các nước lớn xâu xé. tôi rất đau buồn về điều này.
VH: Lịch sử không thể thay đổi nhưng từ đó người ta có thể rút ra những bài học cho các thế hệ sau này. Vậy bài học mà thế hệ các ông có thể để lại cho con cháu mai sau từ cuộc chiến đẫm máu đó của dân tộc theo ông là gì?
PVB: Từ ngàn xưa Tổ Tiên Ông Bà ta cố công lưu truyền một câu chuyện thương tâm về một nàng công chúa mất nước và thành bài học cho con cháu. Thế nhưng lớp người chính trị thời cận đại đã vô tình hay cố ý lãng quên bài học Hồn Nước để gây ra cảnh "huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt."
Sự đau đớn, đắng cay của người Việt Nam chúng ta là do chính những người cầm quyền Việt Nam nhân danh một chủ thuyết ngoại lai (thần Kim Quy) không tưởng để củng cố, bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị (xây Cổ Loa) và áp đặt những chính sách bất nhân, khủng bố để đày đọa và bóc lột chính dân tộc mình một cách tàn nhẫn. Núp dưới chiêu bài chủ nghĩa đấu tranh, tiến bộ... nhóm người cầm quyền đã dựa trên chủ thuyết và thể chế khiếm khuyết đó để hoành hành thao túng. Và ngày nay, chế độ Việt Nam trước mắt chỉ có một mục tiêu tối hậu là trợ giúp những kẻ có ưu thế và độc quyền, được thêm phương tiện ép buộc kẻ khác phục vụ cho họ.
Bài học mà thế hệ của tôi có thể để lại cho con cháu mai sau từ cuộc chiến đẫm máu đó là bài học Hồn Nước của dân tộc Việt Nam.
NVH: Lịch sử không thể thay đổi... Đúng vậy, tôi đã trả lời trong một câu hỏi ở trên, lịch sử thì không thể đi với chữ NẾU. Tôi hiểu điều này, do đó tôi ao ước thấy được một chút tương lai cho đất nước tôi. Trong khi tôi đang trả lời, thì ở Hà Nội người ta đang rêu rao về thành quả của Đại Hội 10, của Đảng Cộng Sản Việt Nam, và tôi không hiểu nổi những gì đang diễn ra trong đất nước đó.
Họ rêu rao về phường khóm, khu phố, tỉnh thành được mệnh danh là văn hóa, trong khi trên mặt báo thì bất cứ tệ nạn xã hội nào cũng nhiều như rươi, xoắn xít lại với nhau. Họ rêu rao xóa đói giảm nghèo thế mà cứ đọc báo sẽ thấy có những người nghèo đến độ ở Tuy Hòa cách đây vài năm, có một ông chồng dùng dao phay để mổ bụng cho bà vợ khó đẻ, chỉ vì không có tiền đưa vợ đi nhà thương hàng tỉnh. Thế nhưng có những viên chức nhà nước đánh bạc thua 1.8 triệu đô la trong một tháng, hay cưỡng dâm gái vị thành niên, để rồi phải lòi bạc tỉ ra bồi thường. Họ rêu rao chống tham những, thử hỏi những người như Bùi Tiến Dũng, Lương Quốc Dũng lấy tiền ở đâu mà nhiều thế. Họ lớn tiếng về nhà tình thương, có nhiều căn người được hưởng không dám dọn vào, vì sợ nhà sập đè chết. Chưa có một chế độ nào dối trá, lừa đảo dân chúng nhiều như chế độ hiện tại ở trong nước. Tôi biết lịch sử không thể thay đổi, không nên nói về quá khứ. Thế nhưng với những gì đang xẩy ra trong hiện tại, chúng ta làm sao có thể nói đến được tương lai.
TP: Tôi khuyên giới trẻ quên hết hận thù, chịu khó học hỏi và không mù quáng. Giới trẻ cần tranh đấu với sự độc tài, độc đảng đã làm cho quốc gia trì trệ, kém phát triển.
TCT: Tôi muốn nói với thế hệ con cháu rằng, chiến tranh là thất sách, là tàn ác và vô nghĩa. Chúng tôi cầu mong cho thế hệ trẻ làm thế nào để đất nước sớm có tư do dân chủ, giữ vững được chủ quyền của dân tộc, tránh được sự phụ thuộc vào nước ngoài.
VH: 31 năm đã qua đi, nếu có thể nói điều gì với những người lính Việt nam cộng sản, những cựu thù của mình thì ông sẽ nói gì?
PVB: Ðã trải qua 31 năm dưới chế độ độc tài áp bức, dân nghèo nước nhược do thiếu khả năng quản trị điều hành chính quyền của những người cầm quyền Việt Nam đương thời. Những người lính trong cuộc chiến Việt Nam vừa qua ở phía này hay phí kia, đều cưu mang lý tưởng dân an nước thịnh.
Không ai có thể bắt lịch sử đứng lại, không ai có thể lãnh đạo quốc gia bằng với những gía trị cổ điển, lỗi thời, hoặc phủ nhận hoặc từ chối gía trị chung của nhân loại đương đại - như mang ấm no, hạnh phúc, thịnh vượng cho dân tộc Việt Nam và theo kịp tiến trình chung của nhân loại, như điều tâm nguyện của những người lính cầm súng chiến đấu vì tổ quốc trước đây từng nghĩ.
NVH: Tôi đã trả lời ở trên là đời người ta thì thoảng qua như gió, còn lịch sử thì chậm như rùa. Với thành tích bầu cử vừa rồi của Đảng Cộng Sản, thì mới có 31 năm mà nhằm nhò gì. Ba thế kỷ nữa cũng sẽ vẫn thế, nếu.. Lại NẾU.. nữa. Nói gì thì gì, tôi vẫn tin là đất nước đó phải thay đổi, bằng cách này hay cách khác. Nếu mười năm, hai chục, thậm chí năm chục năm nữa mà không thay đổi thì tôi xin cảm phục chị Dương Thu Hương khi chị cho ra một nhận xét là dân tộc Việt Nam có thừa anh hùng để chống ngoại xâm nhưng quá nhu nhược với nội xâm.
TP: Tôi muốn nhắn nhủ với họ rằng, họ đừng quá tự hào với chiến thắng của mình. Tôi thông cảm với họ. Thực ra, họ may mắn hơn chúng tôi vì sự sắp xếp của các cường quốc ngoại bang có lợi cho họ. Nhưng chiến thắng đó không phải đã mang lại hạnh phúc cho toàn dân tộc.
TCT: Chúng tôi rất thông cảm với họ. Thực ra chúng tôi là anh em, hai thể chế khác nhau, sự tuyên truyền khác nhau... Chúng tôi đáng thương, anh em bộ đội cũng rất đáng thương. Họ đã hy sinh quá nhiều, chết chóc cũng nhiều hơn chúng tôi. Tôi hoàn toàn thông cảm với họ, họ là những người yêu nước. Đương nhiên, họ yêu nước theo kiểu XHCH, chắc giờ đây họ cũng trăn trở về cái cách yêu nước của họ. Rốt cuộc, mặc dù đánh nhau giết nhau nhưng chúng tôi là anh em.
Đọc bài có liên quan: Người lính Việt Nam cộng sản và ngày 30/4
Copyright © 2006 DCVOnline
![]() |
| Cựu Đại uý Phạm Văn Bản cạnh A-37 -- Ảnh: DCVOnline
|
Tôi là sĩ quan không quân, tốt nghiệp trường phi hành Hoa Kỳ về nước vào tháng 7 năm 1973, có số điểm huấn luyện 91.56 (Grade A, điểm hạng ưu cấp quốc tế). Theo chỉ thị của Bộ Tư Lệnh Không Quân, ưu tiên cho những sinh viên có số điểm huấn luyện hạng cao, tôi được quyền chọn lựa đơn vị tác chiến. Tôi về phục vụ gần nguyên quán, sống gần với cha mẹ và nơi sinh trưởng của mình. Tôi trình diện Sư Đoàn 4 Không Quân ngày 15 tháng 11 năm 1973, và về Phi Ðoàn Thần Báo phục vụ chiến đấu cho tới giờ phút cuối cùng. Thời gian tác chiến của tôi, đúng là một năm sáu tháng.
Tôi cũng xin thưa, trước khi tôi về binh chủng Không Quân, tôi đã là thông dịch viên của Bộ Tư Lệnh Lục Quân Hoa Kỳ tại căn cứ Long Bình, Biên Hòa, từ tháng 5 năm 1968 với cấp bậc Trung Sĩ (Staff Sergeant, E-6). Tôi trực thuộc ngành Dân Sự Vụ (Civic Action) Lữ Đoàn 18 Quân Cảnh (US 18th Military Police Brigate) Lục Quân Hoa Kỳ (US Army). Với chương trình dân sự, nhiệm vụ công tác của tôi gồm cứu trợ, cứu thương, cứu tế, đi xây cất trường học, bệnh viện, nhà thờ, chùa tự, cầu cống, đường xá, chợ... và theo phái đoàn y tế thế giới... để khám bệnh, phát thuốc men, trợ cấp lương thực thực phẩm... cho các đồng bào nghèo khổ ở những nơi xa xôi hẻo lánh trong kế hoạch bình định và phát triển của Lữ Đoàn 18 Quân Cảnh Hoa Kỳ. Ngoài ra, tôi còn có công tác thông dịch thẩm vấn tù binh, điều nghiên tin tức tình báo, mở chiến dịch bình định và phát triển nông thôn, thâu phục nhân tâm....
Tôi đi du học ngày 9 tháng 11 năm 1971 tại Lackland AFB, Texas khi đang mang cấp Chuẩn úy. Tôi tốt nghiệp Phi công Phản lực (Jet Pilot) tại trung tâm huấn luyện phi hành phản lực Sheppard AFB, tôi được thăng cấp Trung úy. Sau đó một trận đánh, tôi được đặc cách lên cấp Đại úy, kèm theo Chiến thương Bội tinh và Ðệ Ngũ Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương.
Nguyễn Vinh Hiển (NVH): Tôi trình diện Trung tâm 3 tuyển mộ nhập ngũ vào đầu năm 1963, kế đó theo học Khóa 15 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Tính cho tới tháng 4 năm 1975 tôi có hơn 12 năm mặc áo nhà binh. Sau khi mãn khóa huấn luyện vào cuối năm 1963, tôi được chọn vào binh chủng Quân Cảnh. Cấp bậc sau cùng của tôi là Đại Úy, chức vụ là Chỉ Huy Trưởng Trại Tù Binh Cộng Sản Việt Nam ở Phú Tài (Qui Nhơn)
Trần Phi (TP): Thưa chị, tôi đã tại ngũ được gần 14 năm từ năm 1962 tới năm 1975. Đầu tiên tôi làm Thông dịch viên cho Đệ Ngũ Liên Đoàn lực lượng đặc biệt của Hoa Kỳ sau đó tham gia lực lượng này với cấp bậc Đại úy. Tôi thuộc lực lượng biệt kích. Những đơn vị đàn anh của tôi, họ được tung ra miền Bắc nhưng tôi vào lực lượng biệt kích rất trễ nên đang chuẩn bị nhảy ra ngoài miền Bắc thì cuộc đảo chính ông Ngô Đình Diệm xảy ra nên chúng tôi không phải đi nữa. Sau này chúng tôi có đi nhảy dù vào các mật khu của Việt cộng. Trực thăng đã thả chúng tôi vào và đón chúng tôi về.
Trần Cẩm Tường (TCT): Tôi tại ngũ 13 năm, cấp bậc Thiếu tá, tôi thuộc Sư đoàn 18 Bộ Binh. Tôi xuât thân từ trường Võ bị Đà Lạt, tôi được đào tạo chính quy.
VH: Ông có nhớ đã tham gia bao nhiêu trận đánh? Ông có bị thương không?
PVB: Tôi đã có tổng cộng hơn 1200 giờ bay trong phiếu phi hành, đã tham chiến với hàng ngàn phi vụ yểm trợ, oanh kích những vùng phi quân sự, Cục R, đường mòn Hồ Chí Minh, hay địa đạo Củ Chi, hoặc Lộc Ninh thủ đô của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Ngoài ra, tôi còn có nhiệm vụ phải chở các anh / chị phóng viên Đài Truyền Hình Cần Thơ mang máy quay phim đi quay phim chiến trường... thời ấy tôi đã thường viết chính luận và đăng tải trên số báo chí Sài Gòn.
Tôi cũng tham dự nhiều trận oanh kích lớn, và hợp đoàn bay với hàng trăm tàu bạn để không tạc Hạ Lào, Biển Hồ, Lộc Ninh, Ban Mê Thuật... Tôi đã được mệnh danh là Tank Killer (người săn T54).
Là hoa tiêu điểm đầu nên tôi cũng được cử phi vụ hợp đoàn không chiến và yểm trợ Hải Quân VNCH trong cuộc tấn công Hải Quân Trung Quốc tại đảo Hoàng Sa. Tôi nhớ lại rằng ngày ấy chúng tôi tập dượt không chiến và chuẩn bị cho trận đánh ra quần đảo Hoàng sa. Tiếc thay, vào phút cuối, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lại ra lệnh không cho chúng tôi tiếp tục thi hành trận địa chiến và không chiến này (Air-to-Ground, Air-to-Air), với lý do mà Tổng Thống đưa ra là "bảo vệ tài nguyên quốc gia."
Tôi có bị thương trong trận Klong Khot, một phi vụ nhằm xóa sổ Công Trường 9 miền Bắc đang tiến vào miền Nam qua ngõ Laos và Cambodia. Đúng lúc 3 giờ chiều ngày 26 tháng 1 năm 1975, vừa đánh xong vòng bom thứ hai, trong lúc tăng tốc lấy lại cao độ, thì tôi bị bắn hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7, bị nổ tung máy cánh trái, tôi thì bị thương phải nhảy dù. Khi dù mở lơ lửng trong không gian thì tôi dần dần hồi tỉnh, đếm được hơn trăm mũi đạn địch đang bắn tôi, nổ lỗ chỗ trên cánh dù. Tôi phải lái dù chạy tránh xa mục tiêu, rồi đáp xuống khu rừng hoang vắng trên phần đất Cambodia, cách xa biên giới Tây Ninh khoảng hơn trăm cây. Tôi chui vào một bụi cây ẩn nấp trước khi cảm thấy mình ngã gục. Tôi hạ chiếc máy vô tuyến liên lạc và cây súng ngắn sang một bên, mở hành trang và đọc sách hướng dẫn, lấy thuốc men và băng bó vết thương, ăn chút lương khô. Khi bị thương ra máu là lúc khát nước nhất, mà uống nhiều nước thì khó sống. Trời tối dần... sau khi đánh bức điện morse đi, các bạn thân của tôi từ khắp nơi đã đến cứu, gồm có A37, F5, trực thăng kéo tới đánh bom và thả trái sáng, tạo vành đai an toàn cho tôi trú ẩn qua đêm. Vì đạn bắn như mưa, nên mãi tới sáng tôi mới được bốc lên trực thăng tải thương mang về tiền đồn biên giới Châu Đốc băng bó vết thương. Trên trực thăng tôi đã xỉu nhiều lần, nhưng khi tỉnh thì rất khát nước. Lúc đó tôi thấy có người cầm bông thấm nước từ bidon rồi đặt trên môi. Tôi mở mắt thấy ông tướng hai sao, vội dơ tay chào, nhưng cánh tay đang cột vào bangka. Ông tướng nhìn tôi mỉm cười vì hiểu ý định của tôi, đó chính là Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Vùng 4 Chiến Thuật, người sau đó đã tuẫn tiết khi Sài Gòn thất thủ. Tôi liếc nhìn xuống chiếc vai áo rách nát của mình và thấy vật lạ... ba bông mai vàng mới toanh của cấp đại úy đã được Thiếu Tướng Nam gắn cho tôi lúc còn bất tỉnh; ông nói: "Nằm nghỉ đi em, Thần Báo 2".
![]() |
| Cựu Đại uý Nguyễn Vinh Hiển ở Hà Nội -- Ảnh: DCVOnline
|
Sau cùng trong hồi kết cuộc của cuộc nội chiến Nam Bắc, tôi dẫn đầu một đơn vị từ Qui Nhơn triệt thoái về phía nam, và bị vây đánh ở Tuy Hòa. Lần này thì tôi gom góp tất cả các tàn binh lạc ngũ của các đơn vị khác, rút về cố thủ tại doanh trại của Tiểu Khu Tuy Hòa, cố cầm cự để chờ viện binh tới. Lúc đó đơn vị do tôi chỉ huy là một tiểu đoàn trừ, cộng với các binh sĩ lạc ngũ của các đơn vị khác thành một đạo quân hơn một tiểu đoàn. Súng ống thì nhiều vô kể, nhưng tinh thần binh sĩ hầu như không có. Tôi và các sĩ quan dưới quyền đôn đốc binh sĩ trên các tuyến phòng ngự bằng những máy phóng thanh xách tay của đơn vị tôi, hệt như dẫn lính đi tập bắn. Chúng tôi cố thủ tiểu khu Tuy Hòa từ 6 giờ 30 sáng cho tới 11 giờ trưa, thì xe tăng của Bắc Quân vào trận. Chúng tôi không chống trả nổi hỏa lực của các chiến xa này, đành phải phân tán nhỏ hàng ngũ, rồi rút lui qua ngả sau của Tiểu Khu Tuy Hòa. Tôi dẫn được một tiểu đội leo lên được một con thuyền đánh cá, và được chở vào Nha Trang. Tôi có ghi lại trận đánh này trong cuốn hồi ký Ngày N+.. Đó là lần đụng độ đầu tiên và là cuối cùng với quân đội miền Bắc trong hơn 12 năm quân ngũ của tôi. Tất nhiên, có nhiều người chết trong trận đánh này.
TP: Số trận đánh mà tôi đã tham gia thì nhiều lắm. Tất cả những mặt trận lớn thì lực lượng biệt kích, lực lượng đặc biệt của chúng tôi đều được tung vào để giải tỏa các trận đánh. Nhưng số tôi rất may, tôi chỉ bị thương có hai lần.
TCT: Tôi được huấn luyện sỹ quan chính quy, ra trường năm 1965 đến năm 1975 tôi đã tham gia rất nhiều trận đánh từ những trận đánh nhỏ tới những trận đánh lớn, tôi có bị thương 5 lần nhưng cũng may đạn chỉ vào thịt thôi.
VH: Kỉ niệm nào đáng ghi nhớ nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông?
PVB: Về kỷ niệm đáng ghi nhớ trong đời binh nghiệp của tôi, thưa Cô Việt Hồng có lẽ sáng đẹp nhất trong lòng tôi cho tới ngày nay là hình ảnh của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, người tuẫn tiết khi Sài Gòn thất thủ. Sau khi tầu tôi trúng đạn và tôi nhảy dù, vị Tư Lệnh Vùng IV này đã túc trực trên trực thăng bay quan sát trên mục tiêu tại chiến trường mà tôi đang ẩn náu, cho tới khi cứu được tôi như câu chuyện tôi đã trình bày phần trên. Đó là kỷ niệm sống trong tôi và tôi đã khóc thương Thiếu Tướng Nam khi nghe người sĩ quan tùy viên của Ông và cũng là bạn của tôi thuật lại chuyện.
NVH: Kỷ niệm đáng ghi nhớ trong đời binh nghiệp... Với một thời gian quân ngũ kéo dài hơn 12 năm, lại thuyên chuyển đi đủ bốn vùng chiến thuật, thành thực mà nói tôi có quá nhiều kỷ niệm trong đời quân ngũ của tôi. Nhưng có lẽ kỷ niệm sâu đậm nhất trong đời quân ngũ của tôi lại không liên hệ tới cuộc đời binh nghiệp của tôi. Cuối năm 1967, tôi phải thuyên chuyển ra trại tù binh Phú Quốc, mặc dù chỉ mang cấp bậc Trung úy, song tôi phải đảm nhiệm 2 chức vụ mà trên bảng cấp số các chức vụ này đều là Thiếu tá. Trong thời gian này, những dấu hiệu từ các mặt trận ở bốn vùng chiến thuật cho biết Bắc Quân sẽ mở những trận đánh lớn trên bốn vùng chiến thuật, và vì vậy quân đội miền Nam phải thiết lập thật mau một trại tù ở Phú Quốc có khả năng giam giữ đến 30 ngàn tù binh của các trại giam ở trong đất liền đưa ra, vì sợ rằng Bắc Quân sẽ dùng những đơn vị nhỏ cảm tử, đánh giải vây cho các trại giam ở đất liền. Chúng tôi vừa xây doanh trại, vừa tiếp nhận tù binh. Một lần đi thăm viếng doanh trại đang được Công binh hoàn tất, để đón nhận thêm tù binh mới, tôi thấy một người lính Công binh ôm một người tù khóc ròng. Hỏi ra thì biết họ là anh em ruột. Người anh trọ học ở ngoài tỉnh, rồi đến tuổi quân dịch thì đăng lính Công binh. Người em ở nhà quê bị cưỡng bách gia nhập bộ đội của MTGPMN. Cả đêm đó tôi không ngủ được khi nghĩ tới hai anh em người này. Họ may mắn gặp nhau dù trong hoàn cảnh trớ trêu, nếu không may họ có thể bắn vào nhau trong một trận đánh nào đó. Và chuyện đó hình như không thiếu trong chiến tranh VN. Bản thân tôi là một sĩ quan của trại giam, cha tôi dặn tôi lập cho ông một danh sách những người tù binh miền Bắc, sinh đẻ ở mấy huyện quê nội và quê ngoại tôi trong tỉnh Hải Dương. Tôi lập được một danh sách vài chục người đem về. Cha tôi đọc chăm chú, ngẫm nghĩ một hồi rồi chỉ vào cả chục người trong danh sách, nói rõ gốc gác của những người này. Có hai người trong danh sách tôi thiết lập cho cha tôi xem, là anh em họ với tôi.
TP: Nói chung thì không có kỷ niệm nào đáng ghi nhớ nhiều, tôi chỉ xin kể vắn tắt về một biến cố trước ngày 30/4. lúc đó đơn vị chúng tôi được điều về bảo vệ Đài truyền hình ở Sài Gòn. Đang buổi trưa thì tự nhiên chúng tôi mất hết liên lạc với cấp trên. Rồi tôi thấy xe tăng Bắc Việt tiến vào và chúng tôi nhận được lời kêu gọi buông súng đầu hàng. Lúc đó chúng tôi rất ngỡ ngàng. Quân đội Bắc Việt chào chúng tôi và chúng tôi cũng chào họ. Cảm giác lúc đó khôi hài lắm. Sau này thì tôi được biết rằng quân đội Bắc Việt được lệnh không được bắn giết chúng tôi mà phải đối xử với chúng tôi nư anh em. Lúc dó họ rất vui vẻ khi thấy chúng tôi, chúng tôi cũng vui cười khi thấy họ. Có nhiều người lính VNCH vứt bỏ súng ống, họ đã nhắc chúng tôi cầm súng đem về nhà đi, rồi sau sẽ trình diện, không nên vứt súng như vậy để những kẻ cướp giật có thể lợi dụng. Theo nhận định của cá nhân tôi thì thái độ của họ lúc đó tử tế. Điều đó cũng an ủi chúng tôi nhiều và riêng tôi, không ngạc nhiên gì về ngày 30/4. Tôi biết đã có cuộc sắp đặt của người Mỹ, số phận miền Nam Viêt Nam được quyết định trước đó rồi.
TCT: Có 2 trận đánh mà trong đời tôi không thể nào quên được, đó là trận năm 1972 tại An Lộc và thứ hai là trận đánh tại Long Khánh vào tháng 4 năm 1975.
VH: Ngày 30/4/1975 ông đang ở đâu? Cảm giác của ông khi đó như thế nào?
PVB: Lúc 10 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, tại phi trường Bình Thủy, tôi nhận lệnh oanh kích khu vực vòng đai an ninh vì địch quân tràn tới Lộ Tẻ Ba Xe. Khi tôi vác dù ra xe để ra phi đạo lấy tàu trong tiếng reo hò vang dội của anh em Sư Ðoàn 4 Không quân đang cổ vũ cho tôi. Khi đang thi hành công tác đánh bom, tôi nghe lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh, mà nước mắt tuôn trào. Thương cho chính mình, thương cho dân tộc mình, và thương cho vợ con tôi kẹt lại, nên tôi bay trở lại, đáp xuống phi trường Trà Nóc đúng 2 giờ chiều ngày đó; mặc cho bạn bè năn nỉ hối thúc đi Utapao, Thái Lan.
Cảm giác của tôi lúc đó thật là lẫn lộn dù tôi là người thuộc dạng bình tĩnh là và tự tin. Vào thời du học Hoa Kỳ, tôi đã tới thư viện tìm đọc sách nói về chiến tranh Việt Nam của cả hai phía. Tôi cũng tưởng Việt cộng sẽ thi hành chính sách hòa hợp hòa giải như sau cuộc nội chiến Nam Bắc của Hoa Kỳ năm 1865, cách nay 100 năm. Do đó, tôi có cảm giác an toàn trong ngày 30 tháng 4 năm 1975 sau khi tôi đọc chính sách 7 điểm của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Những người cộng sản đã đánh mất cơ hội ngàn vàng để mở ra trang sử huy hoàng cho dân tộc ta. Chiếu hoa không ngự mà lại tranh giành để ngồi vào manh chiếu rách!
NVH: Ngày 30 tháng 4 tôi ở Sài Gòn, những đêm trước của ngày này tôi nằm ngủ trong căn nhà mà tôi đã sống suốt thời niên thiếu, trên chiếc giường sắt nhà binh, mà cha tôi đã mua lại từ khi gia đình tôi di cư vào Nam. Có một hai đêm tôi leo lên mái nhà, nằm nhìn những trái hỏa châu được pháo binh bắn đi từ căn cứ ở Phú Lâm, thỉnh thoảng thấy một chiếc máy bay đơn lẻ lao mình trong đêm tối. Những tiếng súng từ xa ì ầm vọng lại. Vòng vây cứ mỗi lúc mỗi tiến gần lại Sài Gòn, những ngả thoát đã bị bịt kín. Đường Biên Hòa, Vũng Tầu đã bị chặn, chỉ còn một ngả duy nhất xuống vùng IV, thế nhưng tình hình này không hiểu số phần của miền Nam còn kéo dài được bao lâu. Tôi nghĩ tới hai chục năm của gia đình tôi, của cá nhân tôi trong vùng đất này. Có lúc tôi hơi oán cha tôi, khi nhập ngũ khóa 15 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, tôi đã rắp tâm tình nguyện gia nhập binh chủng Biệt Động Quân. Thế nhưng do những vận động của cha tôi, tôi ra trường trở thành một sĩ quan Quân Cảnh. Chính vì vậy mà tôi trở thành một sĩ quan ba gai nhất binh chủng. Phải chi cứ để tôi ở Biệt Động Quân, có thể tôi đã chết từ nhiều năm trước, như những người bạn cùng khóa tôi ở binh chủng này giờ đây đã chết bẩy, còn ba, chết hai, còn một mới ra cảnh này. Cho dù nếu không chết thì có thể trong phút cùng đường, tôi có thể cùng với vài binh sĩ dưới quyền đổi mạng mình, lấy một cái gì đó.
Phải chính vì cha tôi và nhiều người cha khác không muốn con mình chường mặt ra mặt trận, nên miền Nam mới có ngày thê thảm như thế này. Tất nhiên tôi cũng hiểu trong cuộc chiến tranh nồi da sáo thịt này, số phận của miền Nam không hoàn toàn nằm trong tay của người miền Nam. Số phận của miền Bắc thì phần vì may mắn hơn, phần vì những người lãnh đạo ở miền Bắc có trái tim không chứa máu người, có khối óc đã hóa thạch nên sau này cảnh kết thúc của chiến tranh mới kinh hoàng như thế.
TP: Cảm giác của tôi lúc đó rất hoang mang, sợ sệt, lo lắng cho tương lai của mình. Thực ra tôi đã biết trước số phận của miền Nam Việt Nam ngay từ cuộc hòa đàm Paris năm 1972, lúc đó tôi đã biết rằng Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia CS.
TCT: Ngày 30/4/1975 chúng tôi đang chỉ huy Tiểu Đoàn thuộc Sư Đoàn 18 Bộ Binh, tiểu đòan của tôi lúc đó khoảng 600 quân, chia làm 4 đại đội tác chiến và 1 đại đội chỉ huy. Chúng tôi đánh nhau suốt từ ngày 10/4 tại Long Khánh từ đó kéo dài tới Long Bình rồi tới Trảng Bom. Ngày 30/ 4 chúng tôi kéo quân lên đồi Bác Sỹ Tín đối diện với Nghiã trang Quân đội để chặn lực lượng từ ngoài Bắc tiến vào. Chúng tôi đánh nhau tới khi có lệnh đầu hàng của Tướng Dương Văn Minh. Ngay cả khi có lệnh rồi, một số anh em vẫn không muốn buông súng, tinh thần của chúng tôi vẫn chưa bị sa sút. Theo lệnh ông Dương Văn Minh chúng tôi phải bàn giao vũ khí lại cho phía bên kia. Chúng tôi hoàn toàn bất ngờ và xúc động trước lệnh đầu hàng.
VH: Ngày 30/4 có ý nghĩa thế nào trong cuộc đời ông?
PVB: Tôi phát hiện ra người cộng sản nói không cho trúng, khi tôi đứng bên Trung Tá Nguyễn Văn Nguyên Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Bình Thủy còn ở lại để làm cuộc bàn giao đơn vị cho phía miền Bắc. Những lời nói, những cử chỉ, hành động hống hách của người cộng sản lúc đó tạo cho tôi một cái nhìn không phục, không tin về họ.
Tất cả đã giải đáp cho tôi những gì suy tư tìm hiểu đúng đắn như lời ông cha tôi nhắn nhủ căn dặn tôi về người cộng sản: vừa cố chấp, không lẽ phải, và giết người một cách lạnh lùng. Sau ngày mất nước, tôi càng khâm phục tiền nhân với lời nhận xét qúa đúng về bản chất của người cộng sản Việt Nam. Từ đó tôi lại càng xót thương cho dân tộc tôi chịu đắng cay bởi loại người cầm quyền phi nhân bản tính như thế này. Và đảng cộng sản cầm quyền thì đất nước này đã không ngóc đầu lên nổi, người nghèo thì càng nghèo khổ thêm, và xã hội trở nên mê muội dốt nát, đầy dẫy bất công, thối nát.
NVH: Tôi thường nghĩ đến hai biến cố lớn nhất trong lịch sử cận đại Việt Nam. Trước tiên là biến cố chia đôi đất nước vào năm 1954. Khách quan mà nói thì biến cố này tuy là một vết dao chém ngang mình tổ quốc, đất nước bị chia đôi. Nhưng nếu không có biến cố này thì nước Việt mãi mãi chỉ tốn tại trên mặt cai trị hành chánh mà thôi. Còn về ngôn ngữ, văn hóa vẫn là ba phần đất riêng biệt. Những người Bắc vào Nam, và những người Nam ra Bắc vô hình chung là những chất xúc tác cho việc tái thống nhất cả ba miền trên nhiều lãnh vực.
Giờ tới biến cố thứ hai chính là việc tái thống nhất đất nước, hay chính là biến cố 30 - 4 - 75. Tôi là một người lính của miền Nam, cũng như hàng triệu người miền Nam khác mong muốn việc thống nhất này sẽ diễn ra theo chiều từ Nam ra Bắc, và nếu vậy chắc chắn là sẽ đẹp hơn cái chiều từ Bắc vào Nam như lịch sử đã diễn ra trong ba chục năm nay. Nhưng lịch sử thì không thể NẾU, hiện nay quốc gia đã thu về một mối, việc tái thống nhất này nếu được chỉ đạo bởi những khối óc thông minh, không bệnh hoạn thì đất nước giờ đây hẳn là tươi sáng hơn. Dù kết quả ngày hôm nay có xấu thế nào chăng nữa, thì nghĩ cho cùng việc tái thống nhất đã làm cho nước Việt hiện nay đồng nhất hơn cách đây năm chục năm.
Nói tóm lại ngày 30 - 4 đối với cá nhân tôi là một vết thương không bao giờ ngậm miệng, nhưng đối với lịch sử thì chẳng qua đó là chỉ là một cái chớp mắt, trong cái chớp mắt này có hàng triệu người nằm xuống, có hàng triệu người phải bỏ nước mà đi. Chẳng may sinh ra trong thời điểm đen tối đó, tôi chỉ mong những thế hệ sau của lịch sử sẽ không bị cai trị bởi những con người bệnh hoạn như cả nước đang gánh chịu hiện nay.
TP: Tôi muốn quên hết quá khứ để sống với hiện tại và tương lai. Tôi ít khi nhớ tới ngày này, nhiều khi do bạn bè nhắc tới hoặc do đọc báo tôi mới nhớ tới nó.
![]() |
| Cựu Thiếu tá Trần Cẩm Tường, Xưa và Nay -- Ảnh: DCVOnline
|
Đến bây giờ mỗi khi ngày 30/4 đến, sự xúc động trong tôi vẫn còn, tuy nó dịu dàng hơn. Tôi thật khó diễn tả cảm giác của tôi về ngày đó, tôi cảm thấy như đã mất mát một cái gì đó quý báu nhất cuộc đời mính.
TCT: Ngày 30/4 tôi thường nhớ tới những đồng đội của mình, thương tiếc những người đã ra đi.Tôi rất đau lòng thấy các Nghĩa trang của anh em VNCH tại VN bị san phẳng, bị phá phách hoặc không ai chăm sóc. Ở nước ngoài, chúng tôi cũng có tượng đài để kỉ niệm, thắp nén nhang cho anh em, đồng bào đã hy sinh. Ngày 30/4 năm nay, chúng tôi cũng sẽ kỷ niệm, làm lễ truy điệu, cầu nguyện cho linh hồn anh em VNCH và đồng bào siêu thoát
VH: Sau năm 1975, ông có bị đi trại cải tạo không?
PVB: Sáng ngày 5 tháng 5 năm 1975, CS kêu gọi sĩ quan của chế độ cũ trình diện học tập cải tạo, với thời gian một tuần tới 10 ngày, nhớ mang theo đồ dùng cá nhân và tiền chi tiêu ăn uống. Tôi vừa bước ra sân thì thấy ồn ào, đội võ trang vây bọc và lên đạn AK lách cách, một người tiến lại đọc lệnh bắt tôi. Sau ít giây ngạc nhiên, họ trói tôi và lấy khăn bịt mắt rồi dẫn đi, mặc những tiếng than khóc van xin của cha mẹ, vợ con, anh em và những bạn bè thân thiết của tôi.
Ban quân quản Kiên Tân bắt đầu hỏi tôi và bắt tôi viết lời khai, họ tuyên bố với tôi rằng: "Anh thuộc diện đối tượng của tỉnh, chúng tôi thi hành lệnh tìm anh." Trời tới nhá nhem tối, tôi được lôi ra khỏi cũi sắt cùng với hàng chục sĩ quan VNCH khác, được mang lên xe bít bùng áp tải chở đi. Xe chạy vòng vo, có lẽ họ muốn đánh lạc hướng nhưng với tôi thì vùng này không xa lạ vì tôi sinh trưởng ở đây.
Sau khi bị thanh lọc ở Rạch Giá, chúng tôi được chuyển tới trại tù binh U Minh có 8 cái K và bị đóng quyện (cùm chân) và bộ đội canh gác. Dưới lưng thì nước ngập đỏ như máu, muỗi đông như trấu và đỉa lền như bánh canh. Ðã đói khổ rách rưới thì chớ, muỗi mòng lại cũng đồng ý theo phe thắng trận chỉ săn tù nhân cải tạo khốn khổ mà cắn mà hút. Thật là thê lương. Và tôi đã bị hành hạ trong suốt 7 năm tù đến nỗi gần đứt gân chân phải.
NVH: Không, tôi may mắn thoát được ra nước ngoài.
TP: Dạ có, thưa chị. Tôi bị đi cải tạo 4 năm, năm đầu tiên tôi cải tạo ở trại Đá Bàn (Khánh Hòa), họ đối xử với chúng tôi rất tệ. Lúc đó họ sử dụng cán bộ quản giáo là những người vô học. Họ đối xử với chúng tôi khi đó hết sức tàn nhẫn. Sau năm 1976, tôi được chuyển sang trại A 30, ở đó họ đối xử với chúng tôi tốt hơn một chút nhưng vấn đề cưỡng bức lao động vẫn thường xuyên xảy ra. Họ muốn hành hạ chúng tôi bằng lao động. Tôi có một chút may mắn là, trong thời gian tôi cải tạo, tôi quen một ông Trung tá công an, ông ấy cũng biết rõ hoàn cảnh của tôi và cũng có liên hệ với phía gia đình tôi. Ông ấy đã giúp tôi được ra trại sớm. Khi về địa phương, tôi có chuyên môn là ngành thú y, lúc đó huyện đang thiếu người nên tôi cũng được trọng dụng nên tôi hòa nhập vào cuôc sóng cũng không mấy khó khăn. Sau đó tôi xin ra nước ngoài theo diện bảo lãnh nhưng không được chấp nhận, tôi vượt biên năm 1989.
TCT: Tôi bắt buộc phải đi trình diện cải tạo. Tôi đã ở trại cải tạo trong 7 năm, ở ngoài Bắc. Đó là những ngày rất đen tối, nằm giữa núi rừng Yên Bái, chúng tôi không biết gì về cuộc sống bên ngoài. Chúng tôi vừa đói, khát, vừa mang nỗi niềm nhục nhã của những người thua trận.
Ra khỏi nhà tù nhỏ, chúng tôi vào "nhà tù lớn". Bẩy năm sau, tôi trở về, nhà của tôi bị chiếm mất, tôi không được ở, vợ con phải bị đưa về quê. Không chịu được cuộc sống trong cái "nhà tù lớn" này, năm 1984 chúng tôi đã vượt biên.
VH: Ông có hay trăn trở về nguyên nhân thất bại của quân đội VNCH không? Theo ông tại sao quân đội VNCH lại thất bại?
NVB: Theo tôi, VNCH đã thiếu vắng một nền tảng căn bản về triết thuyết dân tộc, vững chắc nhằm nêu cao chính nghĩa quốc gia; đồng thời, khai triển rộng rãi về sách lược quốc phòng bảo vệ đất nước một cách thực tế, nhằm vận động toàn dân toàn diện trong việc giữ nước và xây dựng phát triển chế độ tự do dân chủ.
NVH: Tất nhiên tôi hay suy nghĩ về việc thất trận của miền Nam, nhất là mỗi khi chẳng may xem phải một phim thuộc hạng bét của Hollywood, do những anh đạo diễn hạng B, làm những phim rẻ tiền về chiến tranh Việt Nam. Các đạo diễn này hoặc vô tình vì không biết, hay có thể cố ý bôi xấu đạo quân có tôi là một người lính trong đạo quân đó. Tôi không bao giờ chấp những đạo diễn của miền Bắc làm phim về chiến tranh Việt Nam. Phần đông các đạo diễn cũng như các kịch tác gia, các nhà văn, nhà thơ xuất thân từ miền Bắc, được đào tạo trong thời chiến tranh chẳng qua chỉ là những con ngựa kéo xe, có hai miếng da che mắt, và họ chỉ có thể nhìn vũ trụ qua hai vệ đường mòn. Nói một cách tệ hại thì chiến tranh Việt Nam chẳng qua chỉ là một canh bạc của các đại cường, máu xương thì của dân Việt, còn miền Bắc với Đảng Cộng Sản Việt Nam được coi là một cửa được các con bạc thông đồng với nhau cho ăn mà thôi.
TP: Nếu có thời giờ, tôi sẽ nói hết để cho cô hiểu, tôi biết trước chiến lược của người Mỹ với Miền Nam Việt Nam nên thất bại của VNCH là lẽ đương nhiên. Tôi không trăn trở gì về điều này.
TCT: Tôi hay trăn trở lắm chứ, là một sỹ quan đựơc huấn luyện chính quy, tôi luôn tự hỏi mình, hỏi người, tại sao chúng tôi lại thất bại. Nhưng rất cuộc thì trong mọi cuôc chiến phải có người thắng, người thua. Đó là lẽ đương nhiên.
VH: Có khi nào ông ân hận hay hối tiếc không về thời gian tại ngũ của mình không?
PVB: Có thể nói, thế hệ của tôi ở miền Nam Việt Nam tự do là được ươm trồng và chăm sóc kỹ lưỡng về đủ mặt do lớp người cha anh truyền đạt. Thành qủa này là do tâm huyết của những lớp người ông, cha anh tôi sau hai thập niên xây dựng kiến thiết quốc gia. Chúng tôi là thế hệ thứ ba, tức người trưởng thành trong nhận thức chính trị, trong sinh hoạt tự do dân chủ, chuộng nhân bản tính và lẽ phải. Do đó, tôi không lấy gì làm ân hận hay hối tiếc, vì tôi làm đúng tiếng gọi của con tim như vừa dẫn chứng.
Thứ đến, đời binh nghiệp đã giúp tôi chấp cánh bay cao, tư tưởng thăng hoa và lao động thăng tiến. Trong 7 năm quân ngũ thì thời gian huấn luyện rất dài và tôi trở thành chuyên viên đa năng. Ví dụ điển hình như trong lãnh vực vi tính, tôi được học hỏi và sử dụng nó từ thập niên 70, chớ đâu phải ngày nay. Ngoài ra còn nhiều lãnh vực khác mà đời quân ngũ của tôi đã tạo cho tôi đi trước những vấn đề thời đại. Chỉ tiếc chăng là tôi chưa được mang vốn liếng sở trường của mình ra để phục vụ cho dân tộc tôi, cho đồng bào tôi. Nợ nước chưa trả, thì tôi ân hận thật.
NVH: Tôi không bao giờ hối tiếc thời gian tại ngũ của tôi. Nếu có hối tiếc thì chỉ hối tiếc là tại sao ngày xưa tôi coi quân đội như là một nơi để du lịch. Lẽ ra tôi phải lo tròn trách nhiệm của một cấp chỉ huy tốt hơn, cho dù có là một cấp chỉ huy nhỏ thì cũng vẫn đội trên đầu một cái casquette sĩ quan, trong đó có một huy hiệu của QLVNCH, với một hàng chữ TỔ QUỐC, DANH DỰ, TRÁCH NHIỆM. Nếu có hối tiếc là trong suốt thời gian tôi ở lính, tôi không gặp được các cấp chỉ huy cao cấp có đủ tài, đức làm cho tôi tâm phục, khẩu phục. Cả miền Nam có khoảng 100 ông tướng, thế mà tôi chỉ nghe được có vài ông Tướng ra Tướng. Cũng nhân nói đến Tướng, tôi muốn nhắc đến ông Tướng Giáp nổi danh ở ngoài Bắc. Tôi không hiểu tài điều binh, khiển tướng của ông Giáp kinh thiên động đĩa tới đâu, nhưng trong những tài liệu mới được bạch hóa sau này cho thấy, trong các cuộc tranh chấp với Lê Duẫn, và Lê Đức Thọ trước kia, và với Lê Đức Anh bây giờ khiến cho tôi nghi ngờ về những lời đồn đại quanh ông. Một ông Tướng lừng danh không thể để cho đối thủ chính trị của mình, bắt ngồi xuống coi về sinh đẻ. Một ông Tướng ra Tướng không thể để cho đàn em bị người ta vu oan, giáo họa, thậm chí bị thanh trừng mà mình thì cứ mũ ni che tai. Một ông Tướng cho ra Tướng khi đi viếng tang một ông Tướng khác (Trần Độ), thì không thể để người ta bắt ép mình phải thay đổi những dòng chữ trên vòng hoa tang.
TP: Tôi luôn hãnh diện về thời gian tôi tại ngũ. Tôi thấy buồn vì số phận của một quốc gia nhược tiểu như VN đã bị các nước lớn xâu xé. tôi rất đau buồn về điều này.
VH: Lịch sử không thể thay đổi nhưng từ đó người ta có thể rút ra những bài học cho các thế hệ sau này. Vậy bài học mà thế hệ các ông có thể để lại cho con cháu mai sau từ cuộc chiến đẫm máu đó của dân tộc theo ông là gì?
PVB: Từ ngàn xưa Tổ Tiên Ông Bà ta cố công lưu truyền một câu chuyện thương tâm về một nàng công chúa mất nước và thành bài học cho con cháu. Thế nhưng lớp người chính trị thời cận đại đã vô tình hay cố ý lãng quên bài học Hồn Nước để gây ra cảnh "huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt."
Sự đau đớn, đắng cay của người Việt Nam chúng ta là do chính những người cầm quyền Việt Nam nhân danh một chủ thuyết ngoại lai (thần Kim Quy) không tưởng để củng cố, bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị (xây Cổ Loa) và áp đặt những chính sách bất nhân, khủng bố để đày đọa và bóc lột chính dân tộc mình một cách tàn nhẫn. Núp dưới chiêu bài chủ nghĩa đấu tranh, tiến bộ... nhóm người cầm quyền đã dựa trên chủ thuyết và thể chế khiếm khuyết đó để hoành hành thao túng. Và ngày nay, chế độ Việt Nam trước mắt chỉ có một mục tiêu tối hậu là trợ giúp những kẻ có ưu thế và độc quyền, được thêm phương tiện ép buộc kẻ khác phục vụ cho họ.
Bài học mà thế hệ của tôi có thể để lại cho con cháu mai sau từ cuộc chiến đẫm máu đó là bài học Hồn Nước của dân tộc Việt Nam.
NVH: Lịch sử không thể thay đổi... Đúng vậy, tôi đã trả lời trong một câu hỏi ở trên, lịch sử thì không thể đi với chữ NẾU. Tôi hiểu điều này, do đó tôi ao ước thấy được một chút tương lai cho đất nước tôi. Trong khi tôi đang trả lời, thì ở Hà Nội người ta đang rêu rao về thành quả của Đại Hội 10, của Đảng Cộng Sản Việt Nam, và tôi không hiểu nổi những gì đang diễn ra trong đất nước đó.
Họ rêu rao về phường khóm, khu phố, tỉnh thành được mệnh danh là văn hóa, trong khi trên mặt báo thì bất cứ tệ nạn xã hội nào cũng nhiều như rươi, xoắn xít lại với nhau. Họ rêu rao xóa đói giảm nghèo thế mà cứ đọc báo sẽ thấy có những người nghèo đến độ ở Tuy Hòa cách đây vài năm, có một ông chồng dùng dao phay để mổ bụng cho bà vợ khó đẻ, chỉ vì không có tiền đưa vợ đi nhà thương hàng tỉnh. Thế nhưng có những viên chức nhà nước đánh bạc thua 1.8 triệu đô la trong một tháng, hay cưỡng dâm gái vị thành niên, để rồi phải lòi bạc tỉ ra bồi thường. Họ rêu rao chống tham những, thử hỏi những người như Bùi Tiến Dũng, Lương Quốc Dũng lấy tiền ở đâu mà nhiều thế. Họ lớn tiếng về nhà tình thương, có nhiều căn người được hưởng không dám dọn vào, vì sợ nhà sập đè chết. Chưa có một chế độ nào dối trá, lừa đảo dân chúng nhiều như chế độ hiện tại ở trong nước. Tôi biết lịch sử không thể thay đổi, không nên nói về quá khứ. Thế nhưng với những gì đang xẩy ra trong hiện tại, chúng ta làm sao có thể nói đến được tương lai.
TP: Tôi khuyên giới trẻ quên hết hận thù, chịu khó học hỏi và không mù quáng. Giới trẻ cần tranh đấu với sự độc tài, độc đảng đã làm cho quốc gia trì trệ, kém phát triển.
TCT: Tôi muốn nói với thế hệ con cháu rằng, chiến tranh là thất sách, là tàn ác và vô nghĩa. Chúng tôi cầu mong cho thế hệ trẻ làm thế nào để đất nước sớm có tư do dân chủ, giữ vững được chủ quyền của dân tộc, tránh được sự phụ thuộc vào nước ngoài.
VH: 31 năm đã qua đi, nếu có thể nói điều gì với những người lính Việt nam cộng sản, những cựu thù của mình thì ông sẽ nói gì?
PVB: Ðã trải qua 31 năm dưới chế độ độc tài áp bức, dân nghèo nước nhược do thiếu khả năng quản trị điều hành chính quyền của những người cầm quyền Việt Nam đương thời. Những người lính trong cuộc chiến Việt Nam vừa qua ở phía này hay phí kia, đều cưu mang lý tưởng dân an nước thịnh.
![]() |
| Trung tá Nguyễn Văn Long tự sát trước tượng đài Thuỷ quân lục chiến Sài Gòn, sáng 30/4/1975
|
Không ai có thể bắt lịch sử đứng lại, không ai có thể lãnh đạo quốc gia bằng với những gía trị cổ điển, lỗi thời, hoặc phủ nhận hoặc từ chối gía trị chung của nhân loại đương đại - như mang ấm no, hạnh phúc, thịnh vượng cho dân tộc Việt Nam và theo kịp tiến trình chung của nhân loại, như điều tâm nguyện của những người lính cầm súng chiến đấu vì tổ quốc trước đây từng nghĩ.
NVH: Tôi đã trả lời ở trên là đời người ta thì thoảng qua như gió, còn lịch sử thì chậm như rùa. Với thành tích bầu cử vừa rồi của Đảng Cộng Sản, thì mới có 31 năm mà nhằm nhò gì. Ba thế kỷ nữa cũng sẽ vẫn thế, nếu.. Lại NẾU.. nữa. Nói gì thì gì, tôi vẫn tin là đất nước đó phải thay đổi, bằng cách này hay cách khác. Nếu mười năm, hai chục, thậm chí năm chục năm nữa mà không thay đổi thì tôi xin cảm phục chị Dương Thu Hương khi chị cho ra một nhận xét là dân tộc Việt Nam có thừa anh hùng để chống ngoại xâm nhưng quá nhu nhược với nội xâm.
TP: Tôi muốn nhắn nhủ với họ rằng, họ đừng quá tự hào với chiến thắng của mình. Tôi thông cảm với họ. Thực ra, họ may mắn hơn chúng tôi vì sự sắp xếp của các cường quốc ngoại bang có lợi cho họ. Nhưng chiến thắng đó không phải đã mang lại hạnh phúc cho toàn dân tộc.
TCT: Chúng tôi rất thông cảm với họ. Thực ra chúng tôi là anh em, hai thể chế khác nhau, sự tuyên truyền khác nhau... Chúng tôi đáng thương, anh em bộ đội cũng rất đáng thương. Họ đã hy sinh quá nhiều, chết chóc cũng nhiều hơn chúng tôi. Tôi hoàn toàn thông cảm với họ, họ là những người yêu nước. Đương nhiên, họ yêu nước theo kiểu XHCH, chắc giờ đây họ cũng trăn trở về cái cách yêu nước của họ. Rốt cuộc, mặc dù đánh nhau giết nhau nhưng chúng tôi là anh em.
Đọc bài có liên quan: Người lính Việt Nam cộng sản và ngày 30/4
Copyright © 2006 DCVOnline
Categories
Phỏng Vấn0 TrackBacks
Listed below are links to blogs that reference this entry: Những người lính Việt Nam Cộng hòa và ngày 30/4.
TrackBack URL for this entry: http://www.dcvblogs.com/mt/mt-tb.cgi/130





Leave a comment