October 2007 Archives

Mạc Việt Hồng - sưu tầm và chuyển ngữ

Brezniew đi thăm nước Mỹ, ông tới thăm một trường phổ thông cơ sở điển hình. Muốn kiểm tra trình độ của học sinh Mỹ, ông hỏi một học sinh bất kỳ:

- Eva và Adam là người nước nào?
- Dạ thưa ngài, người Nga ạ.
- Tại sao? - Brezniew không giấu được vẻ tự hào.
- Dạ, thưa ngài vì ở đó người ta không có đủ quần áo mà mặc và quả táo cũng phải ăn cắp ạ
**

Việt Hồng - sưu tầm và chuyển ngữ

Dưới thời cộng sản, một khách hàng tới nhà máy sản suất xe ô tô FSO:

- Tôi có phiếu mua một chiếc ô tô Maluch (loại ô tô phổ thông dưới thời XHCN ở Ba Lan - người dịch), khi nào thì tôi sẽ nhận được ô tô?
- Thời hạn gần nhất là 10 năm nữa.
- Buổi sáng hay buổi chiều?
- Sáng hay chiều thì khác gì nhau?!
- Dạ, thưa…vì… bưu điện hẹn 10 năm nữa sẽ lắp điện thoại cho tôi vào buổi sáng.

Đưa báo An Ninh Thế Giới ra tòa?

| | Comments (0)

Mạc Việt Hồng


Theo kiện 5 năm để được xin lỗi

Trong những ngày vừa qua, truyền thông và dư luận xã hội Ba Lan sôi nổi bàn cãi về trường hợp một công dân bình thường - bà Alicja Tysiac đã thắng kiện nhà nước Ba Lan tại Tòa án Nhân Quyền châu Âu Stasbourg. Cũng trong những ngày này, có một vụ thắng kiện khác không kém phần "hoành tráng" của một công dân Ba Lan gốc Việt - ông Trần Ngọc Thành với Hãng Truyền Hình Quốc Gia Ba Lan (Telewizja Polska S.A).


Sự việc xảy ra cách đây hơn 5 năm, ngày 14/11/2001, hai phóng viên Agnieszka Borowska và Monika Michalak của kênh truyền hình TPV1 (kênh truyền hình lớn nhất trong số nhiều kênh của Hãng Truyền Hình Quốc Gia Ba Lan) làm một phóng sự về hoạt động buôn bán của người Việt Nam trên chợ Sân Vận Động Mười Năm (Stadion Dziesięciolecia), thuộc thủ đô Warsaw. Đây là một chợ trời thuộc loại lớn nhất tại Đông Âu hoạt động từ mười mấy năm nay, nơi có vài ngàn người Việt Nam làm ăn, buôn bán và phần lớn không có giấy tờ cư trú hợp pháp tại Ba Lan.

Phóng sự đã nhắc tới ông Thành và công ty TRANSPOL của ông như một trong số những tổ chức Mafia của người Việt chuyên đi thu bảo kê ở khu chợ này. Ông quyết định khởi kiện Hãng Truyền Hình Quốc Gia Ba Lan cùng hai phóng viên Agnieszka Borowska và Monika Michalak vì cho rằng phóng sự đó không những xúc phạm tới cá nhân ông, công ty ông mà còn làm tổn haị tới những hoạt động dân chủ mà ông đang theo đuổi và làm xấu đi hình ảnh của cộng đồng người Việt tại đây. Cũng có dư luận cho rằng, ông bị đặt điều một cách ác ý vì khi đó ông đang là Tổng biên tập nguyệt san báo giấy Đàn Chim Việt (1), một tờ báo không làm vừa lòng những người Việt trung thành với chế độ cộng sản Hà Nội vì vậy có một số người không ưa ông và những hoạt động cổ vũ dân chủ của ông.

DCVOnline phỏng vấn Nguyễn Văn Tánh

| | Comments (0)
Mạc Việt Hồng - thực hiện


DCVOnline: Phóng viên DCVOnline đã có mặt trong cuộc biểu tình phản đối Nguyễn Tấn Dũng trước trụ sở Liên Hiệp Quốc diễn ra từ ngày 20/09/2007 đến ngày 27/09/2007. Dưới đây là cuộc phỏng vấn thực hiện ngày 25/09/2007 bên ngoài trụ sở Liên Hiệp Quốc với ông Nguyễn Văn Tánh, trưởng Ban tổ chức đợt biểu tình này.

Việt Hồng: Xin chào ông Nguyễn Văn Tánh. Chúng tôi hân hạnh gặp ông tại đây và xin có vài câu hỏi nhỏ với ông. Xin ông cho biết đôi điều về thành phần tham gia cuộc biểu tình ngày hôm nay.

Nguyễn Văn Tánh (27/09/2007, NY)
Nguồn: TĐĐ
Nguyễn Văn Tánh: Trong 6 ngày qua chúng tôi tham gia biểu tình chống Nguyễn Tấn Dũng thì ngày hôm nay là cao độ. Những người tham gia biểu tình đến từ Úc Châu, Toronto, Montreal, Pháp, Ba Lan...và hầu hết các tiểu bang của Hoa Kỳ, nơi nào có đông người Việt sinh sống thì đều có cả, nhất là khu vực miền Đông Hoa Kỳ, Nam và Bắc Cali. Người ta đến đây bằng đủ mọi phương tiện: máy bay, xe đò, xe riêng...

Việt Hồng: Theo đánh giá của ông thì ngày hôm nay có khoảng bao nhiêu người tham gia, thưa ông?

Nguyễn Văn Tánh: Thưa cô, tôi thì rất trung thực chứ không có nói sai đâu. Thực sự, hiện tại có khoảng 600 đến 700 người nhưng tôi cũng không rõ phái đoàn của New York và New Jersey có bao nhiêu vì tôi có quá nhiều công việc mà những người này do ở gần đây nên họ đến thẳng nơi biểu tình mà không có đăng ký cho tôi. Trong tay tôi có danh sách của khoảng 500 người, vùng Washington DC 95 người, Philadenphia 50 người, Houston 50, Boston khoảng hơn 100 người, Montreal 48 người... Đó là những dữ kiện mà chúng tôi nắm chính xác.

Nguyễn Tấn Dũng thăm Ba Lan

| | Comments (0)
Mạc Việt Hồng - Phóng sự từ Warsaw


Chiều 13/9/2007, ông Nguyễn Tấn Dũng cùng đoàn tùy tùng hơn 60 doanh nhân đã tới Ba Lan sau khi kết thúc chuyến thăm Cộng Hòa Liên Bang Nga và Cộng Hòa Séc. Theo kế hoạch, Ba lan là trạm dừng chân sau cùng trong chuyến thăm Đông Âu của ông. 10 giờ sáng ngày 14/9/2007 ông có cuộc hội đàm với Thủ tướng Ba Lan Jarosław Kaczynski tại dinh Thủ Tướng (lâu đài Belweder). Chiều tối ngày 15/9, đoàn sẽ lên đường trở về Việt Nam và tuần tiếp theo đó, ông Dũng sẽ sang Mỹ tham dự kỳ họp của Liên Hiệp Quốc.
DCVOnline - Mạc Việt Hồng phỏng vấn Bùi Tín


Việt Hồng: Người ta nói nhiều tới tư tương Hồ Chí Minh, nhà nước đã tổ chức những cuộc thi, những đợt học tập. Vậy theo ông cốt lõi của tư tưởng HCM là gì?

Bùi Tín: Qua những gì tôi đọc về HCM thì tôi thấy, ông nhắc nhiều nhất tới việc "VN bỏ qua phát triển Tu Bản Chủ Nghĩa để tiến thẳng lên CNXH'' . Mẫu mực là mô hình là Liên Xô. Nếu có tư tưởng HCM thì theo tôi đó là tư tưởng rõ nhất, sâu đậm nhất. Cho tới khi chết ông ấy vẫn tin tưởng rằng có thể bỏ qua con đường phát triển TBCN để tiến thẳng lên CNXH.
DCVOnline- Mạc Việt Hồng phỏng vấn Bùi Tín


Việt Hồng: Thưa ông, trong cuộc phỏng vấn lần cuối, chúng ta có đề cập đến vai trò của ông Hồ Chí Minh trong việc du nhập chủ nhĩa Cộng Sản vào Vịêt Nam. Và ông có nói rằng việc đánh giá ông Hồ Chí Minh phải hết sức thận trọng. Cụ thể như thế nào, thưa ông?

Bùi Tín: Đánh giá về HCM phải thận trọng vì vai trò của ông với lịch sử là rất lớn. Như nhiều người biết, ông ấy là người du nhập học thuyết Marx-Lenine vào Việt Nam. Học thuyết ấy đã đóng một vai trò rất quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Có thể nói có ông HCM và cùng với ông ấy là Đảng Cộng Sản Đông Dương mà có cuộc Cách mạng Tháng Tám. Sau đó là cuộc kháng chiến chống pháp, rồi CNXH tại Viêt Nam.

DCVOnline phỏng vấn Bùi Tín

| | Comments (0)
Mạc Việt Hồng - thực hiện


Việt Hồng: Thưa ông, nhân dịp ngày 30/4, DCVOnline chúng tôi muốn có cuộc trao đổi cùng ông với tư cách là một cựu đại tá quân đội Nhân dân Việt Nam, một nhà báo, về cuộc chiến đã qua. Xin ông cho biết, ông thường hay nghĩ về cuộc chiến 32 năm trước không và cảm giác của ông khi nghĩ về nó như thế nào?

Bùi Tín: (cười) Chiến tranh kết thúc đã lâu lắm rồi nhưng làm sao có thể quên được. Cảm giác của tôi là Đảng Cộng Sản (ĐCS) đã bỏ lỡ một cơ hội sau khi hòa bình thống nhất đất nước, bỏ lỡ cơ hội hòa hợp, hòa giải dân tộc để xây dựng một đất nước giầu đẹp hơn. Đó là điều hết sức đáng tiếc vì đó là cơ hội ngàn năm một thuở. Lúc đó chúng ta có điều kiện hòa giải dân tộc, thống nhất anh em sau nhiều năm chia rẽ.

Sức khỏe Nguyễn Vũ Bình giảm sút

| | Comments (0)

DCVOnline phỏng vấn Bùi Thị Kim Ngân

Mạc Việt Hồng thực hiện


Việt Hồng (VH): Thưa bà, chúng tôi được biết, bà vừa đi thăm chồng bà về, vậy sức khẻo của chồng bà hiện nay như thế nào?

Bùi Thị Kim ngân (BTKN): Hôm qua, ngày 15/2, tôi cùng 2 con đi thăm chồng tôi. Anh Bình từ phòng giam đi ra trông rất yếu, anh đi lòng khòng, bước thấp bước cao. Hai cháu nhìn thấy bố thì chạy ra ôm chầm lấy bố. Mọi lần, anh Bình thường bế cả hai chị em lên nhưng hôm qua anh ấy thậm chí không bế nổi con bé thứ 2 năm tuổi lên. Tôi có hỏi: "Anh bị ốm à?". Anh ấy lắc đầu nhưng trông rất mệt mỏi, nhăn nhó vì đau, da sạm, người gầy hơn trước nhiều, lưng còng hẳn xuống, hơi thở ngắt quãng...

DCVOnline phỏng vấn nhà báo Phan Thế Hải

Mạc Việt Hồng thực hiện


Việt Hồng, DCVOnline


Việt Hồng (VH): Thưa anh, vừa rồi thủ tướng chính phủ Việt Nam (VN) ban hành chỉ thị số 37 nhằm siết lại, tăng cường quản lý báo chí và một lần nữa khẳng định VN kiên quyết không tư nhân hóa báo chí, báo giới tại VN đón nhận điều này ra sao?

Phan Thế Hải (PTH): Chỉ thị đó tôi có xem qua nhưng tôi nghĩ hiểu như vậy cũng chưa đúng lắm đâu. Trong chỉ thị đó có điều số 2 hay số 3 gì đó nói rằng chưa cho tư nhân hóa báo chí. Mình phải hiểu như thế này, hiện nay ở VN rất nhiều những tờ báo của nhà nước nhưng phát hành qua các đầu nậu, thông qua các cá nhân. Trên danh nghĩa là của cơ quan nọ, cơ quan kia nhưng do tư nhân thao túng. Chuyện đó là không tốt, giống như nhãn mác hàng hóa phải phản ảnh đúng bản chất của hàng hóa. Còn chuyện báo chí tư nhân núp dưới bóng quốc doanh hay quốc doanh núp bóng tư nhân là một chuyện không minh bạch và cần phải chấn chỉnh thôi ...

DCVOnline Phỏng vấn nhà sư Thích Đàm Thoa

Mạc Việt Hồng thực hiện


DCVonline: Trong những ngày qua, DCVOnline nhận được nhiều đơn thư phản ánh tình hình đàn áp, cưỡng bức dân oan, trẻ em lang thang trở về địa phương hoặc vào các trại xã hội. Trong đó, điển hình là trường hợp của nhà sư Thích Đàm Thoa. Nhà sư cho biết bà bị hàng chục công an cưỡng bức rời khỏi Hà Nội trong những ngày APEC, bị khênh như một con lợn, xé rách nát quần áo...Khi về tới trại Bảo trợ xã hội ở Bắc Giang bà còn bị đánh thâm tím mặt mày, thu giữ tài sản. Những người thi hành công vụ ở đây đã chửi mắng bà, thậm chí gọi bà là "mày". Nửa đêm, họ còn định xông vào phòng bà để tra hỏi và chỉ dừng lại khi bà dọa tự tử. Để rộng đường dư luận, DCV đã có cuộc phỏng vấn bà do Việt Hồng thực hiện

Việt Hồng (VH): Thưa nhà sư Thích Đàm Thoa, DCVOnline. Chúng tôi nhận được tin bà bị cưỡng bức rời khỏi Hà Nội, bị công an giam giữ trái phép, đánh đập, xé rách nát quần áo, tước đoạt tài sản.. xin bà cho biết có ai làm chứng cho bà những việc này không?

Ước mơ cháy bỏng của nhân dân VN

| | Comments (0)

DCVOnline Phỏng vấn Đỗ Nam Hải, Mạc Việt Hồng thực hiện



Việt Hồng (VH): Chào ông Đỗ Nam Hải, chúng tôi được biết là ông mới bị bắt giữ và thẩm vấn, xin ông cho biết cuộc thẩm vấn xoay quanh những vấn đề gì?

Đỗ Nam Hải (ĐNH): Xin chào chị, đúng là tôi, anh Nguyễn Chính Kết và chị Phương Thi mới bị bắt giữ, tôi bị giữ khoảng 10h tại công an quận Phú Nhuận. Nội dung cuộc thẩm vấn xoay quanh vấn đề thành lập Liên minh các lực lượng Dân tộc đấu tranh vì Tự Do Dân Chủ và Dân Quyền cho Việt Nam, gọi tắt là Liên minh Dân Chủ Việt Nam (LMDCNQVN). Công an Việt Nam đã đánh hơi thấy việc chúng tôi đang soạn thảo văn bản này nên họ bắt giữ chúng tôi để thẩm vấn, điều tra.

VH: Xin ông cho biết các ông đã có ý định thành lập LMDCNQVN từ khi nào?

ĐNH: Ý định thành lập đã có từ lâu nhưng chúng tôi thực sự chuẩn bị từ hơn một tháng nay sau khi có lời kêu gọi thành lập LMDCNQVN của khối 8406 do Linh mục Nguyễn Văn Lý soạn thảo ngày 10/9/2006. Chúng tôi đã bàn bạc, trao đổi với nhau nhiều lần qua điện thoại, Internet..., có thể những trao đổi đó đã bị lộ do công an nghe trộm.

DCVOnline phỏng vấn Hoàng Tiến

| | Comments (0)

Mạc Việt Hồng thực hiện




Nguồn: Tập san Tự Do Dân Chủ
Việt Hồng (VH): Thưa ông Hoàng Tiến, trước hết xin được chúc mừng ông và các cộng sự về việc ra mắt tờ báo điện tử Tự Do Dân Chủ ngày hôm nay, 2/9/2006. Câu hỏi đầu tiên, xin ông cho biết sau nhiều ngày liên tiếp bị thẩm vấn, sách nhiễu, đe dọa, thậm chí bị khám nhà thu giữ tài liệu... , điều gì đã khiến các ông quyết tâm ra báo đến như vậy?

Hoàng Tiến (HT): Thưa chị Việt Hồng, quý vị độc giả của Đàn Chim Việt, sau một đợt bị khủng bố khiến cho chúng tôi thấy rằng phải quyết tâm ra được tờ báo chứ không thể lùi được vì chúng tôi cho rằng những việc mà chúng tôi làm là không có gì vi phạm Hiến Pháp cả. Hiến Pháp từ năm 1946 đã quy định như vậy, sau nhiều lần sửa đổi, đến nay Hiến Pháp vẫn quy định con người có quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận. Nhà cầm quyền hiện nay không chịu thực hiện điều đó thì chúng tôi phải tranh đấu để đòi cho bằng được.
Mạc Việt Hồng thực hiện


Việt Hồng (VH): Thưa ông, xin ông cho biết qua mấy buổi thẩm vấn vừa rồi, thái độ của công an Việt Nam đối với ông như thế nào?

Nguyễn Khắc Toàn, Phó Tổng biên tập Tập san Tự do Dân chủ
Nguồn: DCVOnline
Nguyễn Khắc Toàn (NKT): Thưa chị Việt Hồng, tôi bị thẩm vấn từ ngày thứ bẩy, qua chủ nhật, thứ hai... tới hôm nay (1) là 4 ngày rồi. Trong buổi đầu tiên và buổi thứ hai, họ nạt nộ rất dữ, cho tới hôm nay thì thái độ của họ đã dịu đi một chút. Thực ra thì họ cũng vừa đấm vừa xoa. Ông Trung tá phòng xét hỏi và điều tra cũng đe dọa tôi. Ông ấy nói rằng, nếu anh không hợp tác với cơ quan điều tra như: ký vào biên bản khám xét, thu giữ tài liệu, máy tính thì phía công an sẽ có những biện pháp mạnh như bắt giam anh trở lại.

Tôi đã bình tĩnh trả lời rằng, nhà nước Việt Nam làm gì là quyền của họ còn chúng tôi những người đã lựa chọn sự tranh đấu cho dân chủ, công bằng xã hội, chúng tôi không ngại gì chuyện đó. Nhà nuớc cứ việc bỏ tù, còn tôi khẳng định tất cả những việc tôi làm là phù hợp với Hiến pháp Việt Nam và các công ước Quốc tế về quyền con người.

VH: Khi họ dọa đưa ông vào tù thì họ phải cho biết, ông đã vi phạm điều khoản nào của Hiến pháp, pháp luật?

Đàn Chim Việt phỏng vấn Du Lam

| | Comments (0)

Mạc Việt Hồng thực hiện

Việt Hồng (VH): Xin anh cho biết cuộc sống của anh có gì thay đổi không kể từ khi các báo hải ngoại đăng một số bài viết của anh?

Du Lam (DL): Thưa chị, trước hết tôi xin hân hạnh được cảm ơn Ban biên tập báo DCVOnline và chị, có sự quan tâm tới cá nhân tôi cũng như những người vận động cho dân chủ Việt Nam. Tôi xin đi vào câu hỏi của chị. Có rất nhiều thay đổi, thưa chị, nói chung là những thay đổi theo chiều hướng xấu đi, mỗi ngày một xấu hơn vì lúc này ngoài khó khăn đời thường của cuộc sống tinh thần tôi còn chịu ức chế.

VH: Anh nói rằng có nhiều thay đổi, vậy anh có thể cho biết cụ thể hơn về những thay đổi đó không?

DL: Trước hết là tinh thần tôi luôn bị ức chế vì có thể bị công an Việt Nam mời bất kỳ lúc nào, hoặc bị theo dõi khi đi ra ngoài. Chính vì vậy tôi không thoải mái lắm trong

Du Lam
Nguồn: DCVOnline
cuộc sống. Tình hình Việt Nam như chị đã biết, các nhà Dân chủ gặp quá nhiều khó khăn, dù đang sống trong một hoặc "sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật" những điều ghi thành khẩu hiệu tại các cơ quan hay thường nói trên phương tiện thông tin đại chúng.

VH: Còn cuộc sống, công việc làm ăn của anh và gia đình ra sao?

DL: Tôi có một cơ sở xẻ gỗ, nhưng nhiều tháng nay không hoạt động được. Tôi không nghĩ rằng việc này là do lực lượng an ninh của Việt Nam. Theo tôi, đây là do thực tế khách quan, vì ở Việt Nam hiện nay từ nhà đầu tư nước ngoài lẫn các nhà kinh doanh trong nước đều phải chịu thứ luật lệ bất thành văn là "bôi trơn" hay "làm luật", nhỏ thì chung nhỏ, lớn thì chung lớn, điều mà mấy ông đấu tranh dân chủ tụi tôi không ưa, không chấp nhận nên công việc làm ăn đình đốn là tất nhiên. Trái lại những người khác quanh tôi họ nương theo sự suy đồi ấy lại phất lên mỗi ngày mỗi lớn, một thứ tỷ lệ nghịch giữa đạo đức và tài sản.

Đàn Chim Việt phỏng vấn Minh Võ

| | Comments (0)

Mạc Việt Hồng thực hiện

Cuối tháng 6 vừa qua, ông Minh võ tới San Jose để ra mắt cuốn sách "Hồ Chí Minh, nhận định tổng hợp". Đây là một cuốn sách dầy hơn 700 trang do tác giả viết và tổng hợp từ các tác giả trong và ngoài nước. Nhân dịp này, Đàn Chim Việt (ĐCV) đã có một cuộc phỏng vấn ông, xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Việt Hồng (VH): Thưa ông Minh Võ, xin ông cho biết đôi điều về quyển sách mà ông ra mắt lần này tại San Jose?

Ông Minh Võ (MV): Trước hết, lần đầu tiên được gặp cô VH, đại diện ĐCV, tôi cũng được biết là anh chị em bên Ba Lan phần lớn mới ra đi sau này nhưng đã có một tinh thần tiến bộ, một tham vọng nhìn thấy đất nước được đổi mới. Tôi xin qua cô Việt Hồng, gửi lời thăm hỏi tới tất cả anh em ở bên đó.

Gặp ông Nguyễn Xuân Ngãi

| | Comments (0)

Mạc Việt Hồng

Lời của tác giả: Khi chúng tôi tới San Jose, vài người ở đây đã nhận ra tôi: "Ồ, đây là người phỏng vấn bác sỹ Ngãi!" Họ hồ hởi giới thiệu tôi với những người khác, không khí thân tình làm chúng tôi cũng vui lây. Cũng qua đó, tôi được biết, hình như ông Nguyễn Xuân Ngãi (NXN) không hài lòng lắm với bài phỏng vấn trước đây.

Ông Nguyễn Xuân Ngãi
Nguồn/Ảnh: DCVOnline/Việt Hồng
Thứ nhất là vịêc tôi đã không gọi ông là "bác sỹ" như mọi người ở đây vẫn thường gọi. Thứ hai là chữ "hơi lúng túng" mà tôi ghi trong bài. Theo ông, một bác sỹ chuyên trị bệnh tim cho người khác thì lúng túng sao được! Ông NXN là một người nổi tiếng ở đây, không những vì hoạt động chính trị mà trước hết là vì ông là một bác sỹ tim giỏi. Nghe nói, ngoài công việc ở bệnh viện, phòng mạch tư của ông lúc nào cũng có 50 người xếp hàng. Việc tôi không gọi ông là "bác sỹ", không phải vì tôi không biết điều đó mà vì nó liên quan tới quan điểm của Đàn Chim Việt (ĐCV): "Không quan trọng ai viết (nói) mà quan trọng là người đó viết (nói) như thế nào". Kể từ khi ra đời, nhằm cố gắng đi theo những thông lệ chung của truyền thông chuyên nghiệp, thông thường ĐCV giới thiệu thân thế, sự nghiệp của tác giả ở phần chú thích cuối bài hoặc trong lời dẫn nhập, chứ không ghi danh xưng bên cạnh tên tác giả ở đầu bài viết, ví dụ như "giáo sư" Hoàng Minh Chính, "nhà báo" Nguyễn Khắc Toàn, "nhà văn" Trần Mạnh Hảo, "giáo sư " Nguyễn Chính Kết... như nhiều tờ báo khác ở hải ngoại vẫn ghi. Nhiều lúc, cá nhân tôi thấy quy định của ban biên tập như vậy là cứng nhắc quá! Người ta học hành trầy vẩy mới có tấm bằng, gọi kèm theo bằng cấp thì đã chết ai! Nhưng "nhập gia tùy tục", nhập đàn (tất nhiên) cũng vậy.

DCVonline phỏng vấn Lm E. Osiecki nhân dịp Giáo Hoàng Benedict XVI thăm Ba Lan - Mạc Việt Hồng thực hiện và chuyển ngữ


Linh mục Edward Osiecki -- Nguồn: DCVOnline
Linh mục Edward Osiecki là người từ nhiều năm nay đỡ đầu cộng đồng Công Giáo Việt Nam tại Ba Lan. Ông giúp họ những lúc đau ốm, khó khăn, không có chỗ ở, không có giấy tờ, hoặc bị cảnh sát Ba Lan bắt nạt v.v. Ông được cộng đồng Công giáo yêu mến, tín nhiệm. Ông thực sự là người cha của họ. Những người VN gọi ông bằng cái tên rất dễ thương: Cha Ét. Hôm nay, ông dẫn đoàn người Việt đi dự buổi Thánh Lễ (Msza) đón Giáo Hoàng Benedict XVI, Người vừa tới thăm Ba Lan ngày hôm qua (25/5/2006). Ngay tại Quảng trường Pilsudski, nơi hàng trăm ngàn người đang dự buổi Thánh lễ, DCV đã có một cuộc phỏng vấn nhanh với ông do Việt Hồng thực hiện và chuyển ngữ.


Đón Giáo Hoàng dưới cơn mưa: "Người VN chúc sức khỏe Giáo Hoàng" (chữ đỏ) - "Giáo dân VN tai Ba Lan muốn ở bên Người" (chữ đen) -- Nguồn: DCVOnline
Việt Hồng (VH): Thưa Linh mục (LM), người Ba Lan đón chào Giáo Hoàng Benedict 16 rất nồng nhiệt. Có vẻ như người Ba Lan yêu mến ông chẳng kém gì Giáo Hoàng Jonh Paul II trước kia?

Linh mục Edward Osiecki (Lm E.O): Ba Lan là nước có hơn 90% dân số theo đạo Thiên chúa. Giáo Hoàng (GH) là cha của họ, người chiếm một vị trí rất quan trọng trong trái tim họ, dù người đó là người Ba Lan hay người nước nào. Giáo Hoàng Benedict XVI làm người Ba Lan nhớ tới người cha kính yêu của họ, họ cảm thấy như đang có một ông GH Ba Lan đến từ nước Đức. Và, chuyến thăm của GH lần này như một tín hiệu tốt lành của Chúa với dân tộc Ba Lan. Còn về tình cảm thì GH Jonh Paul II sẽ luôn luôn là người được dân chúng Ba Lan yêu mến.

VH: GH Benedict XVI đã chọn Ba Lan là quốc gia đầu tiên mà ông viếng thăm. Vậy ông đánh giá điều đó như thế nào?

Lm E.O: Giữa hai dân tộc Ba Lan và Đức có một quá khứ đau buồn. Nhiều chuyện rất phức tạp mà nhiều năm sau chúng tôi vẫn không thông cảm được cho nhau. Chuyến viếng thăm này của GH, chúng tôi - những người Đức và người Ba Lan sẽ sát cánh bên nhau cùng cầu nguyện. Được đón GH, người đại diện cao nhất của Chúa luôn là điều mong mỏi của mọi giáo dân. GH là người Đức, với chúng tôi lại càng có ý nghĩa hơn. Tôi nghĩ rằng GH Benedict XVI là một người nhạy cảm khi ông chọn Ba Lan là nước đầu tiên ông viếng thăm.

Đây là một cơ hội để chúng tôi, hai dân tộc Đức và Ba Lan thêm thông cảm và hiểu biết nhau hơn. Chúng tôi biết ơn GH về cuộc viếng thăm này.

VH: Ông đánh giá buổi cầu kinh hôm nay như thế nào?

Lm E.O: Thời tiết hôm nay hơi xấu, mưa liên tục. Nhưng tôi cho rằng mưa cũng có cái hay, nó như một thử thách đối với lòng sùng đạo của giáo dân Ba Lan. Mặc dù mưa từ đầu tới cuối nhưng rất ít người bỏ về giữa chừng. Mọi người đã đứng dưới mưa để bày tỏ sự tôn kính với GH.

VH: GH đã đọc rất trôi chảy Kinh Thánh bằng tiếng Ba Lan. Ông đánh giá điều đó như thế nào?

Lm E.O: Tôi nghĩ rằng ông đã rất cố gắng để học tiếng Ba Lan. Ông đã đọc rất rõ ràng. Chắc nhiều người Ban lan cảm động về việc này, điều đó cho thấy rằng ông yêu chúng tôi.

VH: Hôm nay, ông dẫn đầu đoàn Công giáo Việt Nam (CGVN) đi đón GH, đoàn của ông có bao nhiêu người?

Lm E.O: Tôi rất tiếc là chỉ xin được có 120 vé thôi. Số vé đó đã được phân phát hết ngay. Có nhiều người cũng muốn nhận vé nhưng rất tiếc là số vé chỉ có hạn. Những người không có vé vẫn có thể đi đón GH nhưng khi đó họ sẽ phải đứng ở đằng xa chứ không vào được gần như những người có vé.

VH: Vậy toàn bộ cộng đồng CGVN ở Ba Lan là khoảng bao nhiêu người?

Lm E.O: Họ có khoảng 350 đến 400 người. Có những người mới ra nhập hội cách đây không lâu.

VH: Được biết, hiện giờ ông kiêm luôn chức vụ chủ tịch cộng đồng CGVN sau khi ông chủ tịch trước từ chức?

Lm E.O: Đúng như vậy nhưng trong tôn giáo thì người ta không gọi là "chủ tịch" mà gọi là "người đứng đầu". Hiện giờ tôi là người đứng đầu cộng đồng CGVN (1) cho tới khi nào người VN bầu ra một người khác. Gần đây VN có cử sang một LM và tôi vói LM này cùng làm, ông ấy giúp đỡ tôi

VH: Tôi thấy người VN rất tín nhiệm ông, nếu họ không bầu ai cả thì ông có làm tiếp tục không?

Lm E.O: (cười) Sắp tới sẽ họp và quyền quyết định ai là người đại diện cho cộng đồng CGVN thuộc về các thành viên. Người đứng đầu tốt nhất nên là một người VN.

VH: Tại sao người đứng đầu cộng đồng CGVN lại từ chức? Có người nói với chúng tôi rằng do phía VN bắt ông ấy phải viết báo cáo hàng tháng và nộp cho họ nên ông ấy đã bất bình mà từ chức?

Lm E.O: Về chuyện này thì tôi không nghe nói. Cũng có thể có, nhưng trong đơn xin từ chức, ông ấy trình bày rằng, ông ấy bận, không có nhiều thì giờ... có thể ông ấy phải về phép VN một thời gian dài... Ông ấy muốn dành thời gian cho gia đình, công việc...

VH: Xin ông cho biết, ngọn gió nào đã đưa ông đến với cộng đồng CGVN?
Quảng trường Pilsudski, Warzawa, 26/5/2006 -- Nguồn: AFP
Lm E.O: Đó là một hôm khi tôi đi từ nhà thờ ra sau một buổi làm lễ, một thanh niên VN đã túm lấy tôi. Anh ta không nói được tiếng Ba Lan nhưng qua việc anh ấy làm dấu thánh, chỉ trỏ vào nhà thờ, vào tôi rồi khua chân múa tay, tôi hiểu anh ấy là một người theo đạo Thiên chúa, anh ấy cần tôi giúp đỡ.

Tôi cho anh ấy số điện thoại. Lần sau thì anh ấy tới với người biết tiếng Ba Lan, chúng tôi nói chuyện được với nhau. Anh ấy dẫn thêm những người khác đến, tôi hiểu rằng những người VN theo Thiên chúa giáo này muốn được tham gia các buổi cầu kinh, muốn được che chở, họ cần có LM.

VH: Từ đó đến nay là mấy năm rồi, thưa ông?

Lm E.O: Đó là năm 1996, vậy mà 10 năm rồi.

VH: Và bây giờ ông đã nói được tiếng VN nhiều chưa?

Lm E.O: Rất tiếc là không. Tôi chỉ biết một vài câu xã giao chào hỏi thôi. Tôi cũng rất muốn học nhưng tiếng Vịêt quá phức tạp tôi không thể học được. Còn anh VN đó thì giờ đây đã nói khá tiếng Ba Lan rồi.

VH: Vậy những buổi cầu kinh với các giáo dân VN ông sử dụng ngôn ngữ gì?

Giáo Hoàng chào mừng dân Ba Lan -- Nguồn: AFP
Lm E.O: Mỗi tháng, tôi tổ chức cho giáo dân VN một buổi cầu kinh bằng tiếng Việt, còn hàng tuần vào chủ nhật, người VN tham gia các buổi cầu kinh trong nhà thờ như những người Ba Lan. Tôi đọc kinh bằng tiếng Việt cho họ nghe, tôi có quyển Kinh Thánh bằng tiếng VN. Tôi có thể đọc được nhưng nói thì khó quá.(cười)

VH: Ông hiểu những gì mình đọc chứ?

Lm E.O: Tôi không hiểu gì cả (cười) nhưng điều đó không quan trọng mà quan trọng là những người VN hiểu. Tôi thấy rất sung sướng vì họ hiểu những gì tôi đọc. (cười)

VH: Thưa ông, điều ông vừa nói thú vị đến nỗi những người ngồi quanh tôi đều cười phá lên. Điều gì đã tạo nên tình cảm quý mến giữa ông với những người VN, những người đến từ một đất nước khác, một chủng tộc khác, có một văn hóa và ngôn ngữ khác hẳn với ông?

Lm E.O: Tôi không bao giờ nghĩ tới chuyện chủng tộc. Con người là con người. Đúng là có sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ nhưng chúng tôi yêu thương nhau vì có chung một Chúa. Tôi luôn cố gắng giúp đỡ những người VN, Chúa dậy tôi rằng khi giúp người khác là tôi đã giúp chính mình. Người VN tới đây từ một đất nước nghèo đói nhưng lại rất giầu truyền thống văn hóa. Khi hai nền văn hóa khác nhau gặp nhau sẽ nảy sinh ra rất nhiều cái hay mà chúng ta cùng có thể học hỏi lẫn nhau.

VH: Thưa Lm, ông đã tiếp xúc với rất nhiều người VN, vậy theo ông người Việt chúng tôi có những ưu khuyết điểm gì?

Lm E.O: Cũng như các dân tộc khác, người VN có cả ưu điểm lẫn khuyết điểm. Chẳng có dân tộc nào là dân tộc hoàn hảo cả.

Về ưu điểm của người Việt, tôi cho rằng đó là tình đoàn kết, sự chăm chỉ, truyền thống kính trọng bố mẹ, tổ tiên; sự kiên nhẫn.

Còn về khuyết điểm ư? Tôi không hài lòng với sự thiếu chính xác về giờ giấc của người Việt. Hầu hết người Việt mắc phải căn bệnh "giờ cao su". Ngoài ra, nhiều khi người VN thiếu tôn trọng lẫn nhau. Tôi thấy buồn khi một số người VN ở đây lâu ngày, giầu có và có giấy tờ tỏ ý coi thường những người VN khác kém may mắn hơn, mới sang Ba Lan một vài năm gần đây. Họ đã tạo ra một ấn tượng không mấy tốt đẹp trong tôi.

VH: Ông đã từng sống dưới chế độ cộng sản, cũng như các con chiên của ông hiện nay đang sống. Vậy ông có điều gì muốn khuyên răn họ không?

Lm E.O: Đúng là hai dân tộc có những điểm tương đồng nhưng đây là một vấn đề rất lớn mà ngày hôm nay tôi chỉ muốn nói về chuyến thăm của GH thôi. Về chuyện này cho tôi được khất lại vào một dịp khác.

Copyright by DCVonline 2006

(1): Nguyên văn tiếng Ba Lan: lider Wspólnoty Katolickich Wietnamczyków, có thể dịch là người đứng đầu hay thủ lĩnh của Cộng đồng công giáo VN (tại Ba Lan).

Mạc Việt Hồng thực hiện

 

Việt Hồng (VH): Xin anh cho biết ý tưởng nào đã khiến anh cùng các bạn thành lập ra Tập Hợp Thanh niên Dân chủ (THTNDC)?

Nguyễn Tiến Trung (NTT): Tôi nhận thấy rằng những người đấu tranh cho dân chủ trong nước hay ở hải ngoại gồm rất nhiều người cao tuổi mà thực ra trong việc tranh đấu cho dân chủ thì những người trẻ tuổi mới là những người được hưởng lợi. Những người cao tuổi như cụ Hoàng Minh Chính, cụ đã gần đất xa trời rồi, cụ có được lợi lộc gì đâu. Thanh niên chính là người được hưởng lợi vậy mà lại chỉ đứng khoanh tay ngó nhìn. Cụ Chính ốm đau như vậy mà còn qua Mỹ phát biểu làm cho thanh niên chúng tôi thấy xấu hổ quá, mình sức dài vai rộng mà lại không làm gì đựơc. Từ suy nghĩ đó chúng tôi đã tập hợp nhau lại, việc này vì chính tương lai của chúng tôi.

VH: Vâng, đó là một suy nghĩ rất đúng đắn. Vậy xin anh cho biết đôi nét về tiêu chí hoạt động của THTNDC?

NTT: THTNDC chủ trương đấu tranh hợp pháp và ôn hòa. Với chủ trương ôn hòa, chúng tôi nghĩ rằng sẽ phân hóa được những người trong hàng ngũ ĐCS, cô lập những người CS bảo thủ. Một số người CS tiến bộ, họ biết là ĐCS sai lầm, họ sẽ có cơ hội để đứng vào hàng ngũ những người tranh đấu cho dân chủ. Trước hết cần phải có lực lượng và tài chính. Hiện tại tài chính chúng tôi cũng không cần gì nhiều vì chỉ chi phí cho trang web thôi. Còn lực lượng thì phải gây dựng lâu dài. Có lực lượng mới có thể gây sức ép với ĐCS để họ phải cho báo chí tự do, bầu cử Quốc hội công bằng. Thực ra điều này do chính họ đề ra. Khi đạt được như vậy sẽ tiến tới đòi hỏi thay đổi Hiến pháp. Khi đó các Đảng phái sẽ được phép hoạt động tại Việt Nam một cách hợp pháp và hợp hiến. Đó là quan điểm của tôi.

Chúng tôi những người sinh ra sau năm 1975, chúng tôi chẳng có thù hận gì người cộng sản hay người quốc gia cả. Chúng tôi chỉ mong muốn cho đất nước phát triển thôi, muốn vậy phải có tự do dân chủ.

VH: Những yêu cầu mà anh vừa đề cập tới, những thế hệ đi trước cũng đòi hỏi nhiều rồi mà chưa mang lại một kết quả đáng kể nào. Việc các anh nêu ra những yêu cầu như vậy liệu có được đảng cộng sản (ĐCS) chú ý tới không, hay cũng sẽ chìm vào quên lãng?

NTT: Thực ra chúng tôi cũng biết là ĐCS họ không nghe đâu nhưng nó sẽ giúp chúng tôi tập hợp lực lượng. Khi có lực lượng rồi, chúng tôi sẽ tổ chức xuống đường. Chúng tôi không có cầm súng đạn giết chóc ai cả mà chỉ đòi hỏi nhân quyền thôi. Chúng tôi luôn chủ trương ôn hòa. Chẳng hạn như bức "Thỉnh nguyện thư" gửi ngài Tổng Thư ký Liên hợp quốc (TTK LHQ) mà chúng tôi vừa soạn thảo. Nó như một lời nhắc nhở để ngài TTK LHQ gây sức ép với chính quyền Việt Nam. Trước mắt, THTNDC cần gây tiếng vang để thanh niên học sinh trong nước biết đến, sau đó mới có thể tập hợp lực lượng để tổ chức những cuộc xuống đường... Chúng tôi mong muốn làm được như những cuộc Cách mạng Nhung tại châu Âu.

VH: Trong danh sách những người thành lập THTNDC, tôi thấy tên 6 người. Vậy từ đó tới nay các anh đã kết nạp được thêm nhiều thành viên chưa?

NTT: Có nhiều người tham gia, thưa chị. Các bạn đó không ký tên thôi. Chẳng hạn trên trang web của chúng tôi, người dịch bản Thỉnh Nguyện Thư ra tiếng Anh là anh Ngô Viết Khiêm. Anh Khiêm là nghiên cứu sinh tại Stanford, Hoa Kỳ. Những người khác cũng vậy, tuy không ký tên thành lập nhưng họ cũng luôn ủng hộ hết mình.

VH: Tôi cũng đã đọc bản Thỉnh Nguyện Thư của các anh. Những vấn đề các anh đòi hỏi dường như "ai cũng hiểu, chỉ một người không hiểu" mà người đó là ĐCS VN. Tôi nghĩ "đảng ta" chẳng đến mức "tối dạ" như vậy đâu. Có lẽ "đảng ta" cố tình không hiểu để giữ vai trò độc tôn lãnh đạo của mình thôi. Anh nghĩ sao?

NTT: Thực ra các bạn trẻ trong nước bị nền giáo dục nhồi sọ nên có rất nhều người cũng không hiểu lắm về dân chủ. Ngay chính bạn bè học cùng với tôi cũng có nhiều người không hiểu. Bản thân tôi khi còn ở trong nước, là sinh viên trường đại học Bách Khoa, tôi đã đi thi Olimpic về chủ nghĩa Marx - Lenin và tôi cũng thuộc lòng chủ nghĩa này. Khi ra nước ngoài tôi mới biết rằng mình đã sai lầm. ĐCS, theo tôi, họ biết chắc chắn rằng VN trước sau gì cũng sẽ trở thành một nước dân chủ đa nguyên nhưng họ vẫn cố gắng câu giờ. Họ cố bấu vúi vào chủ nghĩa Marx - Lenin, vào kinh tế thị trường theo định hướng XHCN để câu giờ. Họ cố bám trụ được ngày nào hay ngày đó để duy trì quyền lợi của mình. Bản thân những người trong ĐCS cũng đang bị phân hóa sâu sắc. Phong trào dân chủ hải ngoại và trong nước cần phối hợp chặt chẽ với nhau và tiến về phía trước. Tôi thấy rất lạc quan.

VH: Những lạc quan đó là hoàn toàn có cơ sở. Có lẽ chưa bao giờ phong trào dân chủ lại phát triển mạnh mẽ như hiện nay. Sau Lời kêu gọi cho quyền thành lập và hoạt động đảng phái tại Việt Nam là bản Tuyên Ngôn Dân chủ và giờ đây là Thỉnh nguyện thư gửi Tổng thư ký Liên Hợp Quốc. Dường như đã có sự đoàn kết hơn trong phong trào dân chủ và ĐCS cũng ngày càng lúng túng hơn?

NTT: Đúng vậy. Ngay các bạn bè tôi, các sinh vên trong nước đều ủng hộ chúng tôi nhiệt liệt. Họ photo, chuyền tay nhau các bài viết, có cả một số bạn ở tận vùng sâu, vùng xa cũng viết e- mail biểu thị tình đoàn kết, sự ủng hộ. Có lẽ thời cơ đang đến gần, chưa bao giờ ĐCSVN lại cô đơn, lúng túng như bây giờ, họ không còn cớ gì để ngồi lên đầu lên cổ nhân dân mãi được. Họ lập ra Bộ An Ninh gì đó chắc chỉ để hù dọa nhân dân và những nhà dân chủ thôi, họ không dám làm gì đâu. Bây giờ không phải là lúc họ muốn làm gì thì làm như 10, 15 năm trước đây. Nếu như trước kia, họ có thể xử bắn ông Hoàng Minh Chính hay Phương Nam rồi, nhưng nay họ không dám làm gì cả. Họ đang nhượng bộ.

VH: Xin anh cho biết muốn trở thành thành viên của THTNDC thì cần phải có những tiêu chuẩn gì?

NTT: Điều kiện duy nhất là yêu nước thôi.

VH: Đã gọi là TH của thanh niên thì phải có giới hạn về tuổi tác chứ. Chẳng hạn người...hơi già như tôi mà muốn vào THTNDC thì có được không?

NTT: (cười) Chị nhìn cụ Hoàng Minh Chính đấy, cụ còn hơn nhiều thanh niên lắm chứ. Trong một bài viết của tôi "Trái tim cần phải có lửa", tôi đã trình bày, nhiều thanh niên hiện nay toàn lo những chuyện tầm phào, không có lý tưởng, không có khát vọng thì không bằng ông già. Những người lớn tuổi như cụ Hoàng Minh Chính nhưng trong tim cụ vẫn có lửa. Thanh niên chỉ là về mặt tinh thần thôi chứ tuổi tác không có giới hạn nào cả (cười).

VH: Như vậy nếu trong tim có lửa là có thể gia nhập THTNDC được?

NTT: (cười) Đúng như vậy, thưa chị.

VH: Có thể xem THTNDC là một tổ chức chính trị không?

NTT: Thưa chị, không. Mục đích của THTNDC là tranh đấu cho tự do dân chủ, đa nguyên, đa đảng. Khi mục đích này hoàn thành, các thành viên của TH muốn ra nhập đảng phái nào thì nhập hoặc có thể đứng ra tự thành lập đảng phái và TH khi đó sẽ tự giải tán.

VH: Hiện nay ở hải ngoại có một số đảng phái hoạt động ở VN cũng có nhưng còn trong bí mật nếu những thành viên của các đảng phái đó muốn trở thành thành viên của THTNDC thì có trở ngại gì không?

NTT: Không có trở ngại gì cả vì chúng tôi chỉ cần một tiêu chuẩn là yêu nước thôi, chúng tôi không phân biệt tuổi tác, tôn giáo, đảng phái...

VH: Anh có muốn nhắn gởi gì tới các bạn trẻ ở VN không?

NTT: Tôi muốn các bạn, người nào đã hiểu về dân chủ thì cố gắng truyền bá tư tưởng về dân chủ, huấn luyện đào tạo để các bạn trẻ VN ngày càng hiểu biết hơn về vấn đề này. Tôi mong các bạn trẻ đang bị ĐCS dậy dỗ không đúng sẽ nhận thức ra được vấn đề. Mình muốn xây dựng một xã hội dân chủ thì từng cá nhân trong xã hội phải nhận thức được thế nào là dân chủ, chính họ phải là những con người dân chủ. Khi có điều kiện chín mùi, có lực luợng thì mới có thể thành công được.

Một mình tôi nói, một mình tôi hiểu sẽ chẳng làm được cái gì cả. Nhưng nếu bản Thỉnh nguyện thư được hàng ngàn người ký thì sức mạnh của nó sẽ tăng thêm gấp bội và sẽ gây được sức ép với ĐCSVN.

VH: Tôi tin là các anh sẽ thu thập được hàng ngàn chữ ký. Xin cảm ơn anh, chúc anh cùng THTNDC vững mạnh trên con đường tranh đấu cho một nước VN dân chủ.

NTT: Xin cám ơn chị VH và anh em Đàn Chim Việt.

Copyright by DCVonline 2006

Mạc Việt Hồng thực hiện


Ông Trần Anh Kim, người đã trả lời phỏng vấn của DCVonline trong bài Những người lính Việt Nam Cộng Sản và ngày 30/4, vừa bị công an sách nhiễu và bắt giữ 3 giờ trong thời gian ông ra thăm Hà Nội. DCVOnline xin chuyển đến quý vị buổi trò chuyện cùng ông do Việt Hồng thực hiện.


Việt Hồng (VH): DCV chúng tôi nhận được tin ông bị gây sự trên đường phố Hà Nội và sau đó bị bắt giữ. Xin ông vui lòng cho biết chi tiết hơn.

Cựu Trung tá Trần Anh Kim, Thái Bình -- Nguồn: rfa.org
Trần Anh Kim (TAK): Nhân mấy ngày nghỉ 30/4 và 1/5, tôi lên Hà Nội thăm người em, tiện thể ghé thăm anh Nguyễn Khắc Toàn (NKT), ông bà Hoàng Minh Chính (HMC). Hôm đó, tôi vừa từ nhà ông bà Hoàng Minh Chính đi ra thì có hai gã thanh niên đi xe máy chặn tôi lại. Một gã nhảy xuống, hùng hổ giữ chặt tay tôi rồi xẵng giọng hỏi: "Ông là ông Trần Anh kim, ông vừa ở nhà ông HMC ra đúng không?". Tôi trả lời: "Tôi đến thăm ông ấy đấy, các anh có quyền gì mà ngăn cản tôi, các anh bỏ tay tôi ra, không được xâm phạm thân thể tôi như thế"

Gã này vội vàng bỏ tay tôi ra, nhưng vẫn to giọng nói tiếp: "Có lệnh cấm không ai được đến thăm ông HMC, ông hiểu không? Mà cả ông nữa, cũng có lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú!"

"Lệnh đâu? Các anh đưa tôi xem nào? Lệnh do thằng nào ký" - Tôi cũng quát lại họ.

Thấy không làm gì được tôi hai thằng xúm lại, xô tôi lên vỉa hè, làm tôi loạng choạng suýt ngã. Chúng túm tay tôi, đòi lôi tôi về công an phường. Tôi kiên quyết không đi. Lúc bấy giờ bà con xúm lại xem rất đông. Tôi phân trần với bà con: "Tôi đang đi bộ trên vỉa hè thì hai anh này gây sự, xô ngã tôi, đòi bắt tôi đưa về công an phường, đó là điều hết sức vô lý..."

Thấy thái độ phản ứng của dân chúng cùng với thái độ kiên quyết của tôi, hai gã thanh niên này không làm gì được đành phải rút điện thoại ra gọi công an.

VH: Những công an này mặc thường phục hay sắc phục và họ cư xử với ông như thế nào?

TAK: Họ mặc sắc phục, họ chẳng chào hỏi gì tôi cả. Chắc họ quên mất lời dậy của Hồ Chủ tịch là "đối với nhân dân phải kính trọng, lễ phép". Họ yêu cầu tôi về công an phường giải quyết. Tôi kiên quyết không về. Tại sao tôi lại phải về đồn, tôi đang đi bộ trên vỉa hè, chẳng làm gì sai trái cả. Họ cùng vào hùa với hai tên côn đồ, vu cho tôi gây rối trật tự công cộng. Thấy không làm gì được tôi họ lại gọi thêm hai anh công an nữa. Hai anh này cũng không hề biết chào hỏi ai. Họ vẫn tiếp tục vu khống tôi: "Ông gây rối làm mất trật tự, an ninh đường phố". Tôi vô cùng uất ức, lớn tiến quát lên: "Tao không sợ chúng mày đâu, 22 năm lăn lộn ở chiến trường, kẻ thù tao còn không sợ, chúng mày thích thì cứ còng tay tao vào. Đồ vu khống!".

Họ gọi cảnh sát cơ động 113, lực lượng này kéo đến cùng một số thanh niên mặc áo xanh, đeo băng đỏ, nhân dân cũng xúm lại xem rất đông. Nhân dân nói với tôi, giọng thông cảm: "thôi bác ơi, bác cứ về công an đi, đúng sai thế nào người ta sẽ giải quyết."

Tôn trọng nhân dân, tôi lên xe ô tô đi về phường. Thời gian chúng tôi đôi co nhau trên đường phố là hơn một tiếng.

VH: Ở đó họ đối xử với ông ra sao? Họ có chứng minh được là ông đã gây rối trật tự công cộng không?

TAK: Họ làm gì có bằng chứng gì mà chứng minh. Họ đưa tôi vào phòng, gã thanh niên đã từng hai lần xô đẩy tôi ở ngoài phố đã ngồi sẵn ở đó. Họ yêu cầu gã này khai trước. Gã khai rằng: "Chúng tôi đang đi ngoài đường thì bị ông này xô vào, ông ta định dùng dao đâm chúng tôi!". Gã không hề đưa ra chứng minh thư nhân dân mà chỉ có điện thoại di động. Rồi họ yêu cầu tôi khai báo. Tôi trình bày lại toàn bộ sự thật, giữa tôi và hai anh đó không hề quen biết nhau, không thù hằn nhau, tôi cũng làm gì có dao mà đâm họ. Đây là sự vu cáo, bịa đặt trắng trợn!

VH: Nhưng phải có lý do gì thì họ mới vu cáo cho ông như vậy chứ? Công an họ đâu có đến nỗi ngờ nghệch?

TAK: Thấy dọa nạt tôi không ăn thua gì, anh công an 113 bỏ đi, đóng cửa lại. Sau đó anh ta dẫn vào một anh công an khác, tự giới thiệu là trưởng đồn công an phường. Hai anh này cũng không dọa nạt nổi tôi, họ lại bỏ ra ngoài. Một lúc sau, một thanh niên trẻ, mặc thường phục, tự giới thiệu tên là Hoàng Anh Tuấn, cấp úy, sinh năm 1976, thuộc PA 38. Anh này thay đổi chiến thuật, trò chuyện rất nhẹ nhàng, xưng "em" với tôi. Anh ta khen các bài viết của tôi: "Các bài viết của anh phát tán lên mạng, chúng em đọc hết cả rồi, việc tham nhũng bây giờ là bức xúc lắm, chúng em cũng đang chống đến cùng" (!?) Anh ta bày tỏ sự thông cảm với tôi, rồi nhỏ nhẹ hỏi: "Anh vào nhà ông HMC chơi, ông ấy có cho anh tài liệu gì không?"

À, thì ra thế. Tôi nói: "Thà các anh cứ nói thẳng tuột ra như vậy lại dễ nghe, việc gì phải phải dở thủ đoạn vòng vo, vu khống nhau... cho nó mất tình cảm ra!" Anh ta cười xòa, bắt tay tôi. Tôi rút tập tài liệu bỏ ra bàn, lúc này tôi mới biết là gồm có 3 tài liệu (Bản kêu gọi cho quyền thành lập và hoạt động Đảng phái ở Việt nam, Tuyên ngôn Tự do Dân chủ, Tờ báo do Linh mục Chân Tín phát hành). Anh Tuấn nhấc lên xem, rồi bảo tôi: "Tưởng gì , mấy cái này đầy ở trên mạng. Lúc nào anh thích chúng em hướng dẫn cho anh xem(!?). Ở Thái Bình cũng thiếu gì chỗ có Internet, anh cứ vào đó mà xem!". Khi biết tôi không biết sử dụng Internet, anh ta bảo tôi: "Anh cứ vào những chỗ hiện đại, con gái nó cầm tay anh nó dí vào... bàn phím ấy chứ"

VH: Như vậy đã rõ mục đích họ vu khống ông gây rối trật tự công cộng, dùng hung khí giết người là để khám xét hành lý của ông, tịch thu tài liệu. Khi đã có tài liệu rồi, họ có xin lỗi ông không?

TAK: Không, họ không hề xin lỗi tôi. Họ ghi biên bản, bắt tôi ký nhận. Tôi nhất định không ký. Lúc bấy giờ, em trai tôi nhận được tin tôi bị bắt giữ, đã đến đồn đón tôi. Sau khi xem mấy tờ giấy đó, em tôi khuyên tôi ký vào để còn về. Tôi ghi xác nhận rằng đã nhận được 3 tài liệu của bác HMC cho nhưng chưa kịp đọc. Khi thấy tôi đã ký xác nhận, thì bọn họ vui như Tết, bắt tay tôi thắm thiết như bạn lâu ngày và còn dặn tôi: Khi nào anh ra Hà Nội chơi thì cứ báo để chúng em đưa anh đi chơi cho thoải mái" (!?) Rồi họ vờ vĩnh chỉ vào gã thanh niên đã gây sự với tôi trên hè phố: "đấy anh xem, chúng tôi vẫn giữ nó ở trong kia kìa!"

Trước khi ra khỏi công an phường, tôi dốc ngược túi cho họ thấy là chẳng hề có thứ vũ khí giết người nào trong đó và bảo họ rằng: "Lần sau các anh không nên dở trò ra như vậy với những người dân lương thiện, muốn gì thì cứ nói thẳng ra!"

Nhìn thái độ của bọn họ, tôi biết rằng họ căm ghét tôi, coi tôi như kẻ thù, họ chỉ muốn ăn tươi nuốt sống tôi thôi, mặc dù có hai người trong số họ tỏ ra khiêm tốn hơn.

VH: Họ có cho ông ăn uống gì trong thời gian đó không?

TAK: Không. Chỉ khi tôi kêu la rằng họ đã xúc phạm danh dự tôi, xâm phạm thân thể tôi, tước của tôi cả quyền ăn bữa trưa, cư xử bất nhân với tôi... thì anh Tuấn mới định sai người đi mua cơm về cho tôi ăn. Nhưng tôi đã từ chối. Tôi không bao giờ ăn những thứ mà họ mua về, tôi sợ họ đầu độc.

VH: Việc ông đi lại, chơi bời với các ông NKT, HMC là rất nguy hiểm. Ông biết rõ điều đó tại sao ông vẫn đến thăm họ?

TAK: Tôi có nghe người ta đồn đại về việc ông bà HMC bị đối xử rất tàn tệ, bị người ta ném các thứ bẩn thỉu vào nhà...Tôi muốn đến hỏi xem những hành vi vô văn hóa đó là thực hay hư. Ông Chính đã khẳng định với tôi tất cả những chuyện đó là thật. Chúng tôi nói chuyện khoảng 30 phút. Tôi nghĩ ông HMC cũng như ông NKT đều là công dân Việt Nam. Tôi yêu quý những người này hơn hẳn lũ giặc nội xâm kia! Biết là nguy hiểm nhưng tôi không sợ bởi Đảng vẫn dậy tôi: "người yêu người, sống để yêu nhau". Trong khi họ gặp hoạn nạn, tôi đến thăm và động viên họ thì có gì là sai? Việc đó là quý mới đúng chứ? Đó là tình người!

VH: Cuộc sống của ông có thay đổi nhiều không, kể từ khi ông đóng góp 2 bản ý kiến vào dự thảo văn kiện đại hội X?

TAK: Cuộc sống của tôi về vật chất không có gì thay đổi nhưng về tinh thần thay đổi rất nhiều. Tôi được bạn bè trong và ngoài nước thường xuyên điện thăm hỏi, chúc mừng, cổ vũ động viên... Nhất là bà con kiều bào ở nước ngoài, có một người ở Mỹ tên là Dân Nguyễn, vợ chồng bác Đoàn Văn Linh ở Paris và nhiều người khác nữa. Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người.

VH: Còn thái độ của chính quyền địa phương với ông như thế nào?

TAK: Họ coi tôi như người ngoài hành tinh, không hề quan tâm, không hề đếm xỉa gì đến.

VH: Họ có theo dõi, rình rập, cắt điện thoại của ông không?

TAK: Họ công khai theo dõi, rình rập thì tôi chưa thấy. Nhưng ngấm ngầm là có, bởi vì dân đến nhà tôi khi ra về họ nói, mỗi lần đến nhà bác về công an đều đến thông báo, đe dọa, thậm chí họ còn vận động bạn bè tôi không nên đến nhà tôi nữa. Điện thoại họ chưa cắt nhưng họ phá liên tục, phá không cho hội luận với phóng viên Việt Hùng ở đài RFA; không cho trả lời phỏng vấn của phóng viên Việt Hồng ở Đàn Chim Việt (1). Từ ngày 02/5/2006 đến nay họ khủng bố tinh thần của tôi rất dữ dội. Ban đêm họ cứ bấm điện thoại, nhưng khi nhấc ống nghe lại cúp máy luôn. Làm cho tinh thần của tôi rất căng thẳng, mệt mỏi vì mất ngủ. Hằng đêm cứ vào từ 24h đến 3h, 4h sáng họ làm như vậy khoảng 5 lần.

VH: Nghe nói người ta đang định phục hồi lại cho ông những quyền lợi mà ông đã bị mất. Nếu được phục hồi lại ông còn tiếp tục cuộc đấu tranh nữa không?

TAK: Lý lịch của tôi suốt đời trong sạch. Nay "Đảng" bôi nhọ vào lý lịch tôi, thì phải rửa sạch lý lịch cho tôi, rồi mới nói đến các chuyện khác. Tôi đấu tranh làm trong sạch Đảng. Khi Đảng chưa trong sạch tôi không bao giờ rời bỏ mục tiêu đấu tranh. Đảng trong sạch, Dân tộc Việt Nam sẽ tự hào sánh vai với các nước phát triển. Lúc đó chúng ta cùng nhau bắt tay đoàn kết dân tộc Việt Nam là một.

VH: Ông dự định gì trong tương lai?

TAK: Có độc lập, không có tự do, dân chủ thì độc lập cũng là vô nghĩa. Bởi vậy, trong tương lai tôi không rời mục đích đấu tranh và phải kiên quyết đòi bằng được tự do, dân chủ cho dân tộc và yêu cầu ĐCSVN phải xây dựng Nhà nước pháp quyền theo đúng nghĩa của nó. Không chấp nhận Đảng đứng trên Nhà nước, đứng ngoài pháp luật.

VH: Xin cám ơn ông đã dành cho Đàn Chim Việt cuộc phỏng vấn này.

TAK: Xin chân thành cảm ơn VH và anh em Đàn Chim Việt.


(1): Cuộc phỏng vấn ngắt quãng 5, 7 lần do bị cắt hoặc phá sóng điện thoại. Khi người phỏng vấn gọi lại thì nhận được câu trả lời tự động từ tổng đài là: "Số điện thoại mà quý khách đang gọi hiện không còn nữa!".

Copyright by DCVonline 2006.

Mạc Việt Hồng thực hiện


Việt Hồng (VH): Thưa ông, đại hội X đảng cộng sản Việt Nam (ĐCS VN) đã kết thúc sau 8 ngày họp. Là một người dân ở Hà Nội, ông thấy thái độ của dân chúng Hà Nội trong những ngày họp đại hội như thế nào?

Nguyễn Khắc Tòan (NKT): Xin chào chị Việt Hồng, đây là lần đầu tôi được vinh hạnh tiếp xúc và trả lời phỏng vấn báo điện tử Đàn Chim Việt, tiếng nói của các trí thức và đồng bào ta ở Ba Lan (1) - Một tờ báo lớn nhất và có uy tín cao ở hải ngoại. Như chúng ta đã biết, Đại hội ĐCSVN lần thứ X vừa bế mạc "thành công rực rỡ" đúng như kịch bản mà các thế lực nắm quyền thực sự ở VN đã vạch ra. Và đúng như các tin tức trong nước đã rò rỉ ra trước ngày khai mạc đại hội từ mấy tháng nay. Chẳng hạn, như số uỷ viên Bộ chính trị, có cả thảy 14 vị thì "8 về 6 ở lại", rồi danh sách bầu 160 vị ủy viên chính thức và 21 vị ủy viên dự khuyết...

Ở Hà Nội, không chỉ riêng những người thạo tin quan tâm đến đời sống chính trị, mà cả những người bán nước ở các quán các vỉa hè, ở các quán bia, quán nhậu người ta bàn tán râm ran từ lâu rồi. Ở VN và các quốc gia có thể chế chính trị độc tài CS tòan trị thì tình hình bầu bán trong đảng qua các kỳ ĐH tòan quốc hay các cuộc bầu cử quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp... thường xảy ra nghịch cảnh là kết quả đã được dân chúng và cả xã hội biết trước từ lâu. Vì các tin tức đấu đá, tranh giành giữa các phe phái, xâu xé quyền lực rất quyết liệt trong nội bộ đảng nhằm có được những vị trí béo bở, nhiều "màu" và nhiều quyền lợi cho phe cánh và cá nhân đã lọt ra ngoài từ trước.

Ở các thể chế dân chủ đa đảng thực sự, thì kết quả bầu cử và vấn đề "nhân sự" chỉ có thể biết sau khi Tổng tuyển cử diễn ra và việc kiểm phiếu kết thúc. Và các cuộc tuyển cử như vậy, bao giờ cũng diễn ra trong công bằng và tự do, có quốc tế và các quan sát viên trung gian không thiên vị ai giám sát. Kết quả đó là chính xác, trung thực, phản ánh đúng sự cạnh tranh lành mạnh, có giá trị về phương diện văn hóa và văn minh chính trị. Còn ở các chế độ chuyên chế, độc tài CS thì ngược lại các cuộc bầu cử chỉ là dân chủ giả hiệu, hình thức và độc diễn. Chẳng bao giờ các cuộc bầu cử ấy là thực chất, phản ánh ý nguyện thực sự của nhân dân và của xã hội.

Nguyễn Khắc Toàn: Đại hội 10 là thắng lợi to lớn và toàn diện của lực lượng bảo thủ
Trong các đại hội đảng CS thì người dân thường nói là "bộ chính trị cử, đại biểu dự đại hội bầu". Tìm lại các cuộc bầu cử của đảng CS, cũng như các cuộc bầu cử tổ chức cho dân chúng đều là dân chủ rởm, lừa bịp là chính. Phần đông dân chúng nhất là thanh niên, giới trẻ chẳng mấy quan tâm về đời sống chính trị trong nước. Đa số nhân dân đã ngao ngán, thờ ơ, vô cảm từ lâu rồi. Bây giờ cuộc sống ngày một khó khăn như thất nghiệp, nghèo đói, bất công, tham nhũng, tội phạm gia tăng... lan tràn. Cho nên người dân chỉ chú tâm vào lo cuộc sống hàng ngày, lo mưu sinh để tồn tại là chủ yếu. Tuy họ im lặng, nhưng họ biết tất cả, nhận thức đúng sai rất kỹ càng. Về những vấn đề: đất nước bây giờ đi về đâu, chọn con đường nào? Đổi mới, cải cách tòan diện thực sự, hay đa nguyên, đa đảng để có tự do dân chủ (như con đường mà các nước Nga và Đông Âu đã và đang đi như hiện nay, họ đều biết rõ)... hay tiếp tục con đường duy trì thể chế hiện nay ở trong nước mà có vẻ bề nổi là "ổn định chính trị và xã hội", "tăng trưởng kinh tế hàng năm đều đặn với mức cao". Nhưng thực chất bên trong là lún sâu thêm vào khủng hoảng về mọi mặt: chính trị, kinh tế, xã hội... Họ im lặng vì họ đã bị thể chế CS độc tài tòan trị đè nén, khủng bố, trói buộc họ quá lâu và quá nặng nề nhất là ở miền Bắc VN. Tòan bộ xã hội bị tê liệt, những phản kháng chính đáng cần thiết để nhằm lành mạnh hóa đời sống xã hội rất yếu ớt hoặc không có. Chỉ có một số ít người có lương tri, có lòng dũng cảm, dám đứng ra lên tiếng công khai đóng góp ý kiến với đại hội X ĐCS VN và phát biểu chính kiến đòi cải cách chế độ chính trị, đòi dân chủ hóa đất nước, mà trước mắt là đòi tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp...

VH: Ông theo dõi đại hội hàng ngày chứ?

NKT: Tôi hiện nay đang bị quản chế tại nhà, bị o ép mọi mặt cuộc sống rất khốn khổ chẳng khác gì tù giam lỏng. Mặt khác, tôi lại đang bị bệnh do thời gian sống cực khổ, khắc nghiệt ở trong trại tù trước đây, nên mang nhiều bệnh trọng sức khỏe không được tốt. Tuy vậy, hàng ngày tôi vẫn rất quan tâm tới đời sống chính trị, xã hội trong nước và tình hình thế giới. Về tin tức đại hội ĐCS VN lần thứ X, tôi có đọc trên báo chí và xem tivi. Nhưng cũng giống như tâm trạng của đại đa số dân chúng trong nước là đã quá quen thuộc, quá nhàm chán với những luận điệu mà ĐCS và nhà nước VN đã rêu rao, nhai đi nhai lại hàng chục năm nay phát ớn đến tận cổ. Tuy nhiên, tôi cũng hoan nghênh tinh thần phát biểu thẳng thắn và cấp tiến trước thềm đại hội của một số vị về thực trạng của đất nước như đại tướng Võ Nguyên Giáp, đại tướng Chu Huy Mân, nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt, nguyên ủy viên Bộ chính trị-trưởng ban tổ chức TW ĐCS VN Nguyễn Đức Tâm ... Cũng như trong và ngòai diễn đàn đại hội xuất hiện thêm nhiều lời phát biểu tiến bộ, khảng khái đòi cải cách trong đảng và ngòai xã hội như: tiếng nói của bộ trưởng thương mại Trương Đình Tuyển, thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Đình Bin, phó chủ tịch UBND TP HCM Nguyễn Thiện Nhân, phó chủ nhiệm UB KT TW Vũ Quốc Hùng,... Các vị này phát biểu xong, tôi đã đóan và khẳng định các vị này sẽ trượt, không được vào Ban chấp hành TW khóa này và chắc chắn sẽ bị Bộ chính trị, Ban chấp hành TW ĐCS VN chỉ thị Bộ công an ghi vào sổ đen theo dõi và "quản lý" chặt chẽ hơn. Vì các nhà lãnh đạo ĐCS hiện nay gồm tòan những nhân vật siêu bảo thủ, giáo điều có "mắt gỗ, tai gỗ và lưỡi gỗ"...

VH: Thưa ông, đại hội lần này có gì khác với những đại hội trước không?

NKT: Đại hội X lần này có 1 vài phát biểu tiến bộ như tôi đã nói trên, những tiếng nói này tuy lẻ loi nhưng đã nói rõ sự thật, nhìn thẳng vào sự thật và tỏ ra có ấn tượng hơn một chút xíu so với đại hội IX. Và ấn tượng nhất là những lời phát biểu đòi bầu tổng bí thư, bộ chính trị với phương thức khác hẳn các đại hội trước là bầu cử trực tiếp, các đảng viên có quyền ứng cử, tranh cử vào ban chấp hành TW... như TS Nguyễn Xuân Hãn, thứ trưởng bộ ngoại giao Nguyễn Phú Bình- nhưng các vị này đều bị đánh trượt.

Còn đại đa số thì nói xuôi chiều theo ý các nhà lãnh đạo là những người thực sự nắm quyền lực tuyệt đối trong ĐCS VN hiện nay. Nên nhìn chung vẫn là đại hội thắng lợi to lớn và tòan diện của lực lượng bảo thủ. Đại hội X là đại hội ĐCS VN tiếp tục cài số lùi chiếc xe ngựa đã rách nát, cũ kỹ về phía chân tường, còn phía trước là các lực lượng tiến bộ của nhân dân trong và ngoàii nước. Đại hội X là đại hội ĐCS VN đã kiện tòan thành công và tăng cường hơn bộ máy sức mạnh trong tay, để sẵn sàng đối phó với sự tiến công đang dâng cao của phong trào dân chủ. Những tiếng nói thẳng thắn có xuất hiện nhưng nhanh chóng vụt tắt vì bị nhấn chìm giữa "biển bảo thủ mênh mông". Đại đa số trong 1176 đại biểu, vẫn chỉ là những cánh tay "máy" giơ lên biểu quyết theo sự giật dây của bộ máy quyền lực chóp bu.

VH: Trước đại hội, đã có một phong trào quần chúng, đảng viên góp ý rất sôi nổi. Mọi tầng lớp đều tham gia đóng góp ý kiến, hình như cả ông nữa. Vậy những ý kiến đó có được bàn thảo đến trong đại hội không?

NKT: Quả thật ĐCS VN có công bố đợt thu nạp lấy ý kiến đóng góp của quần chúng trong xã hội trong vòng 01 tháng, từ 3/2/2006 đến 03/3/2006. Mọi tầng lớp nhân dân đã phát biểu và ngay chính tôi lúc này tuy mới được ra tù cũng hào hứng tham gia với một bức thư tâm huyết đề ngày 24-02-2006. Những ý kiến của nhân dân và tôi đóng góp rất thành thật, chân tình và thẳng thắn nhằm cứu vãn đất nước khỏi tình trạng bế tắc, nghèo nàn, lạc hậu và cứu cả chính ĐCS VN, cũng như nhà nước và chế độ của đảng nữa. Nhưng như mọi người đã biết đấy là thủ đoạn, thủ pháp chính trị lừa mị thôi chứ làm gì có bàn thảo và đời nào ĐCS VN lại nghe hay nghiên cứu những phát biểu của nhân dân. Và ngay cả những ý kiến thật lòng của những đảng viên của đảng, họ cũng bưng tai, nhắm mắt. Vì ĐCS thừa biết nếu nghe theo những ý kiến như vậy thì quyền lực đầy mình của đảng sẽ bị tiêu vong, chế độ độc đóan của đảng sẽ biến mất. Còn ngược lại, nhân dân và đất nước sẽ rất có lợi, có cơ hội để bật dậy sau hàng chục năm bị đè nén, áp bức và bưng bít mọi mặt, xã hội sẽ được cởi trói hòan tòan. Sau chiến dịch góp ý này ĐCS có lẽ sẽ giao cho Bộ công an ghi tên những người đó và sẽ thực hiện bắt bớ khi có lệnh từ Bộ chính trị ĐCS VN.

VH:Có thể ĐCS cũng tiếp thu một phần những ý kiến đó chứ?

NKT: ĐCS VN không bao giờ tiếp thu những ý kiến đó dù chỉ là 1/10.000 hay 1/1.000.000. Bởi vì những ý kiến đó là rất nguy hiểm, rất nghiêm trọng. Nó dẫn đường cho quần chúng biết được sự thật vận mệnh đất nước hiện nay ra sao? Giải pháp đúng đắn nào đưa VN ra khỏi hố sâu và bế tắc? Có chăng họ sẽ thu nạp tất cả để tìm cách đối phó, ngăn chặn những phương án, ý tưởng đó để tiếp tục tuyên truyền phục vụ sự tồn trị của thể chế hiện nay mà thôi.

Riêng bản thân tôi làm ví dụ. Tôi xuất phát từ lương tâm đã đóng góp rất thẳng thắn, tha thiết, chân tình không những không được lắng nghe và ngay sau đó tôi bị cắt điện thoại cố định của gia đình, mobile và internet của cá nhân. Hàng ngày, Bộ công an - Tổng cục an ninh, Cục A 42, Sở Công An Hà nội đem người đến áp sát, bao vây nhà tôi 24/24 giờ. Họ theo dõi, "săn sóc" tôi nhiệt tình hơn trước rất nhiều. Họ còn đến từng nhà bạn bè cũ, người thân của tôi nói xấu rồi đe dọa cấm những người này quan hệ với tơi, như: anh Vũ Trí Dũng (em nhà văn Vũ Như Hiên) nhà ở ngõ 189 Đường Hồng Hoa Thám, anh Trần Văn Phong ở 12 phố Tràng Tiền, anh Vũ Mạnh Bình ở 36 phố Cửa Đông - Hà Nội là những ví dụ. Hiện nay tôi không thể ra khỏi nhà, đi ra khỏi địa bàn phường Tràng Tiền - Hà Nội để đi thăm sức khoẻ các vị như cụ Hòang Minh Chính, ông Lê Hồng Hà, TS Nguyễn Thanh Giang... Mặc dù tôi đã làm đơn xin cấp giấy phép sang thăm cụ Hòang Minh Chính tới 4 lần, nhưng đến nay vẫn chưa được công an và chính quyền phường Tràng Tiền cấp giấy. Ngay cả cụ Trần Đại Sơn mất ngày 18-4-2006, đến 5 ngày sau ngày 23-4-2006 tôi nghe đài RFA mới được biết tin đến viếng và thắp hương, mong hương hồn cụ siêu thóat, thanh thản ra đi với niềm tin phong trào dân chủ ngày càng lớn mạnh.

VH: Ông đánh giá như thế nào về danh sách Bộ chính trị mới? Về việc ông Nông Đức Mạnh lại trúng chức vụ Tổng bí thư?

NKT: Theo báo, đài đưa tin danh sách Bộ chính trị mới gồm 14 vị. Trong số các vị này đa phần là những gương mặt siêu bảo thủ, già nua và cũ kỹ nó phản ảnh sự cân bằng giữa các phe phái và cân bằng về địa lý giữa các vùng miền Bắc- Trung- Nam, nhằm phân chia nắm giữ các vị trí quyền lực cao nhất trong đảng, nhà nước, chính phủ và quốc hội trong thời gian tới. Thể chế hiện nay ở cấp trung ương nó là mắt sàng, mắt lưới nhỏ nhất để lọc gạt ra những người có tư tưởng tiến bộ, có ý muốn cải cách, đổi mới thực sự. Nên chỉ còn sót lại những nhân vật trung thành tuyệt đối với hệ tư tưởng bảo thủ, giáo điều của ĐCS. Đừng ai đặt hy vọng, mơ hồ ảo tưởng gì vào bộ máy lãnh đạo này sẽ chèo lái con thuyền đất nước đổi mới và cải cách thực sự. Vì những người tỏ ra cấp tiến và thức thời đã bị gạt ra như: phó thủ tướng Vũ Khoan, bộ trưởng thương mại Trương Đình Tuyển, thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Đình Bin, phó chủ tịch UBND TP HCM Nguyễn Thiện Nhân, phó chủ nhiệm UB KT TW Vũ Quốc Hùng, thứ trưởng bộ ngoại giao Nguyễn Phú Bình...

Sau sự kiện CNXH ở Liên xô và các nước Đông Âu sụp đổ, trong đó vai trị và công lao của Tổng bí thư Gorbachev giải thể chế độ CS độc tài tòan trị Xô viết và giải phóng hàng loạt các nước thuộc phe XHCN rất to lớn đã được lịch sử ghi nhận. Từ đó ĐCS VN đã rút ra bài học đắt giá và kinh nghiệm cay đắng là không để một Gorbachev, một Yelsin... có thể xuất hiện trong đảng để tránh bị giải thể chế độ CS độc tài tòan trị. Nên về việc ông Nông Đức Mạnh lại trúng chức vụ Tổng bí thư cũng không gây bất ngờ cho bất cứ ai, mặc dù áp lực trong đảng cũng như trong dân chúng đòi ông Mạnh về vườn là rất lớn. Vì nhiệm kỳ vừa qua đất nước do ông lãnh đạo không có gì là đổi mới, ngược lại xã hội xuống cấp, mục nát nhiều mặt và chồng chất thêm nhiều bê bối, tham nhũng... nhưng ông vẫn được giữ lại do ông là người "ba phải", nhu nhược nên các phe phái đồng thuận, nhất trí cao cử ông là người đại diện giữ yên chế độ, giữ quyền lực ổn định cho họ nhằm tiếp tục thống trị nhân dân và đất nước. Chế độ phong kiến trước đây, các vua, quan họ có liêm sỉ, tự trọng rất cao, khi để cho đất nước suy thóai, người dân đói nghèo, óan thán thì nhiều vị đã treo ấn từ quan về ở ẩn sống cuộc đời dân dã, thanh bạch. Nhưng ở ông Mạnh nói riêng và các quan chức CS thời nay, thì đa phần liêm sỉ này không có.

VH: Theo ông chính sách đối nội, đối ngoại của VN có thay đổi gì đáng kể sau đại hội này không?

NKT: Không, sẽ chẳng có gì thay đổi đâu vì với dàn "nhân sự" từ Bộ chính trị tới Ban chấp hành trung ương đều là những nhân vật siêu bảo thủ nặng ký nhất, còn những người tỏ ra cấp tiến và có tâm huyết với đất nước thì đã bị gạt ra, hoặc không trụ được phải tự rút ra như Bộ trưởng tài nguyên môi trường Mai Ái Trực, hoặc tự ứng cử nhưng không được vào như GS Nguyễn Xuân Hãn, thứ trưởng bộ ngoại giao Nguyễn Phú Bình... Do vậy thì làm gì có thay đổi đáng kể, thậm chí cỗ xe quyền lực ọp ẹp của đảng còn tiếp tục bước lùi mạnh mẽ về phía bảo thủ và cảnh giác hơn nữa nhằm ngăn chặn mọi diễn biến tích cực có thể xảy ra. Hãy lưu ý danh sách các vị là tướng lĩnh công an chiếm tới 6 người, tướng lĩnh quân đội thì tới 18 người nằm trong Ban chấp hành TW ĐCS. Các tướng lĩnh này đều đứng đầu các quân khu trong cả nước và nắm giữ những vị trí chủ chốt của bộ máy quân sự, an ninh. Chưa bao giờ các kỳ đại hội đảng, số các vị là tướng lĩnh quân đội và công an lại trúng vào BCH TW ĐCS VN đông đảo như kỳ đại hội này. Và có dư luận sẽ tách Bộ công an thành 2 là Bộ cảnh sát và Bộ an ninh theo mô hình của Trung Quốc. Điều đó chứng tỏ ĐCS VN đặt trọng tâm việc nắm chặt trong tay các "bộ sức mạnh" để giữ yên thế thống trị của mình hơn là việc cải cách, hội nhập và phát triển đưa đất nước tiến lên.

Về đối ngoại: ĐCS VN tiếp tục dựa hẳn vào Trung Quốc, nước láng giềng khổng lồ cùng ý thức hệ XHCN, để họ hậu thuẫn cho sự tồn tại của mình. Mặt khác, dựa vào Châu Âu và Hoa Kỳ, để hạn chế sự lộng hành của Trung Quốc. Nhưng họ cũng rất cảnh giác cao độ với các đối tác này, vì đó là những cộng đồng dân chủ quốc tế văn minh và tiến bộ là mối đe doạ sự tồn vong với các chế độ độc đóan, độc tài của ĐCS. Ngòai ra, họ cũng rất tích cực tiến hành thăm viếng và mời mọc đón các quốc gia Âu, Mỹ, Úc, Nhật bản v.v..., tham gia và tổ chức nhiều hội nghị quốc tế tại nước ngòai cũng như trong nước rất linh đình, vô cùng tốn kém nhằm đánh bóng, tuyên truyền củng cố vị thế của mình.

VH: Ông có cho rằng nhà nước CS VN sẽ cởi mở hơn chút xíu về vấn đề đa nguyên, đa đảng sau đại hội này không?

Phạm Thế Duyệt: Ở Việt Nam không thể có chuyện đa nguyên, đa đảng. Đó là vấn đề nguyên tắc! (nguồn: BBC)
NKT: Điều này đã có câu trả lời quá rõ ràng là: không bao giờ ĐCS VN lại tự nguyện từ bỏ mọi độc quyền chính trị béo bở của mình, mở cửa cho xây dựng một xã hội công dân, đa nguyên. Vì nó đồng nghĩa với việc ĐCS sẽ bị mất hết tất cả đặc quyền, đặc lợi béo bở mà mình độc chiếm suốt bao năm nay. Thậm chí ĐCS và những quan chức đã có tội với nhân dân và đất nước trong quá khứ cai trị sẽ bị đưa ra xét xử. Nhà nước dân chủ không bao giờ có hành vi trả thù, nhưng có những hành động cần thiết để thể hiện một nhà nước pháp quyền, văn minh và công bằng. Đồng thời cũng là biện pháp để ngăn chặn, tránh cho những đau thương mà dân tộc đã phải chịu đựng khơng lặp lại nữa. Nên tôi xin lưu ý với bạn rằng: trong lúc đại hội đảng X đang diễn ra, đã có nhiều quan chức cấp cao của đảng và nhà nước đã công khai nhắn nhủ qua truyền thông quốc tế và ngay trên diễn đàn chính thức của đại hội rằng, ở VN ĐCS không chấp nhận đa nguyên, đa đảng như trả lời đài BBC của ông Phạm Thế Duyệt. Còn ông TBT Nông Đức Mạnh và Bộ trưởng công an Lê Hồng Anh cũng tuyên bố trên diễn đàn đại hội: không thể để cho một cá nhân, hay nhóm người nào hình thành tổ chức, đảng phái khác biệt hoặc đối lập với ĐCS VN.

Tâm lý và não trạng của ĐCS VN hiện nay là lo lắng và ra sức bảo vệ sự độc quyền cai trị đất nước trước những yêu cầu và đòi hỏi chính đáng ngày càng dâng cao của phong trào đòi dân chủ hóa.

VH: Có những lời đồn đại về một đợt đàn áp các nhà đấu tranh cho dân chủ sau đại hội, ông nhận định như thế nào? Ông sẽ đón nhận điều đó ra sao nếu nó xảy ra với mình?

NKT: Chính sách của tất cả các chế độ nhà nước độc tài, phản cách mạng trên thế giới từ trước đến nay đều lấy đàn áp, khủng bố nhân dân, trù dập, triệt hạ những nhà chính trị đối lập là phương cách để bảo tồn thể chế thống trị của mình. Các chế độ CS độc tài trên thế giới trong lịch sử, cũng như hiện nay đều sử dụng giải pháp bạo tàn này để đối phó với dân chúng và xã hội. Họ đã gây ra rất nhiều tội ác ghê rợn mà nhân loại tiến bộ đã lên án và không thể tha thứ, như đã xảy ra ở Liên Xô, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cămpuchia, Rumani,... Ở VN cũng không nằm ngòai thảm cảnh đó, trước đây đã có nhiều đợt thanh trừng, trấn áp nhân dân hoặc những người có khuynh hướng tư tưởng khác biệt, tiến bộ trong xã hội như: cải cách ruộng đất năm 1953-1957, cải tạo tư bản tư doanh năm 1958-1960 ở miền Bắc, vụ nhân văn giai phẩm năm 1958, vụ xét lại hiện đại chống đảng năm 1967, vụ bắt giam nhà văn Dương Thu Hương năm 1991 và muôn vàn những vụ đàn áp, tàn sát khác đã xảy ra ở miền Nam, miền Trung trước và sau ngày 30-4-1975... Gần đây nhất là vụ đàn áp, bắt giam bỏ tù các nhà hoạt động dân chủ năm 1995-1996-1999, nạn nhân là các ơng Hòang Minh Chính, Đỗ Trung Hiếu, Lê Hồng Hà, Hà Sỹ Phu, Nguyễn Kiến Giang, Nguyễn Thanh Giang... Chiến dịch đàn áp gần đây nữa là tiếp tục bắt một loạt các nhà hoạt động dân chủ bắt đầu từ việc bắt giam LM Nguyễn Văn Lý tháng 5-2001, tôi, BS Phạm Hồng Sơn, nhà báo Nguyễn Vũ Bình... đến BS Nguyễn Đan Quế ngày 17-3-2003. Chính sách lấy đàn áp và khủng bố để tồn tại của các đảng CS là không bao giờ thay đổi. Nhưng tình thế hiện nay trên thế giới và bối cảnh trong nước đã khác rất nhiều so với trước, phát triển theo chiều hướng tích cực, xu thế dân chủ hóa, tiến bộ thắng thế trên toàn cầu không cho phép bất cứ một chế độ độc tài nào tự do hòanh hành, ngang nhiên đàn áp phong trào dân chủ như trước đây nữa. Những nhà hoạt động dân chủ, nhân quyền, những chiến sĩ hoà bình chân chính và đích thực không bao giờ chùn bước trước bạo quyền mà vẫn hiên ngang bước tiếp trên con đường đầy hiểm nguy và chông gai mà họ đã lựa chọn. Tôi cũng hòan tòan thanh thản và không mảy may để tâm đến những tai họa rình rập, giáng xuống mình bất cứ lúc nào. Tôi hiến dâng cuộc đời mình cho công cuộc đấu tranh vì dân chủ, tự do của nhân dân và Tổ quốc. Tuy nhiên, tôi nghĩ đảng và nhà nước sẽ không khoanh tay ngồi yên mà sẽ có những biện pháp đàn áp, khủng bố mới.

VH: Cám ơn ông đã trả lời phỏng vấn của Đàn Chim Việt online. Xin chúc sức khỏe ông và gia đình.

NKT: Tôi cũng xin cám ơn chị, chúc chị và các bạn trong Ban biên tập sức khỏe, mọi sự như ý và luôn luôn có những hoạt động hướng về đất nước, ủng hộ sự nghiệp dân chủ hóa nước nhà để có thêm nhiều "Đàn Chim Việt" hơn nữa được tung cánh bay trên bầu trời tự do và thanh bình của Tổ quốc Việt Nam chúng ta. Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn các bạn đã quan tâm và lắng nghe.


Copyright by DCVonline 2006


DCVOnline: (1): Đàn Chim Việt, không chỉ là tiếng nói của đồng bào ta ở Ba Lan mà còn là tiếng nói của người Việt khắp nơi: Bắc Mỹ, Tây Âu, Đông Âu, châu Úc, châu Á, trong đó có Việt Nam.

Mạc Việt Hồng thực hiện


Tên của những người lính Viêt Nam cộng sản được xếp theo thứ tự bảng chữ cái: Đại tá Phạm Quế Dương (Hà Nội), Trung tá Trần Anh Kim (Thái Bình), Trung sỹ Phạm Văn Mài (Cộng Hòa Liên Bang Đức), Sỹ quan NHN (Hải Phòng) (1).


Việt Hồng (VH): Ông đã tham gia quân đội bao nhiêu năm, binh chủng và cấp bậc của ông?

Cựu Đại tá Phạm Quế Dương, Hà Nội -- Nguồn: news.amnesty.org
Phạm Quế Dương (PQD): Tôi nhập ngũ từ năm 1946, vào đảng CSVN từ năm mớ 17 tuổi. Khi đó tôi yêu Đảng lắm, tôi rất tin tưởng vào tương lai tươi sáng của CNXH vào ĐCSVN. Cấp bậc cuối cùng trước khi tôi về hưu là đại tá.

Trần Anh Kim (TAK): Tôi nhập ngũ năm 1966, tính đến năm nay tôi tròn 40 năm tuổi quân, trong đó có 22 năm ở chiến trường, 10 năm ở chiến trường Quân khu V và 12 năm ở chiến trường Quân khu I. Cấp bậc trung tá, chức vụ Phó chỉ huy trưởng Chính trị, nguyên bí thư đảng ủy Quân sự.

Phạm Văn Mài (PVM): Tôi ở trong quân ngũ 5 năm, binh chủng bộ binh, đơn vị của tôi là Trung đoàn 66, sư đoàn 304, thuộc Quân đoàn II. Đơn vị của tôi là đơn vị trinh sát. Khi ra quân, cấp bậc của tôi là Trung sỹ.

VH: Ông đã tham gia bao nhiêu trận đánh và kỉ niệm nào sâu sắc nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông?

PQD: (cười) Trận đánh thì tôi tham gia rất nhiều, tôi không thể nào nhớ nổi hết được. Tôi tham gia quân đội từ năm 1946, tôi tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, rồi giải phóng Hà Nội, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, sau đó là chiến dịch Biên giới phía Bắc. Nhưng có lẽ tôi nhớ hơn cả là chiến dịch Hòa Bính, có một trận đánh mà tôi không thể nào quên. Đồng đội chiến đấu cạnh tôi đều hy sinh hết, tôi cũng bị thương. Đó là một trận đánh hết sức gay go, quyết liệt và đơn vị tôi bị nhiều thương vong.

Cựu Trung tá Trần Anh Kim, Thái Bình -- Nguồn: rfa.org
TAK: Thưa bà, trận đánh thì tôi tham gia rất nhiều. Nhập ngũ năm 1966, đầu năm 1967 tôi vào Nam. Trèo đèo, lội suối suốt 6 tháng trời tôi mới vào được vị trí tập kết. Từ đó đến năm 1975, tôi đã tham gia rất nhiều trận đánh, không làm sao nhớ hết nổi. Có một trận đánh mà tôi ghi nhớ nhất, đó là trận vào lúc 6h ngày 22/5/1974, một mình tôi đã bắt sống được hai tù binh. Lúc đó thực ra tôi có thể bắn họ nhưng bỗng tôi thấy rất thương họ, tôi đã tìm cách bắt sống họ. Tôi đã dong họ về giao cho chỉ huy Sư Đoàn. Tôi rất mong muốn được gặp lại hai người lính đó.

PVM: Bọn tôi là trinh sát nên không trực tiếp đánh nhau. Công việc của chúng tôi là trinh sát mục tiêu, mở đường, dẫn quân, nắm địa bàn, tình hình...Công việc triền miên, không ra trận đánh nên không thể thống kê được. Có một kỷ niệm mà tôi không thể nào quên được là vào ngày 24/4/1975, trên đường chúng tôi thần tốc tiến vào Sài Gòn, khi đến thị xã Hàm Tân, đơn vị chúng tôi dừng lại để đánh vào thị xã. Trong trận đánh đó, một người đồng đội và cũng là đồng hương của tôi đã ngã xuống. Cho đến nay cứ tới ngày này, tôi đều thắp một nén hương để tưởng nhớ người bạn chiến đấu đó.

NHN: Trận đánh thì tôi tham gia không nhiều. Việc làm tôi xúc động nhất là việc nhân dân ở những vùng mà chúng tôi đến đã nhường cơm xẻ áo. Đó là những kỉ niệm đẹp nhất trong cuộc đời binh nghiệp của tôi. Tôi thường kể lại cho anh em bạn bè và cho các con.

VH: Ngày 30/4/1975 ông đang ở đâu và cảm giác của ông khi đó như thế nào?

PQD: Ngày 30/4 tôi lại không cầm súng trực tiếp chiến đấu, lý do là trước đó tôi đã được chuyển sang phụ trách văn hóa trong quân đội. Còn cảm giác thì tất nhiên tôi rất vui mừng, rất phấn khởi (cười). Những người lính chúng tôi lúc đó dù trực tiếp tham gia chiến dịch hay không đều rất phấn khởi.

TAK: Khi đó tôi đang ở tỉnh Quảng Ngãi. Tôi được cử đi học lớp Trung cấp chính trị của quân khu V. Khi đó tôi nghĩ rằng, học xong khóa học đó tôi sẽ tham gia vào chiến dịch Giải phóng Miền Nam vào năm 1976. Nhưng thật không ngờ là việc tấn công vào Miền Nam, vào Sài Gòn lại diễn ra dễ dàng và nhanh chóng như vậy. Tôi khi đó không trực tiếp cầm súng chiến đấu. Cả cuộc đời tôi cho tới lúc đó, tôi chưa bao giờ cảm thấy sung sướng như vậy. Tôi cảm thấy lâng lâng, háo hức như một đứa trẻ. Thậm chí, còn sung sướng hơn gấp hàng trăm, hàng ngàn lần thuở bé mình mong mẹ về chợ.

Cựu Trung sỹ Phạm Văn Mài (thứ 4 từ trái), Germany -- Nguồn: DCVOnline
PVM: Đơn vị của chúng tôi là đơn vị cắm cờ vào dinh Độc lập nhưng cái nhóm của chúng tôi thì không thực hiện nhiệm vụ đó. Giữa trưa hôm đó chúng tôi có mặt tại Sài Gòn. Khi vào tới cửa ngõ Sài Gòn chúng tôi được phép mở đài Sài Gòn ra nghe. Trước đó, việc này hoàn toàn bị cấm. Chúng tôi nghe được cả lời kêu gọi của Tướng Dương Văn Minh. Đầu tiên là lời kêu gọi quân đội miền Bắc hãy tạm thời ngừng bắn để bàn bạc. Nhưng sau đó, tình hình mỗi lúc một không có lợi cho phía quân đội VNCH nên ông Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng và chờ quân đội Bắc Việt tới để bàn giao chính quyền. Cảm giác của tôi lúc bấy giờ rất vui mừng, thứ nhất tôi biết chắc rằng mình sẽ không bị chết. Thứ hai, chiến tranh kết thúc chúng tôi được về với gia đình, với người thân, chúng tôi sẽ tiếp tục học tập, làm việc.

NHN: Lúc đó tôi đang ở miền Bắc, chúng tôi chuẩn bị chi viện cho miền Nam. Chưa kịp vào Nam thì được tin miền Nam đã hoàn toàn giải phóng, chúng tôi rất phấn khởi. Chúng tôi rất tự hào, rất sung sướng. Không chỉ có những người lính mà cả những người dân nữa.

VH: Ngày 30/4 có ý nghĩa như thế nào trong cuộc đời ông?

PQD: Tôi hay nghĩ tới ngày 30/4 cũng như cuộc chiến tranh. Tôi đã từng là Tổng Biên tập tờ Lịch sử Quân Đội mà chị. Ngày 30/4 đối với tôi nó là ngày Thống nhất đất nước, kết thúc cuộc chiến tranh gây đau khổ cho cả hai phía. Đó là một ngaỳ vui trong cuộc đờì tôi. Tôi bao giờ cũng tự hào về thời gian tại ngũ của mình, tự hào vì tôi luôn làm hoàn thành tốt nhiện vụ được giao và luôn được khen thưởng.

TAK: Một ngày vui nhất trong cuộc đời tôi, ngày của đất nước thống nhất, non sông thu về một mối, Nam - Bắc một nhà.

PVM: Đó là một cái cột mốc không những đối với bản thân tôi mà còn đối với thế hệ của chúng tôi, với cả dân tộc, nó đánh dấu sự kết thúc của một cuộc chiến tranh khốc liệt. Đây là một cuộc chiến tranh đáng tiếc cho bản thân tôi cũng như cho cả mấy thế hệ, nhân dân cả hai miền Nam - Bắc đã bị lôi cuốn vào cuộc chiến dai dẳng và khốc liệt đó. Giá mà không có cuộc chiến tranh đó thì tốt đẹp biết bao nhiêu! Tôi không thấy tự hào mà chỉ thấy ngậm ngùi cho số phận của thế hệ chúng tôi và số phận của dân tộc.

NHN: Đó là ngày hạnh phúc nhất trong cuộc đời tôi và nói chung là của cả dân tộc Viêt Nam. Tôi rất tự hào về chiến thắng. Chị có biết là có một bức ảnh rất nổi tiếng, một anh chiến sỹ giải phóng ôm lấy một bà mẹ già mà nước mắt chảy ra. Đó là một bức ảnh đẹp nhất phải không chị? Dù là nhãn quan chính trị thế nào thì chị cũng phải công nhận rằng đó là một bức ảnh đẹp.

Tôi luôn tự hào, phấn khởi, xúc động khi nghĩ về cuộc chiền tranh này

VH: Ông và những đồng đội của ông đã hy sinh xương máu để bảo vệ CNXH, nhưng CNXH ngày nay đã sụp đổ ở hầu hết các nước trên thế giới. Điều đó có làm cho ông suy nghĩ không?

PQD: Tôi đã từng hết sức tin tưởng vào ĐCS, vào CNXH nhưng rồi nhận thức của tôi thay đổi theo thời gian. Khi ông Trần Xuân Bách đòi hỏi đa nguyên đa đảng vào đầu những năm 1990, tôi đã ủng hộ ông ấy. Ngay từ năm 1980, tôi đã bị khởi tố rồi. Mọi việc bắt đầu khi tôi tham gia cùng với bà con ở quê tôi tranh đấu đòi lại cái Đình thờ của làng và cái Điện thờ của dòng họ Phạm của tôi đã bị các cán bộ địa phương ở đây chiếm dụng một cách bất hợp pháp từ năm 1954, 1955. Việc tranh đấu của chúng tôi được đưa đến tận trung ương. Họ đã không giải quyết mà còn khởi tố tôi. Tôi mất lòng tin vào ĐCS VN từ đó. Năm 1990, 1995 tôi cũng bị khởi tố. Năm 2002 tôi lại bị bắt giam với tội danh gián điệp. Với tội này đáng ra tôi bị kết án từ 15, 30 năm tù tới chung thân hay tử hình kia. Nhưng sau đó họ giảm xuống thành tôi "lợi dụng tự do dân chủ" và tôi bị 19 tháng tù giam.

CNCS là một sai lầm của lịch sử. Các nước Đông Âu đã may mắn thoát khỏi nó. Đã từ lâu tôi luôn mong muốn cho Viêt Nam có đa nguyên đa đảng. Tôi tin rằng sẽ tới lúc ĐCS phải từ bỏ vai trò lãnh đạo của mình.

TAK: Gia đình tôi gồm 6 người, tất cả đều hết lòng vì Cách mạng, nhất là ông bố tôi. Sau này tôi thấy CS là những người nói một đằng, làm một nẻo. Cho tới bây giờ tôi hoàn toàn mất lòng tin vào CNCS. Chủ Nghĩa Marx- Lenin, thế giới người ta đã vứt vào sọt rác rồi. Chính nước Đức trước kia người ta đã quá văn minh nên mới để yên cho hai ông Marx và Engels đẻ ra cái thứ chủ nghĩa tai hại đó. Tôi rất buồn vì những người CSVN hiện nay vẫn còn đi theo hai ông này. Việc tôi đi theo cái chủ nghĩa này là quá mù quáng, cần phải rút kinh nghiệm. Bao nhiêu năm tôi đi chiến đấu, giờ nhìn thấy lũ chúng nó ăn cướp ,tôi rất đau lòng. Tôi căm thù cái chế độ này, tôi muốn xóa cái chế độ này từ lâu lắm rồi chứ không phải đến bây giờ đâu.

PVM: Tôi đã suy nghĩ về điều này rất nhiều. Mặc dù đã hy sinh xương máu (bản thân tôi cũng từng bị thương) nhưng tôi nghĩ cần phải gạt bỏ cái chủ nghĩa này đi. Cái gì nó đúng thì phải theo, phải làm thôi. Có một số người muốn cưỡng lại việc này nhưng cũng chỉ kéo dài được một thời gian thôi còn cái gì đến thì nó sẽ đến.

NHN: Tất nhiên Liên xô và các nước XHCN sụp đổ là một điều rất buồn. Mặc dù cuộc cách mạng vô sản có những bước quanh co nhưng nhìn chung là vẫn tốt. Tôi nói thật với chị nhé, ở Liên xô ngày nay, có đến 70% người dân người ta cũng không tin vào chủ nghĩa tư bản nữa rồi. Người ta không tin đâu! Ngay cả những nước XHCN Đông Âu trước kia, một lực lượng dân chúng vẫn giữ được niềm tin vào CNXH. Rồi nhiều nước ở Châu Mỹ người ta cũng đi theo chiều hướng khác. Việc sụp đổ của CNXH ở các nước Đông Âu và Liên xô chỉ cho thấy rằng CNXH tạm thời có những gian nan vất vả nhưng tôi vẫn tin tưởng. Chúng tôi vẫn tin rằng CNXH là con đường tươi sáng cho cả đất nước cũng như nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới

VH: Từ kinh nghiệm của cuộc chiến tranh đó ông có muốn khuyên điều gì cho thế hệ trẻ không?

PQD: Thế hệ chúng tôi đã đem lại một nước Viêt Nam thống nhất dù rằng với một cái giá rất đắt - sinh mạng của mấy triệu người. Thế hệ trẻ nên tiếp tục cuộc tranh đấu cho một nước Việt Nam dân chủ.

TAK: Chế độ CS là một chế độ chẳng tốt đẹp gì, nó xuyên tạc, nói một đằng, làm một nẻo. Bà nghĩ xem, ngay đến cái chết của ông Hồ mà chúng nó còn nói sai thì còn cái gì mà chúng không xuyên tạc nữa? Chúng là một lũ dối trá, một lũ lật lọng, lừa đảo, một lũ tham nhũng, ăn cắp. Tôi muốn khuyên thế hệ trẻ phải nhìn thẳng vào sự thật, nói thẳng, nói thật để cứu mình, cứu người, cứu dân tộc. Thế hệ trẻ phải tỉnh táo chớ có tin vào cái lũ lừa đảo này, chớ có làm nô lệ cho lũ Tư bản Đỏ. Thế hệ trẻ phải làm tiếp cái việc mà thế hệ chúng tôi chưa làm được là xóa bỏ chủ nghiã CS, xóa bỏ cái đảng cướp đi.

PVM: Tôi thấy rằng, tầm hiểu biết của thế hệ chúng tôi rất hạn chế. Lớp trẻ ngày nay có nhiều điều kiện hơn thế hệ chúng tôi, họ được tiếp xúc với nhiều luồng thông tin, kiến thức của họ cũng sâu rộng hơn. Tôi mong họ nhìn nhận mọi việc khách quan và sáng suốt hơn thế hệ chúng tôi.

NHN: Thế hệ con cháu phải tiếp nối truyền thông dân tộc, ghi nhớ những chiến công của dân tộc, ghi công ơn các anh hùng liệt sỹ đã đóng góp cho hai cuôc kháng chiến hào hùng của dân tộc. Trong cuộc sống hiện nay, tôi nghĩ cũng có mặt nọ, mặt kia nhưng đất nước của chúng ta vẫn là đất nước tươi đẹp. Thế hệ ngày nay phải sống sao cho xứng đáng với xương máu của những người đã ngã xuống.

VH: Nếu có thể nói điều gì đó đối với những người lính Việt nam Cộng Hoà, những người đã từng là kẻ thù của ông thì ông muốn nói điều gì?

PQD: (cười) Khi tôi nghiên cứu lịch sử quân đội, tôi có đọc rất nhiều những tư liệu về chiến tranh, cả những tài liệu của phía bên kia. Tôi bắt đầu nhận ra những mặt trái của nó, những sự thật mà trước đó tôi đã không thấy. Với những người lính VNCH tôi rất quý trọng họ, tôi rất thông cảm. Tôi muốn nói với họ rằng họ là những người anh em của tôi. Chúng tôi đã mù quáng, đã tin vào một cái học thuýêt phản khoa học.

TAK: Thực ra hai bên đều là nạn nhân, đều khổ, chẳng sung sướng gì. Nếu lịch sử công bằng thì phải tính công cho cả hai bên.Tôi có một nguyên tắc sống đó là tôn trọng sự thật, đánh người chạy đi chứ không ai đánh kẻ chạy lại. Khi tôi viết hai Bản góp ý, nhiều người gọi điện thoại cho tôi lắm, có cả những người từng là lính VNCH, giờ họ sống ở nước ngoài. Họ nói cảm động lắm, có người còn khóc nữa. Xin các ông ở phía bên VNCH đừng buồn, chúng tôi không hận thù.

PVM: Chúng tôi và các anh ấy đều là con một nhà, cùng là anh em. Vì hoàn cảnh lịch sử mà chúng tôi phải cầm súng nói chuyện với nhau. Đó là điều hết sức đáng tiếc. Giờ đây, cũng không nên phân biệt ai là kẻ chiến thắng, ai là kẻ chiến bại nữa. Chúng tôi đều là nạn nhân cả. Tôi mong muốn chúng ta cùng bắt tay nhau.

NHN: Đối với những người đã từng là kẻ thù, tôi khuyên họ nên có những nhìn nhận như Tướng Nguyễn Cao Kỳ( NCK). Tướng NCK đã quay về với Tổ Quốc và đã có những phát biểu rất tiến bộ, đã đóng góp cho sự đổi thay của đất nước. Những binh sỹ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa hãy nhìn gương ông NCK mà học tập.

(1) Theo yêu cầu của ông NHN, người phỏng vấn không đưa tên và cấp bậc của ông lên báo

Đọc bài có liên quan: Người lính Việt Nam Cộnng Hòa và ngày 30/4


Copyright @ DCVonline 2006

Mạc Việt Hồng thực hiện


Việt Hồng (VH): Họ là những người lính đã từng vào sinh ra tử, đã từng chịu nhục nhã vì thất bại, từng qua những tháng ngày khổ cực trong các trại cải tạo và mang đầy mặc cảm khi trở lại cuộc sống bình thường. 31 năm đã qua đi, thời gian đã chữa lành những vết thương trong lòng họ. Giờ đây, cũng như tôi, như bạn, họ là những công dân bình thường trong xã hội. Họ nói gì, nghĩ gì về ngày 30/4 và về những cựu thù của mình? Xin hãy lắng nghe họ, những người lính Việt Nam Cộng hòa.

Tên những người lính tham gia phỏng vấn được xếp theo thứ tự của bảng chữ cái: Đại úy Phạm Văn Bản (đang sống tại Mỹ), Đại úy Nguyễn Vinh Hiển (Mỹ), Đại úy Trần Phi (Thụy sỹ) và Thiếu tá Trần Cẩm Tường (Úc)



VH: Xin ông cho biết ông đã tại ngũ bao nhiêu năm, binh chủng và cấp bậc của ông?

Cựu Đại uý Phạm Văn Bản cạnh A-37 -- Ảnh: DCVOnline
Phạm Văn Bản (PVB): Tôi là Hoa Tiêu Khu Trục Phản Lực A-37 Phi Đoàn Thần Báo 520, Không Đoàn 74 Chiến Thuật, Sư Đoàn 4 Không Quân, Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).

Tôi là sĩ quan không quân, tốt nghiệp trường phi hành Hoa Kỳ về nước vào tháng 7 năm 1973, có số điểm huấn luyện 91.56 (Grade A, điểm hạng ưu cấp quốc tế). Theo chỉ thị của Bộ Tư Lệnh Không Quân, ưu tiên cho những sinh viên có số điểm huấn luyện hạng cao, tôi được quyền chọn lựa đơn vị tác chiến. Tôi về phục vụ gần nguyên quán, sống gần với cha mẹ và nơi sinh trưởng của mình. Tôi trình diện Sư Đoàn 4 Không Quân ngày 15 tháng 11 năm 1973, và về Phi Ðoàn Thần Báo phục vụ chiến đấu cho tới giờ phút cuối cùng. Thời gian tác chiến của tôi, đúng là một năm sáu tháng.

Tôi cũng xin thưa, trước khi tôi về binh chủng Không Quân, tôi đã là thông dịch viên của Bộ Tư Lệnh Lục Quân Hoa Kỳ tại căn cứ Long Bình, Biên Hòa, từ tháng 5 năm 1968 với cấp bậc Trung Sĩ (Staff Sergeant, E-6). Tôi trực thuộc ngành Dân Sự Vụ (Civic Action) Lữ Đoàn 18 Quân Cảnh (US 18th Military Police Brigate) Lục Quân Hoa Kỳ (US Army). Với chương trình dân sự, nhiệm vụ công tác của tôi gồm cứu trợ, cứu thương, cứu tế, đi xây cất trường học, bệnh viện, nhà thờ, chùa tự, cầu cống, đường xá, chợ... và theo phái đoàn y tế thế giới... để khám bệnh, phát thuốc men, trợ cấp lương thực thực phẩm... cho các đồng bào nghèo khổ ở những nơi xa xôi hẻo lánh trong kế hoạch bình định và phát triển của Lữ Đoàn 18 Quân Cảnh Hoa Kỳ. Ngoài ra, tôi còn có công tác thông dịch thẩm vấn tù binh, điều nghiên tin tức tình báo, mở chiến dịch bình định và phát triển nông thôn, thâu phục nhân tâm....

Tôi đi du học ngày 9 tháng 11 năm 1971 tại Lackland AFB, Texas khi đang mang cấp Chuẩn úy. Tôi tốt nghiệp Phi công Phản lực (Jet Pilot) tại trung tâm huấn luyện phi hành phản lực Sheppard AFB, tôi được thăng cấp Trung úy. Sau đó một trận đánh, tôi được đặc cách lên cấp Đại úy, kèm theo Chiến thương Bội tinh và Ðệ Ngũ Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương.

Nguyễn Vinh Hiển (NVH): Tôi trình diện Trung tâm 3 tuyển mộ nhập ngũ vào đầu năm 1963, kế đó theo học Khóa 15 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Tính cho tới tháng 4 năm 1975 tôi có hơn 12 năm mặc áo nhà binh. Sau khi mãn khóa huấn luyện vào cuối năm 1963, tôi được chọn vào binh chủng Quân Cảnh. Cấp bậc sau cùng của tôi là Đại Úy, chức vụ là Chỉ Huy Trưởng Trại Tù Binh Cộng Sản Việt Nam ở Phú Tài (Qui Nhơn)

Trần Phi (TP): Thưa chị, tôi đã tại ngũ được gần 14 năm từ năm 1962 tới năm 1975. Đầu tiên tôi làm Thông dịch viên cho Đệ Ngũ Liên Đoàn lực lượng đặc biệt của Hoa Kỳ sau đó tham gia lực lượng này với cấp bậc Đại úy. Tôi thuộc lực lượng biệt kích. Những đơn vị đàn anh của tôi, họ được tung ra miền Bắc nhưng tôi vào lực lượng biệt kích rất trễ nên đang chuẩn bị nhảy ra ngoài miền Bắc thì cuộc đảo chính ông Ngô Đình Diệm xảy ra nên chúng tôi không phải đi nữa. Sau này chúng tôi có đi nhảy dù vào các mật khu của Việt cộng. Trực thăng đã thả chúng tôi vào và đón chúng tôi về.

Trần Cẩm Tường (TCT): Tôi tại ngũ 13 năm, cấp bậc Thiếu tá, tôi thuộc Sư đoàn 18 Bộ Binh. Tôi xuât thân từ trường Võ bị Đà Lạt, tôi được đào tạo chính quy.

VH: Ông có nhớ đã tham gia bao nhiêu trận đánh? Ông có bị thương không?

PVB: Tôi đã có tổng cộng hơn 1200 giờ bay trong phiếu phi hành, đã tham chiến với hàng ngàn phi vụ yểm trợ, oanh kích những vùng phi quân sự, Cục R, đường mòn Hồ Chí Minh, hay địa đạo Củ Chi, hoặc Lộc Ninh thủ đô của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Ngoài ra, tôi còn có nhiệm vụ phải chở các anh / chị phóng viên Đài Truyền Hình Cần Thơ mang máy quay phim đi quay phim chiến trường... thời ấy tôi đã thường viết chính luận và đăng tải trên số báo chí Sài Gòn.

Tôi cũng tham dự nhiều trận oanh kích lớn, và hợp đoàn bay với hàng trăm tàu bạn để không tạc Hạ Lào, Biển Hồ, Lộc Ninh, Ban Mê Thuật... Tôi đã được mệnh danh là Tank Killer (người săn T54).

Là hoa tiêu điểm đầu nên tôi cũng được cử phi vụ hợp đoàn không chiến và yểm trợ Hải Quân VNCH trong cuộc tấn công Hải Quân Trung Quốc tại đảo Hoàng Sa. Tôi nhớ lại rằng ngày ấy chúng tôi tập dượt không chiến và chuẩn bị cho trận đánh ra quần đảo Hoàng sa. Tiếc thay, vào phút cuối, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lại ra lệnh không cho chúng tôi tiếp tục thi hành trận địa chiến và không chiến này (Air-to-Ground, Air-to-Air), với lý do mà Tổng Thống đưa ra là "bảo vệ tài nguyên quốc gia."

Tôi có bị thương trong trận Klong Khot, một phi vụ nhằm xóa sổ Công Trường 9 miền Bắc đang tiến vào miền Nam qua ngõ Laos và Cambodia. Đúng lúc 3 giờ chiều ngày 26 tháng 1 năm 1975, vừa đánh xong vòng bom thứ hai, trong lúc tăng tốc lấy lại cao độ, thì tôi bị bắn hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7, bị nổ tung máy cánh trái, tôi thì bị thương phải nhảy dù. Khi dù mở lơ lửng trong không gian thì tôi dần dần hồi tỉnh, đếm được hơn trăm mũi đạn địch đang bắn tôi, nổ lỗ chỗ trên cánh dù. Tôi phải lái dù chạy tránh xa mục tiêu, rồi đáp xuống khu rừng hoang vắng trên phần đất Cambodia, cách xa biên giới Tây Ninh khoảng hơn trăm cây. Tôi chui vào một bụi cây ẩn nấp trước khi cảm thấy mình ngã gục. Tôi hạ chiếc máy vô tuyến liên lạc và cây súng ngắn sang một bên, mở hành trang và đọc sách hướng dẫn, lấy thuốc men và băng bó vết thương, ăn chút lương khô. Khi bị thương ra máu là lúc khát nước nhất, mà uống nhiều nước thì khó sống. Trời tối dần... sau khi đánh bức điện morse đi, các bạn thân của tôi từ khắp nơi đã đến cứu, gồm có A37, F5, trực thăng kéo tới đánh bom và thả trái sáng, tạo vành đai an toàn cho tôi trú ẩn qua đêm. Vì đạn bắn như mưa, nên mãi tới sáng tôi mới được bốc lên trực thăng tải thương mang về tiền đồn biên giới Châu Đốc băng bó vết thương. Trên trực thăng tôi đã xỉu nhiều lần, nhưng khi tỉnh thì rất khát nước. Lúc đó tôi thấy có người cầm bông thấm nước từ bidon rồi đặt trên môi. Tôi mở mắt thấy ông tướng hai sao, vội dơ tay chào, nhưng cánh tay đang cột vào bangka. Ông tướng nhìn tôi mỉm cười vì hiểu ý định của tôi, đó chính là Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Vùng 4 Chiến Thuật, người sau đó đã tuẫn tiết khi Sài Gòn thất thủ. Tôi liếc nhìn xuống chiếc vai áo rách nát của mình và thấy vật lạ... ba bông mai vàng mới toanh của cấp đại úy đã được Thiếu Tướng Nam gắn cho tôi lúc còn bất tỉnh; ông nói: "Nằm nghỉ đi em, Thần Báo 2".

Cựu Đại uý Nguyễn Vinh Hiển ở Hà Nội -- Ảnh: DCVOnline
NVH: Binh chủng chúng tôi là binh chủng chuyên môn, phụ trách về quân phong, quân kỷ cho quân đội. Bản thân tôi không hề trực tiếp tham dự một trận đánh nào. Chỉ có một lần tôi tham dự cuộc hành quân Đỗ Xá vào đầu năm 1964, nhưng với tư cách một sĩ quan của bộ tham mưu hành quân, chuyên trách về tù binh. Do mức độ giao tranh của quân đội hai bên càng ngày càng gia tăng, con số tù binh do QLVNCH bắt giữ tại mặt trận càng nhiều, và cũng không thể giam giữ các tù binh này với các tù thường phạm ở các nhà lao hàng tỉnh, quân đội miền Nam phải thiết lập các trại tù binh tại mỗi vùng chiến thuật. Nhiệm vụ canh gác, điều hành các trại tù này được QLVNCH giao cho binh chủng Quân Cảnh. Thành thử nhìn chung binh chủng chúng tôi không hề trực tiếp tham dự một trận đánh nào, song trong thực tế chúng tôi phải đối đầu thường trực với một trận đánh ở đằng sau chiến trường. Mặc dù trong trận đánh này quân hai bên không mấy khi dùng đến súng đạn, song đó là một trận đánh liên tục không bao giờ ngừng.

Sau cùng trong hồi kết cuộc của cuộc nội chiến Nam Bắc, tôi dẫn đầu một đơn vị từ Qui Nhơn triệt thoái về phía nam, và bị vây đánh ở Tuy Hòa. Lần này thì tôi gom góp tất cả các tàn binh lạc ngũ của các đơn vị khác, rút về cố thủ tại doanh trại của Tiểu Khu Tuy Hòa, cố cầm cự để chờ viện binh tới. Lúc đó đơn vị do tôi chỉ huy là một tiểu đoàn trừ, cộng với các binh sĩ lạc ngũ của các đơn vị khác thành một đạo quân hơn một tiểu đoàn. Súng ống thì nhiều vô kể, nhưng tinh thần binh sĩ hầu như không có. Tôi và các sĩ quan dưới quyền đôn đốc binh sĩ trên các tuyến phòng ngự bằng những máy phóng thanh xách tay của đơn vị tôi, hệt như dẫn lính đi tập bắn. Chúng tôi cố thủ tiểu khu Tuy Hòa từ 6 giờ 30 sáng cho tới 11 giờ trưa, thì xe tăng của Bắc Quân vào trận. Chúng tôi không chống trả nổi hỏa lực của các chiến xa này, đành phải phân tán nhỏ hàng ngũ, rồi rút lui qua ngả sau của Tiểu Khu Tuy Hòa. Tôi dẫn được một tiểu đội leo lên được một con thuyền đánh cá, và được chở vào Nha Trang. Tôi có ghi lại trận đánh này trong cuốn hồi ký Ngày N+.. Đó là lần đụng độ đầu tiên và là cuối cùng với quân đội miền Bắc trong hơn 12 năm quân ngũ của tôi. Tất nhiên, có nhiều người chết trong trận đánh này.

TP: Số trận đánh mà tôi đã tham gia thì nhiều lắm. Tất cả những mặt trận lớn thì lực lượng biệt kích, lực lượng đặc biệt của chúng tôi đều được tung vào để giải tỏa các trận đánh. Nhưng số tôi rất may, tôi chỉ bị thương có hai lần.

TCT: Tôi được huấn luyện sỹ quan chính quy, ra trường năm 1965 đến năm 1975 tôi đã tham gia rất nhiều trận đánh từ những trận đánh nhỏ tới những trận đánh lớn, tôi có bị thương 5 lần nhưng cũng may đạn chỉ vào thịt thôi.

VH: Kỉ niệm nào đáng ghi nhớ nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông?

PVB: Về kỷ niệm đáng ghi nhớ trong đời binh nghiệp của tôi, thưa Cô Việt Hồng có lẽ sáng đẹp nhất trong lòng tôi cho tới ngày nay là hình ảnh của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, người tuẫn tiết khi Sài Gòn thất thủ. Sau khi tầu tôi trúng đạn và tôi nhảy dù, vị Tư Lệnh Vùng IV này đã túc trực trên trực thăng bay quan sát trên mục tiêu tại chiến trường mà tôi đang ẩn náu, cho tới khi cứu được tôi như câu chuyện tôi đã trình bày phần trên. Đó là kỷ niệm sống trong tôi và tôi đã khóc thương Thiếu Tướng Nam khi nghe người sĩ quan tùy viên của Ông và cũng là bạn của tôi thuật lại chuyện.

NVH: Kỷ niệm đáng ghi nhớ trong đời binh nghiệp... Với một thời gian quân ngũ kéo dài hơn 12 năm, lại thuyên chuyển đi đủ bốn vùng chiến thuật, thành thực mà nói tôi có quá nhiều kỷ niệm trong đời quân ngũ của tôi. Nhưng có lẽ kỷ niệm sâu đậm nhất trong đời quân ngũ của tôi lại không liên hệ tới cuộc đời binh nghiệp của tôi. Cuối năm 1967, tôi phải thuyên chuyển ra trại tù binh Phú Quốc, mặc dù chỉ mang cấp bậc Trung úy, song tôi phải đảm nhiệm 2 chức vụ mà trên bảng cấp số các chức vụ này đều là Thiếu tá. Trong thời gian này, những dấu hiệu từ các mặt trận ở bốn vùng chiến thuật cho biết Bắc Quân sẽ mở những trận đánh lớn trên bốn vùng chiến thuật, và vì vậy quân đội miền Nam phải thiết lập thật mau một trại tù ở Phú Quốc có khả năng giam giữ đến 30 ngàn tù binh của các trại giam ở trong đất liền đưa ra, vì sợ rằng Bắc Quân sẽ dùng những đơn vị nhỏ cảm tử, đánh giải vây cho các trại giam ở đất liền. Chúng tôi vừa xây doanh trại, vừa tiếp nhận tù binh. Một lần đi thăm viếng doanh trại đang được Công binh hoàn tất, để đón nhận thêm tù binh mới, tôi thấy một người lính Công binh ôm một người tù khóc ròng. Hỏi ra thì biết họ là anh em ruột. Người anh trọ học ở ngoài tỉnh, rồi đến tuổi quân dịch thì đăng lính Công binh. Người em ở nhà quê bị cưỡng bách gia nhập bộ đội của MTGPMN. Cả đêm đó tôi không ngủ được khi nghĩ tới hai anh em người này. Họ may mắn gặp nhau dù trong hoàn cảnh trớ trêu, nếu không may họ có thể bắn vào nhau trong một trận đánh nào đó. Và chuyện đó hình như không thiếu trong chiến tranh VN. Bản thân tôi là một sĩ quan của trại giam, cha tôi dặn tôi lập cho ông một danh sách những người tù binh miền Bắc, sinh đẻ ở mấy huyện quê nội và quê ngoại tôi trong tỉnh Hải Dương. Tôi lập được một danh sách vài chục người đem về. Cha tôi đọc chăm chú, ngẫm nghĩ một hồi rồi chỉ vào cả chục người trong danh sách, nói rõ gốc gác của những người này. Có hai người trong danh sách tôi thiết lập cho cha tôi xem, là anh em họ với tôi.

TP: Nói chung thì không có kỷ niệm nào đáng ghi nhớ nhiều, tôi chỉ xin kể vắn tắt về một biến cố trước ngày 30/4. lúc đó đơn vị chúng tôi được điều về bảo vệ Đài truyền hình ở Sài Gòn. Đang buổi trưa thì tự nhiên chúng tôi mất hết liên lạc với cấp trên. Rồi tôi thấy xe tăng Bắc Việt tiến vào và chúng tôi nhận được lời kêu gọi buông súng đầu hàng. Lúc đó chúng tôi rất ngỡ ngàng. Quân đội Bắc Việt chào chúng tôi và chúng tôi cũng chào họ. Cảm giác lúc đó khôi hài lắm. Sau này thì tôi được biết rằng quân đội Bắc Việt được lệnh không được bắn giết chúng tôi mà phải đối xử với chúng tôi nư anh em. Lúc dó họ rất vui vẻ khi thấy chúng tôi, chúng tôi cũng vui cười khi thấy họ. Có nhiều người lính VNCH vứt bỏ súng ống, họ đã nhắc chúng tôi cầm súng đem về nhà đi, rồi sau sẽ trình diện, không nên vứt súng như vậy để những kẻ cướp giật có thể lợi dụng. Theo nhận định của cá nhân tôi thì thái độ của họ lúc đó tử tế. Điều đó cũng an ủi chúng tôi nhiều và riêng tôi, không ngạc nhiên gì về ngày 30/4. Tôi biết đã có cuộc sắp đặt của người Mỹ, số phận miền Nam Viêt Nam được quyết định trước đó rồi.

TCT: Có 2 trận đánh mà trong đời tôi không thể nào quên được, đó là trận năm 1972 tại An Lộc và thứ hai là trận đánh tại Long Khánh vào tháng 4 năm 1975.

VH: Ngày 30/4/1975 ông đang ở đâu? Cảm giác của ông khi đó như thế nào?

PVB: Lúc 10 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, tại phi trường Bình Thủy, tôi nhận lệnh oanh kích khu vực vòng đai an ninh vì địch quân tràn tới Lộ Tẻ Ba Xe. Khi tôi vác dù ra xe để ra phi đạo lấy tàu trong tiếng reo hò vang dội của anh em Sư Ðoàn 4 Không quân đang cổ vũ cho tôi. Khi đang thi hành công tác đánh bom, tôi nghe lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh, mà nước mắt tuôn trào. Thương cho chính mình, thương cho dân tộc mình, và thương cho vợ con tôi kẹt lại, nên tôi bay trở lại, đáp xuống phi trường Trà Nóc đúng 2 giờ chiều ngày đó; mặc cho bạn bè năn nỉ hối thúc đi Utapao, Thái Lan.

Cảm giác của tôi lúc đó thật là lẫn lộn dù tôi là người thuộc dạng bình tĩnh là và tự tin. Vào thời du học Hoa Kỳ, tôi đã tới thư viện tìm đọc sách nói về chiến tranh Việt Nam của cả hai phía. Tôi cũng tưởng Việt cộng sẽ thi hành chính sách hòa hợp hòa giải như sau cuộc nội chiến Nam Bắc của Hoa Kỳ năm 1865, cách nay 100 năm. Do đó, tôi có cảm giác an toàn trong ngày 30 tháng 4 năm 1975 sau khi tôi đọc chính sách 7 điểm của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Những người cộng sản đã đánh mất cơ hội ngàn vàng để mở ra trang sử huy hoàng cho dân tộc ta. Chiếu hoa không ngự mà lại tranh giành để ngồi vào manh chiếu rách!

NVH: Ngày 30 tháng 4 tôi ở Sài Gòn, những đêm trước của ngày này tôi nằm ngủ trong căn nhà mà tôi đã sống suốt thời niên thiếu, trên chiếc giường sắt nhà binh, mà cha tôi đã mua lại từ khi gia đình tôi di cư vào Nam. Có một hai đêm tôi leo lên mái nhà, nằm nhìn những trái hỏa châu được pháo binh bắn đi từ căn cứ ở Phú Lâm, thỉnh thoảng thấy một chiếc máy bay đơn lẻ lao mình trong đêm tối. Những tiếng súng từ xa ì ầm vọng lại. Vòng vây cứ mỗi lúc mỗi tiến gần lại Sài Gòn, những ngả thoát đã bị bịt kín. Đường Biên Hòa, Vũng Tầu đã bị chặn, chỉ còn một ngả duy nhất xuống vùng IV, thế nhưng tình hình này không hiểu số phần của miền Nam còn kéo dài được bao lâu. Tôi nghĩ tới hai chục năm của gia đình tôi, của cá nhân tôi trong vùng đất này. Có lúc tôi hơi oán cha tôi, khi nhập ngũ khóa 15 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, tôi đã rắp tâm tình nguyện gia nhập binh chủng Biệt Động Quân. Thế nhưng do những vận động của cha tôi, tôi ra trường trở thành một sĩ quan Quân Cảnh. Chính vì vậy mà tôi trở thành một sĩ quan ba gai nhất binh chủng. Phải chi cứ để tôi ở Biệt Động Quân, có thể tôi đã chết từ nhiều năm trước, như những người bạn cùng khóa tôi ở binh chủng này giờ đây đã chết bẩy, còn ba, chết hai, còn một mới ra cảnh này. Cho dù nếu không chết thì có thể trong phút cùng đường, tôi có thể cùng với vài binh sĩ dưới quyền đổi mạng mình, lấy một cái gì đó.

Phải chính vì cha tôi và nhiều người cha khác không muốn con mình chường mặt ra mặt trận, nên miền Nam mới có ngày thê thảm như thế này. Tất nhiên tôi cũng hiểu trong cuộc chiến tranh nồi da sáo thịt này, số phận của miền Nam không hoàn toàn nằm trong tay của người miền Nam. Số phận của miền Bắc thì phần vì may mắn hơn, phần vì những người lãnh đạo ở miền Bắc có trái tim không chứa máu người, có khối óc đã hóa thạch nên sau này cảnh kết thúc của chiến tranh mới kinh hoàng như thế.

TP: Cảm giác của tôi lúc đó rất hoang mang, sợ sệt, lo lắng cho tương lai của mình. Thực ra tôi đã biết trước số phận của miền Nam Việt Nam ngay từ cuộc hòa đàm Paris năm 1972, lúc đó tôi đã biết rằng Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia CS.

TCT: Ngày 30/4/1975 chúng tôi đang chỉ huy Tiểu Đoàn thuộc Sư Đoàn 18 Bộ Binh, tiểu đòan của tôi lúc đó khoảng 600 quân, chia làm 4 đại đội tác chiến và 1 đại đội chỉ huy. Chúng tôi đánh nhau suốt từ ngày 10/4 tại Long Khánh từ đó kéo dài tới Long Bình rồi tới Trảng Bom. Ngày 30/ 4 chúng tôi kéo quân lên đồi Bác Sỹ Tín đối diện với Nghiã trang Quân đội để chặn lực lượng từ ngoài Bắc tiến vào. Chúng tôi đánh nhau tới khi có lệnh đầu hàng của Tướng Dương Văn Minh. Ngay cả khi có lệnh rồi, một số anh em vẫn không muốn buông súng, tinh thần của chúng tôi vẫn chưa bị sa sút. Theo lệnh ông Dương Văn Minh chúng tôi phải bàn giao vũ khí lại cho phía bên kia. Chúng tôi hoàn toàn bất ngờ và xúc động trước lệnh đầu hàng.

VH: Ngày 30/4 có ý nghĩa thế nào trong cuộc đời ông?

PVB: Tôi phát hiện ra người cộng sản nói không cho trúng, khi tôi đứng bên Trung Tá Nguyễn Văn Nguyên Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Bình Thủy còn ở lại để làm cuộc bàn giao đơn vị cho phía miền Bắc. Những lời nói, những cử chỉ, hành động hống hách của người cộng sản lúc đó tạo cho tôi một cái nhìn không phục, không tin về họ.

Tất cả đã giải đáp cho tôi những gì suy tư tìm hiểu đúng đắn như lời ông cha tôi nhắn nhủ căn dặn tôi về người cộng sản: vừa cố chấp, không lẽ phải, và giết người một cách lạnh lùng. Sau ngày mất nước, tôi càng khâm phục tiền nhân với lời nhận xét qúa đúng về bản chất của người cộng sản Việt Nam. Từ đó tôi lại càng xót thương cho dân tộc tôi chịu đắng cay bởi loại người cầm quyền phi nhân bản tính như thế này. Và đảng cộng sản cầm quyền thì đất nước này đã không ngóc đầu lên nổi, người nghèo thì càng nghèo khổ thêm, và xã hội trở nên mê muội dốt nát, đầy dẫy bất công, thối nát.

NVH: Tôi thường nghĩ đến hai biến cố lớn nhất trong lịch sử cận đại Việt Nam. Trước tiên là biến cố chia đôi đất nước vào năm 1954. Khách quan mà nói thì biến cố này tuy là một vết dao chém ngang mình tổ quốc, đất nước bị chia đôi. Nhưng nếu không có biến cố này thì nước Việt mãi mãi chỉ tốn tại trên mặt cai trị hành chánh mà thôi. Còn về ngôn ngữ, văn hóa vẫn là ba phần đất riêng biệt. Những người Bắc vào Nam, và những người Nam ra Bắc vô hình chung là những chất xúc tác cho việc tái thống nhất cả ba miền trên nhiều lãnh vực.

Giờ tới biến cố thứ hai chính là việc tái thống nhất đất nước, hay chính là biến cố 30 - 4 - 75. Tôi là một người lính của miền Nam, cũng như hàng triệu người miền Nam khác mong muốn việc thống nhất này sẽ diễn ra theo chiều từ Nam ra Bắc, và nếu vậy chắc chắn là sẽ đẹp hơn cái chiều từ Bắc vào Nam như lịch sử đã diễn ra trong ba chục năm nay. Nhưng lịch sử thì không thể NẾU, hiện nay quốc gia đã thu về một mối, việc tái thống nhất này nếu được chỉ đạo bởi những khối óc thông minh, không bệnh hoạn thì đất nước giờ đây hẳn là tươi sáng hơn. Dù kết quả ngày hôm nay có xấu thế nào chăng nữa, thì nghĩ cho cùng việc tái thống nhất đã làm cho nước Việt hiện nay đồng nhất hơn cách đây năm chục năm.

Nói tóm lại ngày 30 - 4 đối với cá nhân tôi là một vết thương không bao giờ ngậm miệng, nhưng đối với lịch sử thì chẳng qua đó là chỉ là một cái chớp mắt, trong cái chớp mắt này có hàng triệu người nằm xuống, có hàng triệu người phải bỏ nước mà đi. Chẳng may sinh ra trong thời điểm đen tối đó, tôi chỉ mong những thế hệ sau của lịch sử sẽ không bị cai trị bởi những con người bệnh hoạn như cả nước đang gánh chịu hiện nay.

TP: Tôi muốn quên hết quá khứ để sống với hiện tại và tương lai. Tôi ít khi nhớ tới ngày này, nhiều khi do bạn bè nhắc tới hoặc do đọc báo tôi mới nhớ tới nó.

Cựu Thiếu tá Trần Cẩm Tường, Xưa và Nay -- Ảnh: DCVOnline
TCT: Là một sỹ quan quân đội VNCH, tôi không thể nào quên được ngày 30/4/1975. Tất cả chúng tôi đều bị sốc rất dữ dội. Vì là cấp chỉ huy, tôi không thể để lộ cảm xúc của minh. Nhắc tới ngày đó tôi không thể nào nén nổi xúc động, tôi không biết diễn tả cảm xúc của mình như thế nào. Thứ nhất, chúng tôi cảm thấy rất đau buồn. Là một quân nhân khi phải chấp nhận lệnh đầu hàng, nhìn đơn vị tan rã, tôi cảm thấy danh dự của mình bị xúc phạm rất nhiều. Tôi không biết giải thích như thế nào để anh em hiểu được việc phải buông súng đầu hàng. Mặc dù rất hoang mang nhưng vì là cấp chỉ huy chúng tôi không thể tỏ ra hèn nhát được. Trong lòng rất đau đớn nhưng tôi vẫn phải tỏ ra cứng rắn trước mặt cấp dưới của mình. Một số anh em quân nhân đã khóc. Tôi không khóc được nhưng trong lòng tôi khóc.

Đến bây giờ mỗi khi ngày 30/4 đến, sự xúc động trong tôi vẫn còn, tuy nó dịu dàng hơn. Tôi thật khó diễn tả cảm giác của tôi về ngày đó, tôi cảm thấy như đã mất mát một cái gì đó quý báu nhất cuộc đời mính.

TCT: Ngày 30/4 tôi thường nhớ tới những đồng đội của mình, thương tiếc những người đã ra đi.Tôi rất đau lòng thấy các Nghĩa trang của anh em VNCH tại VN bị san phẳng, bị phá phách hoặc không ai chăm sóc. Ở nước ngoài, chúng tôi cũng có tượng đài để kỉ niệm, thắp nén nhang cho anh em, đồng bào đã hy sinh. Ngày 30/4 năm nay, chúng tôi cũng sẽ kỷ niệm, làm lễ truy điệu, cầu nguyện cho linh hồn anh em VNCH và đồng bào siêu thoát

VH: Sau năm 1975, ông có bị đi trại cải tạo không?

PVB: Sáng ngày 5 tháng 5 năm 1975, CS kêu gọi sĩ quan của chế độ cũ trình diện học tập cải tạo, với thời gian một tuần tới 10 ngày, nhớ mang theo đồ dùng cá nhân và tiền chi tiêu ăn uống. Tôi vừa bước ra sân thì thấy ồn ào, đội võ trang vây bọc và lên đạn AK lách cách, một người tiến lại đọc lệnh bắt tôi. Sau ít giây ngạc nhiên, họ trói tôi và lấy khăn bịt mắt rồi dẫn đi, mặc những tiếng than khóc van xin của cha mẹ, vợ con, anh em và những bạn bè thân thiết của tôi.

Ban quân quản Kiên Tân bắt đầu hỏi tôi và bắt tôi viết lời khai, họ tuyên bố với tôi rằng: "Anh thuộc diện đối tượng của tỉnh, chúng tôi thi hành lệnh tìm anh." Trời tới nhá nhem tối, tôi được lôi ra khỏi cũi sắt cùng với hàng chục sĩ quan VNCH khác, được mang lên xe bít bùng áp tải chở đi. Xe chạy vòng vo, có lẽ họ muốn đánh lạc hướng nhưng với tôi thì vùng này không xa lạ vì tôi sinh trưởng ở đây.

Sau khi bị thanh lọc ở Rạch Giá, chúng tôi được chuyển tới trại tù binh U Minh có 8 cái K và bị đóng quyện (cùm chân) và bộ đội canh gác. Dưới lưng thì nước ngập đỏ như máu, muỗi đông như trấu và đỉa lền như bánh canh. Ðã đói khổ rách rưới thì chớ, muỗi mòng lại cũng đồng ý theo phe thắng trận chỉ săn tù nhân cải tạo khốn khổ mà cắn mà hút. Thật là thê lương. Và tôi đã bị hành hạ trong suốt 7 năm tù đến nỗi gần đứt gân chân phải.

NVH: Không, tôi may mắn thoát được ra nước ngoài.

TP: Dạ có, thưa chị. Tôi bị đi cải tạo 4 năm, năm đầu tiên tôi cải tạo ở trại Đá Bàn (Khánh Hòa), họ đối xử với chúng tôi rất tệ. Lúc đó họ sử dụng cán bộ quản giáo là những người vô học. Họ đối xử với chúng tôi khi đó hết sức tàn nhẫn. Sau năm 1976, tôi được chuyển sang trại A 30, ở đó họ đối xử với chúng tôi tốt hơn một chút nhưng vấn đề cưỡng bức lao động vẫn thường xuyên xảy ra. Họ muốn hành hạ chúng tôi bằng lao động. Tôi có một chút may mắn là, trong thời gian tôi cải tạo, tôi quen một ông Trung tá công an, ông ấy cũng biết rõ hoàn cảnh của tôi và cũng có liên hệ với phía gia đình tôi. Ông ấy đã giúp tôi được ra trại sớm. Khi về địa phương, tôi có chuyên môn là ngành thú y, lúc đó huyện đang thiếu người nên tôi cũng được trọng dụng nên tôi hòa nhập vào cuôc sóng cũng không mấy khó khăn. Sau đó tôi xin ra nước ngoài theo diện bảo lãnh nhưng không được chấp nhận, tôi vượt biên năm 1989.

TCT: Tôi bắt buộc phải đi trình diện cải tạo. Tôi đã ở trại cải tạo trong 7 năm, ở ngoài Bắc. Đó là những ngày rất đen tối, nằm giữa núi rừng Yên Bái, chúng tôi không biết gì về cuộc sống bên ngoài. Chúng tôi vừa đói, khát, vừa mang nỗi niềm nhục nhã của những người thua trận.

Ra khỏi nhà tù nhỏ, chúng tôi vào "nhà tù lớn". Bẩy năm sau, tôi trở về, nhà của tôi bị chiếm mất, tôi không được ở, vợ con phải bị đưa về quê. Không chịu được cuộc sống trong cái "nhà tù lớn" này, năm 1984 chúng tôi đã vượt biên.

VH: Ông có hay trăn trở về nguyên nhân thất bại của quân đội VNCH không? Theo ông tại sao quân đội VNCH lại thất bại?

NVB: Theo tôi, VNCH đã thiếu vắng một nền tảng căn bản về triết thuyết dân tộc, vững chắc nhằm nêu cao chính nghĩa quốc gia; đồng thời, khai triển rộng rãi về sách lược quốc phòng bảo vệ đất nước một cách thực tế, nhằm vận động toàn dân toàn diện trong việc giữ nước và xây dựng phát triển chế độ tự do dân chủ.

NVH: Tất nhiên tôi hay suy nghĩ về việc thất trận của miền Nam, nhất là mỗi khi chẳng may xem phải một phim thuộc hạng bét của Hollywood, do những anh đạo diễn hạng B, làm những phim rẻ tiền về chiến tranh Việt Nam. Các đạo diễn này hoặc vô tình vì không biết, hay có thể cố ý bôi xấu đạo quân có tôi là một người lính trong đạo quân đó. Tôi không bao giờ chấp những đạo diễn của miền Bắc làm phim về chiến tranh Việt Nam. Phần đông các đạo diễn cũng như các kịch tác gia, các nhà văn, nhà thơ xuất thân từ miền Bắc, được đào tạo trong thời chiến tranh chẳng qua chỉ là những con ngựa kéo xe, có hai miếng da che mắt, và họ chỉ có thể nhìn vũ trụ qua hai vệ đường mòn. Nói một cách tệ hại thì chiến tranh Việt Nam chẳng qua chỉ là một canh bạc của các đại cường, máu xương thì của dân Việt, còn miền Bắc với Đảng Cộng Sản Việt Nam được coi là một cửa được các con bạc thông đồng với nhau cho ăn mà thôi.

TP: Nếu có thời giờ, tôi sẽ nói hết để cho cô hiểu, tôi biết trước chiến lược của người Mỹ với Miền Nam Việt Nam nên thất bại của VNCH là lẽ đương nhiên. Tôi không trăn trở gì về điều này.

TCT: Tôi hay trăn trở lắm chứ, là một sỹ quan đựơc huấn luyện chính quy, tôi luôn tự hỏi mình, hỏi người, tại sao chúng tôi lại thất bại. Nhưng rất cuộc thì trong mọi cuôc chiến phải có người thắng, người thua. Đó là lẽ đương nhiên.

VH: Có khi nào ông ân hận hay hối tiếc không về thời gian tại ngũ của mình không?

PVB: Có thể nói, thế hệ của tôi ở miền Nam Việt Nam tự do là được ươm trồng và chăm sóc kỹ lưỡng về đủ mặt do lớp người cha anh truyền đạt. Thành qủa này là do tâm huyết của những lớp người ông, cha anh tôi sau hai thập niên xây dựng kiến thiết quốc gia. Chúng tôi là thế hệ thứ ba, tức người trưởng thành trong nhận thức chính trị, trong sinh hoạt tự do dân chủ, chuộng nhân bản tính và lẽ phải. Do đó, tôi không lấy gì làm ân hận hay hối tiếc, vì tôi làm đúng tiếng gọi của con tim như vừa dẫn chứng.

Thứ đến, đời binh nghiệp đã giúp tôi chấp cánh bay cao, tư tưởng thăng hoa và lao động thăng tiến. Trong 7 năm quân ngũ thì thời gian huấn luyện rất dài và tôi trở thành chuyên viên đa năng. Ví dụ điển hình như trong lãnh vực vi tính, tôi được học hỏi và sử dụng nó từ thập niên 70, chớ đâu phải ngày nay. Ngoài ra còn nhiều lãnh vực khác mà đời quân ngũ của tôi đã tạo cho tôi đi trước những vấn đề thời đại. Chỉ tiếc chăng là tôi chưa được mang vốn liếng sở trường của mình ra để phục vụ cho dân tộc tôi, cho đồng bào tôi. Nợ nước chưa trả, thì tôi ân hận thật.

NVH: Tôi không bao giờ hối tiếc thời gian tại ngũ của tôi. Nếu có hối tiếc thì chỉ hối tiếc là tại sao ngày xưa tôi coi quân đội như là một nơi để du lịch. Lẽ ra tôi phải lo tròn trách nhiệm của một cấp chỉ huy tốt hơn, cho dù có là một cấp chỉ huy nhỏ thì cũng vẫn đội trên đầu một cái casquette sĩ quan, trong đó có một huy hiệu của QLVNCH, với một hàng chữ TỔ QUỐC, DANH DỰ, TRÁCH NHIỆM. Nếu có hối tiếc là trong suốt thời gian tôi ở lính, tôi không gặp được các cấp chỉ huy cao cấp có đủ tài, đức làm cho tôi tâm phục, khẩu phục. Cả miền Nam có khoảng 100 ông tướng, thế mà tôi chỉ nghe được có vài ông Tướng ra Tướng. Cũng nhân nói đến Tướng, tôi muốn nhắc đến ông Tướng Giáp nổi danh ở ngoài Bắc. Tôi không hiểu tài điều binh, khiển tướng của ông Giáp kinh thiên động đĩa tới đâu, nhưng trong những tài liệu mới được bạch hóa sau này cho thấy, trong các cuộc tranh chấp với Lê Duẫn, và Lê Đức Thọ trước kia, và với Lê Đức Anh bây giờ khiến cho tôi nghi ngờ về những lời đồn đại quanh ông. Một ông Tướng lừng danh không thể để cho đối thủ chính trị của mình, bắt ngồi xuống coi về sinh đẻ. Một ông Tướng ra Tướng không thể để cho đàn em bị người ta vu oan, giáo họa, thậm chí bị thanh trừng mà mình thì cứ mũ ni che tai. Một ông Tướng cho ra Tướng khi đi viếng tang một ông Tướng khác (Trần Độ), thì không thể để người ta bắt ép mình phải thay đổi những dòng chữ trên vòng hoa tang.

TP: Tôi luôn hãnh diện về thời gian tôi tại ngũ. Tôi thấy buồn vì số phận của một quốc gia nhược tiểu như VN đã bị các nước lớn xâu xé. tôi rất đau buồn về điều này.

VH: Lịch sử không thể thay đổi nhưng từ đó người ta có thể rút ra những bài học cho các thế hệ sau này. Vậy bài học mà thế hệ các ông có thể để lại cho con cháu mai sau từ cuộc chiến đẫm máu đó của dân tộc theo ông là gì?

PVB: Từ ngàn xưa Tổ Tiên Ông Bà ta cố công lưu truyền một câu chuyện thương tâm về một nàng công chúa mất nước và thành bài học cho con cháu. Thế nhưng lớp người chính trị thời cận đại đã vô tình hay cố ý lãng quên bài học Hồn Nước để gây ra cảnh "huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt."

Sự đau đớn, đắng cay của người Việt Nam chúng ta là do chính những người cầm quyền Việt Nam nhân danh một chủ thuyết ngoại lai (thần Kim Quy) không tưởng để củng cố, bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị (xây Cổ Loa) và áp đặt những chính sách bất nhân, khủng bố để đày đọa và bóc lột chính dân tộc mình một cách tàn nhẫn. Núp dưới chiêu bài chủ nghĩa đấu tranh, tiến bộ... nhóm người cầm quyền đã dựa trên chủ thuyết và thể chế khiếm khuyết đó để hoành hành thao túng. Và ngày nay, chế độ Việt Nam trước mắt chỉ có một mục tiêu tối hậu là trợ giúp những kẻ có ưu thế và độc quyền, được thêm phương tiện ép buộc kẻ khác phục vụ cho họ.

Bài học mà thế hệ của tôi có thể để lại cho con cháu mai sau từ cuộc chiến đẫm máu đó là bài học Hồn Nước của dân tộc Việt Nam.

NVH: Lịch sử không thể thay đổi... Đúng vậy, tôi đã trả lời trong một câu hỏi ở trên, lịch sử thì không thể đi với chữ NẾU. Tôi hiểu điều này, do đó tôi ao ước thấy được một chút tương lai cho đất nước tôi. Trong khi tôi đang trả lời, thì ở Hà Nội người ta đang rêu rao về thành quả của Đại Hội 10, của Đảng Cộng Sản Việt Nam, và tôi không hiểu nổi những gì đang diễn ra trong đất nước đó.

Họ rêu rao về phường khóm, khu phố, tỉnh thành được mệnh danh là văn hóa, trong khi trên mặt báo thì bất cứ tệ nạn xã hội nào cũng nhiều như rươi, xoắn xít lại với nhau. Họ rêu rao xóa đói giảm nghèo thế mà cứ đọc báo sẽ thấy có những người nghèo đến độ ở Tuy Hòa cách đây vài năm, có một ông chồng dùng dao phay để mổ bụng cho bà vợ khó đẻ, chỉ vì không có tiền đưa vợ đi nhà thương hàng tỉnh. Thế nhưng có những viên chức nhà nước đánh bạc thua 1.8 triệu đô la trong một tháng, hay cưỡng dâm gái vị thành niên, để rồi phải lòi bạc tỉ ra bồi thường. Họ rêu rao chống tham những, thử hỏi những người như Bùi Tiến Dũng, Lương Quốc Dũng lấy tiền ở đâu mà nhiều thế. Họ lớn tiếng về nhà tình thương, có nhiều căn người được hưởng không dám dọn vào, vì sợ nhà sập đè chết. Chưa có một chế độ nào dối trá, lừa đảo dân chúng nhiều như chế độ hiện tại ở trong nước. Tôi biết lịch sử không thể thay đổi, không nên nói về quá khứ. Thế nhưng với những gì đang xẩy ra trong hiện tại, chúng ta làm sao có thể nói đến được tương lai.

TP: Tôi khuyên giới trẻ quên hết hận thù, chịu khó học hỏi và không mù quáng. Giới trẻ cần tranh đấu với sự độc tài, độc đảng đã làm cho quốc gia trì trệ, kém phát triển.

TCT: Tôi muốn nói với thế hệ con cháu rằng, chiến tranh là thất sách, là tàn ác và vô nghĩa. Chúng tôi cầu mong cho thế hệ trẻ làm thế nào để đất nước sớm có tư do dân chủ, giữ vững được chủ quyền của dân tộc, tránh được sự phụ thuộc vào nước ngoài.

VH: 31 năm đã qua đi, nếu có thể nói điều gì với những người lính Việt nam cộng sản, những cựu thù của mình thì ông sẽ nói gì?

PVB: Ðã trải qua 31 năm dưới chế độ độc tài áp bức, dân nghèo nước nhược do thiếu khả năng quản trị điều hành chính quyền của những người cầm quyền Việt Nam đương thời. Những người lính trong cuộc chiến Việt Nam vừa qua ở phía này hay phí kia, đều cưu mang lý tưởng dân an nước thịnh.
Trung tá Nguyễn Văn Long tự sát trước tượng đài Thuỷ quân lục chiến Sài Gòn, sáng 30/4/1975

Không ai có thể bắt lịch sử đứng lại, không ai có thể lãnh đạo quốc gia bằng với những gía trị cổ điển, lỗi thời, hoặc phủ nhận hoặc từ chối gía trị chung của nhân loại đương đại - như mang ấm no, hạnh phúc, thịnh vượng cho dân tộc Việt Nam và theo kịp tiến trình chung của nhân loại, như điều tâm nguyện của những người lính cầm súng chiến đấu vì tổ quốc trước đây từng nghĩ.

NVH: Tôi đã trả lời ở trên là đời người ta thì thoảng qua như gió, còn lịch sử thì chậm như rùa. Với thành tích bầu cử vừa rồi của Đảng Cộng Sản, thì mới có 31 năm mà nhằm nhò gì. Ba thế kỷ nữa cũng sẽ vẫn thế, nếu.. Lại NẾU.. nữa. Nói gì thì gì, tôi vẫn tin là đất nước đó phải thay đổi, bằng cách này hay cách khác. Nếu mười năm, hai chục, thậm chí năm chục năm nữa mà không thay đổi thì tôi xin cảm phục chị Dương Thu Hương khi chị cho ra một nhận xét là dân tộc Việt Nam có thừa anh hùng để chống ngoại xâm nhưng quá nhu nhược với nội xâm.

TP: Tôi muốn nhắn nhủ với họ rằng, họ đừng quá tự hào với chiến thắng của mình. Tôi thông cảm với họ. Thực ra, họ may mắn hơn chúng tôi vì sự sắp xếp của các cường quốc ngoại bang có lợi cho họ. Nhưng chiến thắng đó không phải đã mang lại hạnh phúc cho toàn dân tộc.

TCT: Chúng tôi rất thông cảm với họ. Thực ra chúng tôi là anh em, hai thể chế khác nhau, sự tuyên truyền khác nhau... Chúng tôi đáng thương, anh em bộ đội cũng rất đáng thương. Họ đã hy sinh quá nhiều, chết chóc cũng nhiều hơn chúng tôi. Tôi hoàn toàn thông cảm với họ, họ là những người yêu nước. Đương nhiên, họ yêu nước theo kiểu XHCH, chắc giờ đây họ cũng trăn trở về cái cách yêu nước của họ. Rốt cuộc, mặc dù đánh nhau giết nhau nhưng chúng tôi là anh em.

Đọc bài có liên quan: Người lính Việt Nam cộng sản và ngày 30/4


Copyright © 2006 DCVOnline

Đa đảng là tất yếu

| | Comments (0) | TrackBacks (0)

 

Nguyễn Văn Đài (1) trả lời phỏng vấn DCVOnline
Mạc Việt Hồng thực hiện

Nguyễn Văn Đài
Việt Hồng (VH): Vừa qua anh đã ký tên vào bản Tuyên ngôn dân chủ và giờ đây hình như anh đang chuẩn bị cơ sở pháp lý cho việc thành lập đảng phái đối lập tại Việt Nam?

Nguyễn Văn Đài (NVĐ): Là một luật sư, tôi nghiên cứu pháp luật và tôi có viết một bài về quyền tự do thành lập Đảng tại Việt nam. Tôi muốn gửi bài này tới đăng ở trang web BBC, rất nhiều các báo khác cũng đang chờ đợi để đăng bài báo này của tôi.

VH: Là một luật sư, xin anh cho biết đòi hỏi thành lập Đảng phái này có vi phạm bản Hiến pháp nước Cộng hòa XHCH Việt Nam năm 1992 không?

NVĐ: Không. Tôi đã nghiên cứu rất kỹ Hiến pháp cũng như hệ thống pháp luật của Việt Nam, trong Hiến pháp không có điều nào cấm công dân Việt Nam thành lập một đảng phái chính trị cả, thưa chị.

VH: Nhưng Hiến pháp 1992 của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (VN) quy định vai trò độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản (ĐCS) Việt Nam, các anh thành lập Đảng ra là để giành quyền lãnh đạo đất nước của ĐCS. Nếu không các anh thành lập Đảng ra làm gì?

NVĐ: Trong Hiến pháp chỉ quy định là ĐCS VN được lãnh đạo nhà nước xã hội chứ không quy định ở Việt Nam chỉ có ĐCS được tồn tại và phát triển. Trong một đất nước với hơn 80 triệu dân, mỗi người dân đều có những ý kiến, tư tưởng khác biệt của mình mà ĐCS lại chỉ có 3 triệu thôi. Họ không thể đại diện cho toàn dân được. Nhân dân VN có quyền được thành lập ra các đảng phái khác để bày tỏ chính kiến của mình và cùng nhau xây dựng đất nước. Đó là quyền đương nhiên của họ.

VH: Đó là quan điểm cùa anh nhưng ĐCS VN chắc chắn sẽ chống lại và thậm chí cho rằng đây là đòi hỏi phản động. Vậy với tư cách là luật sư anh có cách gì để giúp cho những người muốn thành lập đảng phái này thực hiện được cái quyền đó?

NVĐ: Tôi sẵn sàng tư vấn cho họ để thực hiện cái quyền đó chứ tôi không phải là người sẽ đúng ra thành lập một Đảng chính trị mới ở Viêt Nam. Là lụât sư tôi viết ra cho họ biết những quyền mà họ được phép làm trong đó có quyền thành lập đảng. Sau khi đọc bài viết này của tôi, nếu ai cần sự tư vấn pháp luật của tôi, tôi sẽ giúp đỡ cho họ.

VH: Tức là anh chỉ gợi ý cho các công dân Việt Nam về quyền thành lập đảng phái?

NVĐ: Vâng. Đúng rồi. Tôi nghiên cứu pháp luật và tôi gợi mở ra cho họ. Sau bài viết này, sẽ có nhiều những bài viết khác về các quyền khác của người dân như là quyền Tự do báo chí, quyền Tự do lập hội... và nhiều quyền khác nữa. Có nhiều người Việt Nam họ đâu có biết họ có quyền gì nên tôi phải giải thích cho họ bằng Hiến pháp và pháp luật.

VH: Được biết là trong lịch sử Việt Nam đã từng có những đảng phái chính trị khác như Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội... nhưng trên thực tế họ chỉ là cái bóng mờ nhạt của ĐCS. Vậy theo anh phải làm cách nào để các đảng chính trị được thành lập sau này không đi vào vết xe đổ của các đảng trước kia?

NXĐ: Tôi nghĩ là giai đoạn lịch sử trước kia và bây giờ khác xa nhau rất nhiều. Chính phủ đầu tiên của nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa đã có rất nhiều đảng như đảng Dân chủ, đảng Xã hôi, Quốc dân đảng, đảng Đại Việt... Sau này chỉ còn lại 3 đảng tham gia lãnh đạo viêt Nam là đảng Dân chủ, Đảng xã hội và ĐCS. Đến năm 1988 hai Đảng dân chủ và Xã hội tuyên bố tự giải tán vì đã hoàn thành nhiệm vụ của mình. Tôi cũng không rõ tại sao họ lại tuyên bố như vậy. Hiện nay tôi cho rằng nhu cầu có thêm các đảng phái chính trị ở Việt Nam là một nhu cầu tất yếu. Nó phản ánh đúng bản chất của một xã hội dân chủ là phải có nhiều đảng phái chính trị tham gia lãnh đạo đất nước.

VH: Anh có lời khuyên nào dành cho các đảng phái chính trị sẽ được thành lập ở VN để họ không bị lụi tàn đi như các đảng phái trước kia không?

NVĐ: Tôi nghĩ rằng, vào thời điểm này đại đa số dân VN đều chán ngán ĐCS và họ mong muốn sự ra đời của các đảng phái chính trị khác. Nếu giờ đây 2 đảng Dân chủ và Xã hội phục hồi hoạt động và có thêm vài chính đảng nữa được thành lập tại VN thì sẽ có rất nhiều người dân ủng hộ. Nhưng họ cũng phải mất một thời gian, theo tôi là từ 5 đến 7 năm sau để có thể cạnh tranh với ĐCS.

VH: Cá nhân anh có định trở thành đảng viên của đảng nào trong tương lai không?

NVĐ: Tôi luôn luôn nói với bạn bè là tôi không phải là nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp. Bản thân tôi thấy mình khó trở thành nhà hoạt động chính trị được bởi vì không ai hiểu bản thân mình bằng chính mình. Trong bất cứ xã hội nào cũng cần những luật sư hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền như tôi. Dù VN có trở thành chế độ đan đảng thì cũng vẫn cần đến những luật sư tranh đấu cho nhân quyền như tôi vì đấu tranh cho nhân quyền là một quá trình lâu dài. Kể cả trong những xã hội phát triển thì lúc này hay lúc khác vẫn có những nơi quyền con người bị vi phạm và họ vẫn cần đến những luật sư như tôi. Khi VN chuyển từ chế độ CS sang chế độ đa đảng, tôi sẽ vẫn tiếp tục hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền. Xã hội nào cũng vẫn có sự vi phạm về nhân quyền và họ vẫn cần đến tôi.

VH: Việc anh thẳng thắn bày tỏ chính kiến như thế này có làm ảnh hưởng tới sự nghiệp của anh không?

Bích chương vận động tranh cử trong chế độ đa đảng -- Nguồn: hkuhist2.hku.hk
NVĐ: Tôi bày tỏ chính kiến của tôi rất nhiều lần kể cả khi tôi được các nhân viên của cơ quan an ninh hỏi. Tôi luôn luôn bày tỏ thẳng thắn với họ rằng tôi không phải là nhà hoạt động chính trị, tôi chỉ là một luật sư đấu tranh cho nhân quyền mà một luật sư như vậy trong xã hội nào cũng cần có. Họ cũng chấp nhận việc làm của tôi mặc dù không bằng lòng. Họ không làm gì tôi được vì tôi hoàn toàn làm theo đúng pháp luật. Pháp luật quy định rõ ràng những quyền tự do của con người.

VH: Có một điều rất khó chối cãi là trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của ĐCS, VN đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế đều đặn trên 8% một năm. Đây là con số mà nhiều nước mơ ước. Nếu ĐCS đang lãnh đạo đất nước tốt như vậy thì cần thành lập các đảng phái khác làm gì?

NVĐ: Ở VN người dân còn quá thiếu nhiều quyền tự do khác. Mức tăng trưởng 8% thực ra vẫn còn thấp. Tôi nghĩ rằng nếu VN có một chế độ dân chủ có khi mức tăng trưởng của VN có thể 10 hay trên 10%. Mức tăng trưởng 8% mà ĐCS đưa ra, theo tôi nếu Đảng khác lãnh đạo đất nước có khi mức tăng trưởng còn cao hơn.

VH: Trong một cuộc trả lời phỏng vấn gần đây, ông Nguyễn Cao Kỳ có nói rằng ông ấy phản đối độc đảng nhưng nếu đa đảng mà có quá nhiều đảng phái thì ông ấy cũng phản đối luôn. Ông ấy chỉ mong muốn VN có lưỡng đảng thôi. Vậy quan niệm của anh về vấn đề này như thế nào?

NVĐ: Đó là quan điểm của ông Nguyễn Cao Kỳ, cá nhân tôi cũng nghĩ như vậy. Tôi cho rằng nếu một đất nước có 2 hay 3 đảng cạnh tranh với nhau thì sẽ tốt hơn là có vài chục đảng. Nhưng quan điểm của tôi với ông Nguyễn Cao Kỳ không thể đem áp đặt cho toàn bộ dân tộc VN được. Việc có bao nhiêu đảng phụ thuộc vào ý muốn của người dân VN. Nếu có 2 đảng nhưng chỉ đại diện cho quyền lợi của vài chục triệu người VN thôi, thì những người khác nếu muốn, họ hoàn toàn có quyền thành lập ra những đảng khác. Tóm lại việc có bao nhiêu đảng không phụ thuộc vào ý nguyện của tôi của ông Nguyễn Cao Kỳ hay ý muốn của ĐCS VN.

VH: Cho đến giờ phút này ĐCS VN vẫn chống lại đa nguyên đa đảng và coi những người đưa ra đòi hỏi này là những kẻ phản động. Vậy là một luật sư anh có cách gì để bào chữa giúp cho những những người này?

NVĐ: Tôi nghĩ rằng đây là một việc hết sức sai lầm của ĐCS VN. Khi kinh tế đa nguyên, thì chính trị cũng phải đa nguyên. Chủ nghĩa Marx - Lenin mà ĐCS VN dùng làm kim chỉ nam cho hành động của họ thì tôi cũng đã được học trong nhà trường. Có một câu nói rất đúng đắn là: "Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng" Trong khi đó cơ sở hạ tầng của nền kinh tế Việt Nam là đa nguyên thì kiến trúc thượng tầng của nó là chính trị cũng phải đa nguyên. Cái đó cũng đúng với hầu hết các quốc gia trên thế giới.

VH: Trong quá khứ anh đã từng bào chữa cho nhà hoạt động dân chủ nào trước tòa chưa?

NVĐ: Tôi đã từng bào chữa cho ông Mục sư Nguyễn Hồng Quang, và cũng đã bảo vệ cho Mục sư Dương Văn Trường còn việc tư vấn về pháp luật cho các nhà dân chủ như bác Hoàng Minh Chính, anh Trần Khuê, anh Nguyễn Khắc Toàn, anh Đỗ Nam Hải... thì đó là công việc thường xuyên của tôi. Bất kỳ khi nào họ gặp khó khăn với chính quyền hoặc cần tư vấn thì tôi luôn sẵn sàng giúp họ để việc đấu tranh của họ không vi phạm pháp luật.

VH: Vậy anh có bị nhà nước CS VN cản trở công việc này không?

NVĐ: Tất nhiên tôi cũng gặp rất nhiều khó khăn, thỉnh thoảng tôi có bị theo dõi. Chị hiểu rằng, không dễ dàng gì cho tôi khi thực hiện những việc đó ở VN nhưng tôi cảm thấy mình có trách nhiệm với đất nước. Hơn nữa, tôi là một người theo đạo Tin lành, tôi tin vào Thượng Đế. Tôi nghĩ rằng Thượng Đế đã giao công việc đó cho tôi và Thượng Đế sẽ bảo vệ tôi.

VH: Rất cám ơn anh. Chúc anh luôn làm tốt công việc của mình để góp phần vào quá trình dân chủ hóa VN.

NVĐ: Dạ, xin cảm ơn chị.

Đọc Nguyễn Văn Đài: Quyền tự do thành lập đảng ở Việt Nam

Copyright © 2006 by DCVOnline


1: Ông Nguyễn Văn Đài là luật sư của Văn phòng luật sư Thiên Ân - Đoàn luật sư Hà Nội, số 10 Đoàn Trần Nghiệp, Hà Nội, Việt Nam

truyen thongMạc Việt Hồng thực hiện


Nguyễn Xuân Ngãi, đại diện văn phòng hải ngoại của tổ chức Phong trào Dân chủ Việt Nam (11/9/2005) -- Nguồn: SaigonUSA News
Việt Hồng (VH): Thưa ông, ông có thể cho biết đôi nét về buổi công bố "Tuyên ngôn dân chủ" ngày 15/4 vừa qua tại California, USA không?

Nguyễn Xuân Ngãi (NXN): Thưa cô, buổi ra mắt vừa rồi có 300 cái ghế thì đều có người ngồi hết, còn một số người đứng. Như vậy, phải có tới hơn 300 người tham dự và buổi ra mắt đã thành công hơn so với dự đoán của ban tổ chức.

VH: Xin ông cho biết những tổ chức nào đã tham dự buổi ra mắt này?

NXN: Có đủ hết, thưa cô. Có các tổ chức đảng phái, các lực lượng đấu tranh cho dân chủ, các tổ chức cộng đồng. Nếu cô nhìn vào những bức hình thì cô sẽ thấy có cả các tổ chức tôn giáo, như Phật giáo, Cao đài giáo, Hòa hảo...

VH: Bản tuyên ngôn mà các ông công bố là bản Tuyên ngôn do giáo sư Trần Khuê soạn thảo?

NXN: Đúng ạ. Ban tuyên ngôn này do giáo sư Trần Khuê ký và nó đã được soạn thảo trước đó lâu rồi.

VH: Tại sao các ông lại không ủng hộ bản Tuyên ngôn thứ nhất được công bố ngày 8/4 mà lại phải cần đến một bản tuyên ngôn khác?

NXN: Trong bản thông cáo báo chí, chúng tôi nói rằng, chúng tôi ủng hộ tất cả những bản tuyên ngôn, những lời kêu gọi trước đây của tất cả các nhóm đấu tranh cho dân chủ theo tinh thần đại đoàn kết dân tộc. Tuy nhiên, về vấn đề thủ tục thì Phong Trào Dân Chủ Việt Nam là một tổ chức, có người đại diện do vậy chúng tôi dự định phải ra mắt bản Tuyên ngôn một cách long trọng trước đồng bào và bản Tuyên ngôn đó phải do đại diện của phong trào ký chứ không thể lại do một nhóm 118 hay 116 người cùng ký tên.

VH: Có gì khác biệt giữa 2 Tuyên ngôn này?

NXN: Theo sự hội họp, bàn bạc nhiều lần giữa ông Hoàng Minh Chính, Trần Khuê, Nguyễn Chính Kết v.v... cùng những người đấu tranh cho dân chủ trong nước thì mọi người đồng ý rằng giáo sư Trần Khuê là người cuối cùng đại diện ký bản tuyên ngôn. Nhưng có lẽ do vấn đề kỹ thuật, thông tin...nên khi bản tuyên ngôn đi qua miền Trung lại được tiết lộ ra sớm hơn. Theo tôi đây chỉ là sự cố do vấn đề kỹ thuật, thiếu thông tin thôi, chứ không có gì khác biệt cả.

VH: Như vậy có nghiã là khi các ông công bố bản Tuyên ngôn thứ hai thì các ông vẫn đồng thời ủng hộ bản Tuyên ngôn thứ nhất?

NXN: Vâng. Chúng tôi bao giờ cũng ủng hộ tất cả những bản Tuyên ngôn, thông cáo trước đây ngay cà bản "Đòi quyền hoạt động đảng phái" với 116 chữ ký. Chúng tôi ủng hộ tất cả các nhà đấu tranh cho dân chủ trong nước dù họ đi con đường khác, như nhóm Đà lạt, linh mục Nguyễn Văn Lý...Đấu tranh cho dân chủ là công việc chung, chúng tôi ủng hộ tối đa.

VH: Chắc ông có đọc lời minh định của LM Nguyễn Văn Lý. Ý kiến của ông như thế nào?

NXN: Vâng, tôi có đọc. Như tôi đã nói đây chỉ là sự hiểu lầm do những khó khăn trong thông tin thôi. Còn chủ trương của chúng tôi bao giờ cũng là đại đoàn kết dân tộc vì công việc chung.

VH: Ông nhắc nhiều tới vấn đề đại đoàn kết dân tộc, vậy tại sao ông lại không thể ký tên vào bản Tuyên ngôn mà 118 người đã ký trước đó?

NXN: Như tôi đã nói đây là bản tuyên ngôn chính thức của Phong trào. Chúng tôi đã soạn thảo lâu rồi nhưng đợi đến khi trước đại hội đảng 3 ngày mới công bố để gây tiếng vang thôi. Chúng tôi cũng ủng hộ bản tuyên ngôn của 118 người vì khi đọc kỹ cũng có những điểm tương đồng giữa hai bản Tuyên ngôn. Một bản nhẹ nhàng hơn, một bản mạnh mẽ hơn nhưng có nhiều điểm tương đồng.

VH: Cá nhân ông Trần Khuê đã ký tên vào bản Tuyên ngôn thứ nhất, sau đó lại soạn thảo ra một bản Tuyên ngôn khác. Có gì không hợp lý ở đây?

NXN: Vì hai bản Tuyên ngôn có những điểm tương đồng với nhau nên có những nhà dân chủ họ ký cả hai. Như tôi đã nói vì khó khăn trong thông tin nên khi cha Lý khi đề tên những nhà dân chủ như Trần Khuê, Hoàng Minh Chính (HMC), có thể ông chưa thông tin kịp nhưng ông vẫn phải đề vào vì vấn đề cấp bách của bản Tuyên ngôn. Nên chưa chắc ông Trần Khuê đã ký chính thức vào đó.

VH: Theo nhiều người hiểu thì có một Phong Trào Dân Chủ (viết hoa) do ông Trần Khuê và ông Nguyễn Xuân Ngãi làm đại diện và luôn có một phong trào dân chủ (viết thường) của tất cả các tổ chức, đảng phái và các cá nhân ủng hộ dân chủ. Chẳng hạn tôi là một người ủng hộ dân chủ nhưng chưa bao giờ tôi coi ông Nguyễn Xuân Ngãi là đại diện của tôi cả. Ông nghĩ sao?

NXN: Thưa cô, đây là một câu hỏi rất hay. Phong Trào Dân Chủ (viết hoa) nó có tính tổ chức hơn chút xíu vì bất cứ hoat động nào cũng cần phải có tổ chức thì mới hiệu quả được. Còn phong trào dân chủ Việt Nam (viết chữ thường) gồm tất cả các tổ chức đảng phái, cá nhân nhưng nếu cứ tản mạn như vậy thì sẽ rất khó thành công. Nên PTCD (viết hoa) ra đời nhằm tập hợp các tổ chức, đảng phái lại. Như tôi đã nhấn mạnh vai trò đại diện của tôi chỉ là tạm thơì thôi. Nay mai các tổ chức họp lại, bầu lại. Đây chỉ là bước sơ khởi, trong tương lai khi bầu lại sẽ có một ban lãnh đạo hoàn chỉnh hơn.

VH: Xin ông cho biết, Phong Trào Dân Chủ Việt Nam (viết hoa) là một tổ chức như thế nào?

NXN: Thưa cô, PTDCVN như chúng tôi đã nói nhiều lần đây là một phong trào kết hợp với tất cả các đảng phái, thành phần... nó không phải là một tổ chức chính trị mặc dù có tổ chức. Xin nhắc lại đây không phải là một đảng phái chính trị. Chắc cô cũng biết là theo sự đề nghị tạm thời - đây chỉ là tạm thời thôi, thì đại diện trong nước là giáo sư Trần Khuê, ở hải ngoại là tôi. Đề nghị tạm thời này chỉ nhằm mục đích tổ chức cho có hệ thống thôi, còn trong tương lai khi tổ chức hoàn chỉnh hơn, có thể sẽ có ban lãnh đạo khác với những người tài giỏi hơn.

VH: Ở hải ngoại có rất nhiều các tổ chức chính trị như Viêt Tân, Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên, Đại Viêt... có những tổ chức đã hoạt động mấy chục năm và khá có uy tín. Nhưng khi ông HMC sang Mỹ, ông lại đề nghị bác sỹ NXN làm đại diện cho phong trào dân chủ ở hải ngoại. Vậy theo ông đề nghị ấy có công bằng hay không?

NXN:(hơi lúng túng) Có lẽ... do... ông HMC biết rõ tôi hơn là những người khác. Chúng tôi đã liên lạc với nhau từ năm 2000 do vậy có thể ông HMC đã cảm thấy yên tâm khi giao chức vụ đó cho tôi. Một lần nữa tôi xin nhấn mạnh, chỉ tạm thời thôi. Sau đó, tôi đã gặp rất nhiều thành phần, nhiều đảng phái lớn như là Việt Tân, VN Quốc dân đảng, Đại Việt... thì anh em đều đồng ý ngồi chung trong Phong Trào hết. Đó chỉ là bước đầu và chúng tôi vẫn đang tiếp tục tiến hành.

VH: Ông nhấn mạnh nhiều lần chữ "tạm thời", như vậy trong tương lai Phong Trào Dân Chủ có thể bầu ra một lãnh đạo mới và người đó có thể không phải là ông?

NXN: Vâng, rất chính xác. Thưa cô.

VH: Thưa ông, hình như ông cũng được lợi trong chuyến thăm Mỹ của ông HMC, tăm tiếng của ông đã nổi lên như cồn sau chuyến thăm này?

NXN: Tôi không có mong mỏi gì về chuyện đó hết. Những việc tôi làm là vì tấm lòng muốn tranh đấu cho đất nước dân chủ thôi. Chuyện nổi tiếng (cười) thì tôi chỉ là tạm thời thôi, nếu có anh em nào giỏi hơn, tổ chức nào giỏi hơn, tôi sẵn sàng nhường lại cho người đó (cười).

VH: Thưa ông, có nhiều lời đồn đại rằng khi ông HMC sang Mỹ ông đã luôn kèm sát ông HMC, hình như ông đã không muốn ông HMC tiếp xúc với những tổ chức chính trị khác. Ông nghĩ sao về điều này?

NXN: Thưa cô Việt Hồng, chuyện này tôi đã được nghe nhiều lần rồi, lúc nào tôi cũng phải đình chính. Khi ông HMC sang đây, có 2 vấn đề, đó là an ninh và sức khỏe của ông. Tôi luôn phải kèm sát ông vì không biết thái độ của người Việt ở đây đối với ông như thế nào, tòa Đại sứ lại ở cách chỗ chúng tôi chỉ có mấy chục miles thôi. An ninh là vấn đề thứ nhất, còn thứ nhì là vấn đề sức khỏe. Ông ấy đã 87 tuổi lại qua 3 cuộc giải phẫu. Tôi là bác sỹ của ổng nên phải đảm bảo sức khỏe cho ổng, không để mọi người tùy tiện gọi điện thoại phá giấc ngủ của ổng. Tôi là bác sỹ nên có quyền sắp xếp những cuộc gặp để không làm ảnh hưởng tới sức khỏe của ổng.

Những đảng phài chính trị cũng như các cá nhân muốn gặp ông cụ đều được gặp hết. Tôi chưa từ chối một người nào cả. Ví dụ như anh Nguyễn Thanh Trang, anh Nguyễn Ngọc Bích, v.v... đều đến đây ngồi với ông cụ cả ngày. Có thể nói, tôi chưa có từ chối bất kỳ một người nào cả.

VH: Đảng Nhân Dân Hành Động của ông và Phong Trào dân Chủ (viết hoa) có liên quan gì với nhau không?

NXN: Hoàn toàn không liên quan gì với nhau. Đảng Nhân Dân Hành Động cũng như tất cả các đảng phái khác đều có thể là thành viên của PTDCVN viết hoa. Và, PTDCVN viết hoa này là một tổ chức nhưng không phải là môt đảng phái chính trị.

VH: Xin ông cho biết PTDCVN viết hoa sẽ có những hoạt động gì trong thời gian tới ở hải ngoại cũng như ở VN?

NXN: Trong website của chúng tôi có nói rõ:

- Thứ nhất: tranh đấu cho vấn đề tự do thông tin báo chí.

- Thứ nhì: là tranh đấu cho vấn đề tự do lập hội, lập đảng để tiến tới đa nguyên đa đảng.

- Thứ ba: là tiến tới một cuộc bầu cử tự do công bằng, có quốc tế
giám sát

Cách thức thực hiện như thế nào thì có nhiều chi tiết mà tôi không thể bàn trong những câu hỏi như thế này.

VH: Xin thay mặt cho Đàn Chim Việt Online cám ơn cuộc trả lời phỏng vấn của ông.

NXN: Cám ơn cô Việt Hồng và anh em của Đàn Chim Việt rất nhiều.

Copyright @ DCVonline 2006

Mạc Việt Hồng thực hiện

Lm. Nguyễn Văn Lý, một trong 118 người tiên phong ký Tuyên ngôn Tự do Dân chủ 2006 -- Nguồn: bistum-regensburg.de
Việt Hồng (VH): DCVOnline hiện đang đăng lời minh định của ông sau khi nhóm Phong Trào Dân Chủ (PTDC) của ông Nguyễn Xuân Ngãi tung ra một bản tuyên ngôn khác, do ông Trần Khuê soạn thảo, ký ngày 14/04/2006. Theo ông, đây có phải là âm mưu nhập nhằng "đánh lận con đen" của nhà nước cộng sản Việt Nam (CSVN) không?

Linh mục Nguyễn Văn Lý (Lm NVL): Chúng ta không vội kết luận về ai, về tổ chức nào khi chưa có đủ chứng cớ. Nhưng quả thật hành động của Gs Trần Khuê kéo theo hành động của ông Nguyễn Xuân Ngãi ngày 14 & 15/04 vừa rồi là rất tai hại cho chính phong trào và bản thân các ông ấy. Vì sau việc đó, dư luận trong và ngoài nước hoàn toàn bất lợi cho các ông nầy. Còn việc Nhà nước CSVN chi phối thế nào về bản "tuyên ngôn" không đáng mong đợi đó thì chúng tôi chưa thể kết luận được. Nhưng chắc chắn một điều là CSVN rất vui mừng vì bản văn gọi là ''tuyên ngôn" ấy đã như một lời động viên tiếp sức đang khi đảng CSVN quá túng bẫn.

VH: Bản Tuyên ngôn mới này liệu có làm ảnh hưởng xấu tới bản Tuyên ngôn ra ngày 8/04/2006 với 118 chữ ký ban đầu không?

Lm NVL: Tôi nghĩ lúc đầu cũng có làm cho đồng bào trong và ngoài nước hoang mang chút ít, vì lần đầu tiên, từ năm 1954, có một nhóm qui tụ được hàng trăm nhà đấu tranh trực diện công khai, mà mới chỉ 1 tuần sau đã có dấu hiệu xẻ lẻ. Nhưng sau vài ngày, bình tĩnh lại, đồng bào sẽ thấy vui hơn, vì trong một cuộc chiến muôn vàn khó khăn, các chiến sĩ dân chủ hòa bình chân chính đích thật vẫn vững vàng trong trận tuyến, thì Tuyên ngôn của nhóm 118 ngày 08/04/2006, vốn đã được dư luận trong và ngoài nước nhiệt tình ủng hộ, sẽ lại càng được đánh giá cao và quý mến hơn nữa mà thôi.

VH: Các ông có biện pháp gì để đối phó không nếu như nhà nước CS dùng chiêu bài tung ra hàng loạt tuyên ngôn để làm "loạn tuyên ngôn", giảm giá trị của bản Tuyên ngôn ngày 8/04/2006?

Lm NVL: Trong quá trình biên soạn Tuyên ngôn của nhóm 118, vì phải thông tin hội ý nhau rất xa xôi, nên công việc bị tiết lộ, dẫn đến việc kỹ sư Đỗ Nam Hải bị bắt, máy tính cá nhân bị tịch thu lần 1 và bị niêm phong lần 2. Do đó, chúng tôi đã tiên liệu chuyện "loạn tuyên ngôn" nầy; trong thời gian chúng tôi đang biên soạn, chúng tôi đã biết một vị tiến sĩ ở Hà Nội đang soạn một "tuyên ngôn" và giáo sư Trần Khuê ở Sài Gòn cũng đang ráo riết hoàn thành một "tuyên ngôn" khác. Chính vì thế, một mặt chúng tôi phải tìm mọi cách công bố Tuyên ngôn của nhóm 118 thật nhanh mà vẫn đạt mục tiêu, một mặt chúng tôi phải minh định vấn đề "loạn tuyên ngôn" để vô hiệu hóa và ngăn chặn nó.

Còn giá trị thật của Tuyên ngôn ngày 08/04/2006 thì chúng tôi tin rằng tâm huyết của chúng tôi và mục đích rất trong sáng và cao đẹp của Tuyên ngôn nầy sẽ được đồng bào ngay chính trong và ngoài nước nhận ra và được lịch sử thừa nhận. Chúng tôi không e ngại các "tuyên ngôn lá cải" làm giảm giá trị Tuyên ngôn chân chính của nhóm 118 được. Tự nội dung của chúng cũng xác định được giá trị của chúng rất cách xa nhau. Một đàng làm vì Dân, vì Nước. Một đàng làm vì thủ đoạn, hoặc động cơ thấp hèn, hoặc theo đơn chỉ thị đặt hàng, may ra thì cũng chỉ vì tham vọng mù quáng lầm lạc nào đó mà thôi. Nhóm 118 thật vàng đâu sợ gì lửa.

VH: Ông đã từng vài lần vào tù, hình như nhà nước CSCN đã không thành công trong việc thay đổi tư tưởng của ông?

Lm NVL: Tôi là một đầy tớ của Chúa, tôi không làm việc gì cho riêng tôi. Tôi chỉ làm việc do Chúa soi dẫn và sắp đặt. Kể cả khi cần phải hy sinh chính danh dự của riêng tôi, tôi cũng cầu nguyện thật nhiều để chỉ biết hy sinh trong sự soi dẫn của Chúa. Do đó, tôi luôn chủ động trong việc ở tù. Mỗi lần, ngay khi bị bắt, ngồi trên xe bắt tôi, tôi đều cầu nguyện trao phó nhiệm vụ/nhiệm sở lại cho Chúa và hăng hái nhận nhiệm sở mới là trại giam. Bị xô vào phòng giam, tôi luôn quỳ xuống hôn nền đất phòng giam và xin ơn Chúa phù giúp để đủ sức thi hành nhiệm vụ mới tại trại giam và tức khắc coi trại giam là giáo xứ mà tôi phải chăm sóc do Chúa trực tiếp bổ nhiệm.

Công an bắt tôi, giam tôi, thẩm vấn tôi và anh em tù nhân đều là đối tượng tôi phải chăm sóc và giới thiệu Chúa cho họ. Vì vậy, người tôi tớ của Chúa phải khiêm tốn dựa vào sức mạnh của Chúa để luôn chủ động quyết tâm lấy thiện chí, tình thương và sự cương trực chân thành để cải tạo đầu óc đảng CSVN và nhà cầm quyền CSVN, chứ không bao giờ lo sợ hay để họ cải tạo tâm trí mình cả. Làm sao một bạo quyền lại có thể cải tạo một tôi tớ đích thật của Chúa được, nếu người ấy luôn tin cậy vào Chúa?

VH: Ông có cho rằng ông sẽ gặp rắc rối vì đã ký tên vào "Lời kêu gọi cho Quyền Thành lập và Hoạt động đảng phái VN năm 2006" và "Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho VN ngày 8/04/2006" không?

Lm NVL: Tất cả các biện pháp nhà cầm quyền CSVN nghĩ hết cách để áp dụng cho chúng tôi thì chúng tôi đã chủ động nghĩ đến trước rồi: cắt điện thoại, cắt điện thư, quản chế, triệu tập, bị tịch thu máy tính / tài liệu, bắt, xử án, tù dài hạn, tù chung thân... chúng tôi luôn sẵn sàng đón nhận tất cả trong tâm tình cảm tạ Thiên Chúa rằng nhờ đó, cộng đồng quốc tế, đồng bào VN trong và ngoài nước và chính chúng tôi lại có cớ để lợi dụng các rắc rối đó mà đấu tranh tiếp. Mỗi lần tôi ở tù, xét theo một khía cạnh, tôi cũng rất mừng, vì nhờ đó tôi làm được một số việc mà ở ngoài tôi không thể làm được, tôi gặp được các nhân viên CS mà tôi có nhiệm vụ chinh phục. Nhờ đó mà quốc tế sẽ gây áp lực mạnh hơn trên CSVN; cuộc đấu tranh của toàn dân sẽ tăng cường độ. Đúng ra, mỗi lần CSVN bắt một nhà đấu tranh bất bạo động là rơi vào kế hoạch của nhà đấu tranh đó, vì mỗi lần như vậy nhà đấu tranh ấy luôn mạnh hơn lên, còn CSVN thì luôn yếu thêm.

Bắt tôi thì quá dễ, nhưng thả tôi thì quá khó và xử án tôi thì lại càng rất khó. Chỉ cần giữ im lặng trước tòa để chứng tỏ mình vô tội đối chiếu với công pháp quốc tế, tức khắc danh dự nền tư pháp xã hội chủ nghĩa (XHCN) VN rơi xuống tận đáy bùn nhơ. May mắn được qua đời trong tù thì thật là đại phước cho Giáo hội, dân tộc tôi và bản thân tôi. Tất nhiên CSVN sợ nhất điều đó, không bao giờ dám để xảy ra. Chúng tôi đã tạo được "'thế" quốc tế, nay chỉ còn xây dựng thêm "lực" nữa là thắng. Ngày đó không xa.

VH: Là một Linh mục đáng ra ông nên dành toàn bộ thời gian để chăm sóc phần hồn cho giáo dân của mình tại sao ông lại quan tâm quá tới chính trị như vậy?

Lm NVL: Thật ra, tận thâm tâm và bản chất, cả 6 Tôn giáo tại VN không có tôn giáo nào thích CSVN tồn tại cả, nhưng làm cho sự mong muốn nầy trở thành hiện thực thì mỗi tu sĩ, giáo sĩ lại chọn phương cách khác nhau mà thôi. Phần tôi, tôi cho rằng chiến đấu cho sự thật, lẽ phải, công bằng, tình thương, tự do... cách công khai trực diện chính là cách hay nhất để lo phần hồn cho giáo dân. Bởi vì trong một môi trường gian dối, bất công, hận thù, nô lệ, sợ hãi,... thì người tín đồ không thể hiên ngang và tự do sống Phúc Âm, Đạo pháp và phục vụ đồng bào mình được. Họ sẽ phải sống gượng ép trong lương tâm và lương tri rất nhiều điều. Chiến đấu để giải thoát đồng bào mình khỏi dối trá, hận thù, nô lệ, bất công,... là một cách, nếu không muốn nói là cách tốt nhất để phát huy tôn giáo và hoằng hoá Đạo pháp. Làm chính trị chân chính, chứ không phải tà trị là một cách truyền giáo hữu hiệu nhất, miễn là chính trị cao đẹp, chứ không dùng thủ đoạn thường tình. Từ thế kỷ thứ 4 trước công nguyên, triết gia Platon, Hy Lạp, đã cho rằng chỉ có triết gia đạo đức mới là có thể làm những nhà chính trị đúng nghĩa mà thôi. Gần đây cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu Singapore cũng chủ trương như thế.

VH: Ông có nghĩ rằng giữa tôn giáo và chính trị nên có những ranh giới không?

Lm NVL: Phải có, và nên có:

Tôn giáo chỉ dùng các biện pháp tu đức để hướng dẫn con người tìm về Chân, Thiện, Mỹ và Thượng Đế. Tôn giáo chỉ kêu mời con người, và không xâm hại đến tự do của bất cứ người nào hết. Nếu cần phải giới hạn ít nhiều tự do của tín đồ, thì chỉ là kêu gọi họ tự nguyện để kiện toàn đức bác ái của nhau và cho nhau mà thôi.

Còn chính trị chân chính dùng các biện pháp hành chánh, ngoại giao, kinh tế, an ninh, quân sự,... cũng để đạt mục đích trên. Chính trị, ngoài kêu mời còn phải biết tổ chức, quản lý, không chế để bảo đảm công bằng cho quyền lợi và tự do của người khác.

Nhưng trong một hoàn cảnh mà đồng bào và tín đồ bị mất tự do, chìm ngập trong sợ hãi và dối trá mà tôn giáo cứ muốn truyền giáo thì chỉ là ảo tưởng, vì không còn điều kiện cơ bản để truyền giáo và phát triển lành mạnh nữa. Truyền giáo trong tình trạng nô lê như vậy thì không thể hiên ngang để loan truyền sự thật, lẽ phải; khó chinh phục đồng bào và càng không thể chinh phục nhà cầm quyền là đối tượng lẽ ra tôn giáo cũng phải nhắm để chinh phục, có khi phải chinh phục trước tiên. Chính vì vậy, giúp giải thoát đồng bào khỏi các thứ nô lệ của sợ hãi, hận thù, gian trá,... chính là phục vụ Đạo pháp cách tốt và cần thiết nhất, ngay cho cả những ai đang đàn áp mình.

VH: Giáo Hoàng Jonh Paul II và Nhà Thờ ở Ba lan đã đóng một vai trò tích cực trong việc lật đổ chế độ CS, đem lại tự do dân chủ cho Nước này. Nhưng Ba Lan là Nước có hơn 90% dân số theo đạo Thiên chúa, VN con số này khiêm tốn hơn rất nhiều. Vậy ông đánh giá như thế nào về vai trò của Nhà Thờ tại VN trong công cuộc dân chủ hóa Đất nước?

Lm NVL: Ở VN, không có tôn giáo nào ảnh hưởng quyết định trên toàn đất nước được, nhưng nếu 6 tôn giáo lớn biết liên kết lại với nhau thì không một thể chế độc tài nào tồn tại nổi cả. Hiện nay, các nhà dân chủ dân sự chưa đủ điều kiện thuận lợi để tổ chức các phong trào và đoàn thể quần chúng vì gặp quá nhiều hạn chế từ đi lại, tiếp xúc đến thông tin liên lạc. Trong hoàn cảnh đặc biệt của VN, 6 tôn giáo lớn của VN là chỗ dựa rất vững vàng và đáng tin cậy cho dân chúng và cho cả các nhà dân chủ dân sự hướng dẫn cho công nhân, nông dân, sinh viên, học sinh, doanh nhân tự thành lập dần dần các cơ cấu cơ sở như công đoàn, hội đoàn,... chứ không thể đợi nhà cầm quyền CSVN cho phép, vì các tôn giáo có điều kiện thuận lợi để tiếp cận đủ mọi thành phần quần chúng. Nhưng các tôn giáo không nên lạm quyền mà kéo dài vai trò tiên phong nầy mà phải biết rút lui thật sớm khi xã hội dân sự bắt đầu hình thành khung dân chủ đa nguyên đa đảng đầu tiên.

Cũng chính vì một số nhà dân chủ e ngại các tôn giáo sẽ đóng vai trò quốc sư, nên không muốn dựa vào sức mạnh các tôn giáo ở VN là điều rất đáng tiếc và sai lầm, vì khi e ngại như vậy, các nhà dân chủ nầy trở nên cô độc lạc lõng, cứ loay hoay lúng túng không sao tiếp cận và tổ chức được quần chúng nghèo đông đúc. Lẽ ra các nhà dân chủ nên khôn ngoan tìm sự hỗ trợ bước đầu của 6 Tôn giáo lớn ở VN, phải biết chọn chức sắc tôn giáo nào vô tư hỗ trợ mình và sẵn sàng rút lui khi nền dân chủ đa đảng chớm thành hình. Tôn giáo không nên và không được đóng vai trò quốc sư, vì đây là điều tối kỵ trong nền chính trị hiện đại. Chính tôi cũng đang chuẩn bị để rút lui trong thời gian tới, vì VN sắp có đa đảng thực sự rồi. Còn để có nền dân chủ chân chính bền vững thì phải nâng cao nhận thức dân chúng thêm một thời gian lâu dài nữa.

VH: Có những ý kiến cho rằng, tình hình tự do tôn giáo trong thời gian qua đã được cải thiện đáng kể ở VN. Ông đánh giá như thế nào?

Lm NVL: Vấn đề nầy tôi đã có hàng chục bài viết và mấy chục lần trả lời phỏng vấn đài báo hải ngoại. Ở đây tôi chỉ xin trả lời vắn tắt: Đứng trước một hình ảnh quá xấu về tự do tôn giáo, CSVN không thể không nới ra đôi chút, nhưng đó chỉ là vài hiện tượng hời hợt bên ngoài thôi. Ai chỉ căn cứ trên vài hiện tượng hời hợt bên ngoài đó, thì cũng quá ngây thơ hời hợt. Cốt lõi vấn đề tại vài chỗ nầy:

Toàn bộ đồng bào, các tín đồ và mọi chức sắc cả 6 tôn giáo ở VN đều bị đàn áp trong lương tâm và trên tâm trí là phải chấp nhận học Mác-xít không phải chỉ như một môn học để cho biết mà là gượng ép cho đó là chân lý. Vậy bao lâu còn chương trình dạy và học CNCS, CNXH, lịch sử ĐCSVN, thơ & tư tưởng Hồ Chí Minh nơi các trường tiểu học, trung học, đại học, thiền viện, tu viện, chủng viện thì chưa thể có tự do tôn giáo được. Đây là sự đàn áp sâu thẳm nhất vì đàn áp đến tận lương tâm và lương tri của toàn Dân.

Các tín đồ ở vùng xa hẻo lánh vần còn muôn vàn khó khăn trong việc theo Đạo, sống Đạo và truyền Đạo vì quốc tế đâu có đến các nơi đó mà thu thập chứng cứ được ; thậm chí có nơi các tín đồ còn bị đàn áp rất thô bạo trắng trợn như Tin Lành, Phật giáo Hòa Hảo Thuần Tuý,....

Giáo hội nào muốn độc lập trong tổ chức, tự do trong sinh hoạt thì chắc chắn bị đàn áp cách nầy cách khác tuỳ theo sáng kiến của bạo quyển ở đó.

Bao lâu CSVN còn không chế số chủng sinh vào các đại chủng viện, chưa hoàn trả lại đất đai cơ sở của các tôn giáo và chưa cho các tôn giáo mở trường, làm bệnh viện, ra báo, lập nhà xuất bản, có chương trình truyền thanh, truyền hình,.... riêng thì chưa thể nói CSVN thật lòng cho các tôn giáo tự do sinh hoạt được. Thiếu các điều đó mà cứ nói đến tự do tôn giáo thì chỉ như nói đùa châm biếm trào phúng cho vui, tô vẽ kiểu ngoại giao không nên có. Tôi luôn làm động tác một người đang bị bóp cổ, lè lưỡi ra và cố la lên: "Xin cám ơn bác, cám ơn đảng ! Ôi tự do... quá ! Tự do... quá... quá... quá... !!!" với nhân viên CSVN thăm gặp hoặc thẩm vấn tôi. Mỗi lần như thế, họ đều cúi đầu tái mặt và không thể trả lời tôi được. Hình vẽ nầy sẽ có trên bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận số 2 sắp phát hành.

VH: Đã có những đề nghị Mỹ bỏ tên Việt Nam ra khỏi danh sách các nước cần quan tâm đặc biêt về tự do tôn giáo (CPC). Ông có bình luận gì không?

Lm NVL: Tôi luôn chân tình thẳng thắn trình bày với chính phủ Mỹ và các nghị sĩ, dân biểu Mỹ thăm gặp tôi rằng: Chính phủ Mỹ gây áp lực trên CSVN không kiên trì và cương quyết đủ, nên hiệu quả rất thấp. Phe tài phiệt thích nóng lòng buôn bán với một thị trường béo bở như Trung Quốc và Việt Nam luôn thắng thế trên phe nhân quyền đạo đức trong quốc hội và chính phủ Mỹ. Nếu Mỹ đưa tên VN ra khỏi CPC thì việc nỗ lực đưa VN vào CPC trở nên như trò đùa, tốn công sức bao năm vô ích. Vừa mới áp lực được tí chút chưa hiệu quả gì rõ rệt, lại nóng lòng làm ăn buôn bán ngay, thì thà Mỹ đừng dương cao ngọn cờ nhân quyền dân chủ lên làm chi. Chỉ làm cho quốc tế cười và thất vọng. Làm khơi khơi nhợt nhạt như thế thì Trung Quốc và VN luôn biết cái thóp của Mỹ nên không sợ, họ chỉ cần lì lợm thêm chút ít là Mỹ mất kiên nhẫn vội nhượng bộ ngay thôi.

Tôi không tin cậy gì ở triết lý ngoại giao kém hiệu quả của các nhà tài phiệt Mỹ cả. Nhưng tôi luôn biết ơn và tin cậy các chính khách Mỹ luôn quan tâm đến đạo đức, nhân quyền cho VN. Tiếc rằng họ không đông trong quốc hội và chính phủ Mỹ. Tôi tin cậy Nghị viện Châu Âu, quốc hội và các chính phủ Châu Âu, Australia, Canada,... hơn. Chúng ta nên rút được các bài học quá khứ rất đắt giá để tìm sự hỗ trợ đáng tin cậy ở những nơi đó hơn, trừ ra khi Mỹ thay đổi được tận nền tảng triết lý ngoại giao của mình để chúng ta yên tâm tin cậy được. Tôi là nhà tu hành không thích dùng ngôn ngữ khéo léo của ngoại giao, nên xin thưa thật lòng như thế để may ra hữu ích cho dân tộc chúng ta hơn.

VH: Xin chúc ông mạnh khỏe và bình an. Cám ơn ông đã trả lời phỏng vấn của Đàn Chim Việt online

Lm NVL: Xin cảm ơn quý vị, đồng bào đã vui lòng phỏng vấn, nghe và đọc. Xin kính chào.

Copyright @ DCV online 2006

Phỏng vấn Hoàng Minh Chính

| | Comments (0) | TrackBacks (0)

Đàn Chim Việt phỏng vấn Hoàng Minh Chính

Mạc Việt Hồng thực hiện

Việt Hồng (VH): Thưa ông, vừa rồi Đàn Chim Việt (DCV) và một số website hải ngoại đã đăng Lời kêu gọi cho quyền thành lập và hoạt động đảng phái tại Việt nam năm 2006 với 116 người ký tên. Lời kêu gọi đã gây xôn xao dư luận. Xin ông cho biết, tại sao các ông lại đưa ra lời kêu gọi vào thời điểm này?

Hoàng Minh Chính (HMC): Thưa chị, đây không phải là lần đầu tiên mà chúng tôi đòi hỏi như vậy mà vấn đề này đã được nhiều lần đưa ra. Ngay từ khi đại hội VII đảng cộng sản Vịêt nam, cách đâu 15, 16 năm đã có những ý kiến đòi bỏ điều 4 của Hiến pháp. Khi đó tôi cũng đã đòi hỏi rồi, "Lời kêu gọi năm 2006" mà chị vừa nhắc tới thực ra chỉ là lặp lại đòi hỏi của 15 năm trước mà thôi.

VH: Được biết, người ta đã ném cà chua, trứng thối, rác rưởi... vào nhà ông suốt nhiều tháng qua, khủng bố tinh thần của gia đình ông, vậy mà ông lại là một trong những người đầu tiên ký tên vào "Lời kêu gọi năm 2006". Vậy ông không lo sợ sao?

HMC: Tôi không sợ, thưa chị. Tôi hoàn toàn không lo lắng gì cả. Tôi chấp nhận tất cả. Khủng bố, tù đầy... tôi đều không sợ. Đã tranh đấu là phải có hy sinh.

VH: Trong số 116 người đã ký tên, có những tên tuổi rất quen thuộc như Trần Khuê, Đỗ Nam Hải, Phạm Quế Dương, Trần Mạnh Hảo v.v, nhưng cũng có những người nghe rất lạ, danh tính của những người đó có đáng tin cậy không?

HMC: Thực ra có nhiều người ủng hộ dân chủ lắm, có người sợ họ chưa ký đó. Chúng tôi tôn trọng quyền ký hay không của mỗi người. Cơ chế dân chủ mà, ai chấp nhận công khai danh tính thì ký, ai không chấp nhận, ngần ngại thì thôi.

VH: Các ông đã gửi lời kêu gọi này đi những đâu, liệu lãnh đạo đảng cộng sản (DCS) có đọc nó hay không?

HMC: Chúng tôi gửi nó đi tất cả các website hải ngoại. Như vậy là chúng tôi đã gửi đến cho tất cả mọi người, cho lãnh đạo ĐCS, cho nhân dân trong và ngoài nước, cho cả cộng đồng Quốc tế nữa. Đó là lời nhắn gửi cho tất cả những ai quan tâm đến dân chủ cho Việt Nam.

VH: Nếu như nhà nước Việt Nam chấp nhận cho đa đảng thì ông sẽ đứng ra thành lập đảng nào, hay ông sẽ đi theo đảng nào?

HMC: Hiện giờ đã có một số đảng đang hoạt động bí mật tại Viêt Nam rồi, có vài đảng đó. Tôi chưa nghĩ đến khả năng tự mình thành lập một đảng. Ở hải ngoại cũng có rất nhiều đảng phái, có khi tới vài chục đảng. Khi nhà nước cho phép, tôi tin là những đảng này cũng sẽ có mặt tại Viêt Nam.

VH: Ông có hy vọng rằng nhà nước cộng sản Việt Nam sẽ chấp nhận?

HMC: Khó lắm, chúng tôi đã đòi hỏi từ lâu rồi. Đây là lời kêu gọi nhân dịp đại hội đảng X.

VH: Ông đã tranh đấu suốt mấy chục năm trời, chắc ông có rất nhiều kinh nghiệm. Vậy ông có lời khuyên nào dành cho thế hệ trẻ, những người sẽ tiếp bước ông không?

HMC: Thế hệ trẻ ngày nay có tri thức, họ hiểu biết nhiều lắm, họ không chờ đợi những lời khuyên của tôi đâu. Họ ý thức được tự do không bao giờ có thể xin được, tự do phải giành lấy mới có mà nhiều khi phải hy sinh cả xương máu. Nhưng tôi mong muốn thế hệ trẻ ngày nay sẽ tiếp tục con đường tranh đấu cho tự do dân chủ bằng phương pháp bất bạo động. Tôi không đồng ý dùng bạo lực, xương máu của người Việt đã đổ quá nhiều rồi.

VH: Như vậy ông ủng hộ một cuộc Cách mạng nhung tại Việt Nam?



Thưa quý vị, cuộc phỏng vấn bị ngắt quãng tại đây, sau 3 lần cố gắng gọi lại cho ông HMC nhưng không được nữa. Trong quá trình phỏng vấn, điện thoại cũng liên tục bị nhiễu, rất khó nghe. Việt Hồng xin cáo lỗi và sẽ tiếp tục vào một dịp khác.


Copyright @ DCVonline 2006

Mạc Việt Hồng thực hiện

Việt Hồng (VH): Thưa anh, trong một thời gian rất ngắn, anh đã viết 10 bài góp ý với "Dự thảo văn kiện đại hội Đảng X" gây tiếng vang lớn trong dư luận trong và ngoài nước. Xin anh cho biết những bài viết đó anh có gửi cho lãnh đạo Đảng Cộng Sản (ĐCS) không?

Trần Mạnh Hảo (TMH): Thưa chị, trong một thời gian rất ngắn tôi viết 10 bản góp ý với "Dự thảo văn kịên Đại hội Đảng X". Thực ra, tôi không gửi cho ĐCSVN vì tôi đã có một kinh nghiện "xương máu" mấy chục năm nay về chuyện "góp ý" cho họ. Tôi đã từng gửi cả trăm bức thư cho họ (từ cấp cao nhất là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng chính phủ, Bộ chính trị, Ban Chấp hành trung ương ĐCSVN đến các bộ, các ngành, các cơ quan Đảng, Nhà nước...) mà hầu như bị họ ném vào sọt rác hết, chứ họ không có đáp lại gì cả. Lần này, tôi chỉ gửi cho các trang web ở Hải Ngoại như Đàn Chim Việt (DCVOnline) chẳng hạn. Tôi nghĩ chắc chắn họ sẽ đọc và đó là cách tốt nhất gửi tới họ. Nếu gửi thư cho họ thì có lẽ cả trăm năm nữa họ cũng không mở ra, họ sẽ cho vào cái thùng rác rất to, rất vĩ đại mà họ gọi là "Nhân dân" ấy. Tôi đã mòn tay dán phong bì để gửi các ông lãnh đạo ĐCS, các ông lãnh đạo các bộ các ngành về rất nhiều vấn đề nhưng hầu như không được hồi âm. Cho nên, tôi nghĩ cách tốt nhất là phổ biến những bài viết đó trên những trang web Hải ngoại, thế nào họ cũng đọc.

VH: Sau khi các web Hải ngoại phổ biến 10 bài góp ý rất thẳng thắn của anh, anh và gia đình có gặp khó khăn gì trong cuộc sống không?

TMH góp ý với "Dự thảo văn kiện Đại hội Đảng X" (1)
TMH: Tôi chưa thấy họ phản ứng gì, nhưng có một số người gọi điện thoại tới, xưng là ở cơ quan này, cơ quan kia với một số lời lẽ đe dọa. Mình cũng không thể kết luận được đó là những phản ứng của ĐCS. Những cuộc gọi điện thoại, nhắn tin vào máy di động của tôi thì nhiều, đa số là lời động viên, tán thưởng, chia sẻ, lo lắng cho sự an toàn tính mạng của tôi... Họ sẽ làm gì, đáp lại lời góp ý chân thành của mình bằng bạo lực hay bằng thái độ tử tế thì mình đành chịu thôi, vì mình như con cá đang nằm trên thớt, cái thớt to tướng có tên là "Nước CH XHCN Việt Nam". Khi họ mời mình góp ý thì mình góp ý hết lòng. Tôi đã đem hết 60 năm tuổi đời và mấy chục năm kinh nghiệm ra để góp ý cho họ. Người xưa bảo: người chỉ cho ta cái sai lầm của ta, người đó là thầy ta! Tôi không dám cho rằng mình là thầy của ĐCSVN khi tôi đã chỉ ra cả một hệ thống những sai lầm, tội lỗi của họ (ví phỏng ĐCSVN bỗng trở trời ăn năn hối lỗi mà tôn tôi lên làm thầy họ, tôi cũng xin kiếu, hoặc là chuồn cho lẹ vì chẳng vinh dự gì, có khi còn mang họa, vì tục ngữ có câu: "thà làm tớ thằng khôn hơn làm thầy thằng dại!"). Họ sẽ thủ tiêu hay bắt bỏ tù tôi, hoặc họ lờ đi, làm như tao không nghe, không thèm chấp mày, đồ kiến cỏ, hoặc lấy triết lý của chú AQ ra mà rằng: "mày chửi tao cũng như mày chửi bố mày ấy, nghe chưa thằng TMH khùng điên kia!"

VH: Thưa anh, như vậy cho tới bây giờ anh và gia đình cũng chưa gặp khó khăn nào đúng không ạ?

TMH: Vâng, chỉ có khó khăn là một số người trong phong trào dân chủ, họ gọi điện thoại đến cho tôi, như ông Hoàng Minh Chính gọi đến 7 lần nhưng đều bị cắt. Đến lần thứ tám, tôi phải thuyết phục cái ông cắt điện thoại và ông ấy đã cho chúng tôi nói chuyện với nhau được 20 phút. Cách đây mấy hôm, đạo diễn L.H. có rủ tôi đi uống bia, trong cuộc bia bọt đó có một vị nhà văn có chân trong Ban chấp hành (BCH) Hội Nhà Văn Việt Nam khóa này. Vị Ủy viên BCH Hội Nhà văn VN này bảo tôi: "Sao ông đã chống Đảng cỡ này, thì còn ở trong Hội Nhà văn do Đảng tuyệt đối lãnh đạo làm gì? Nên viết đơn xin ra là hơn!". Tôi bảo vị Chấp hành: "Tôi có làm đơn xin vào Hội nhà văn Việt Nam bao giờ đâu mà nay phải viết đơn xin ra khỏi Hội? Vì cuối năm 1975, đầu năm 1976, tôi cùng trên 30 nhà văn thuộc dân R. (rừng miền Nam từ Quảng trị đến Cà Mau) được lùa vào Hội Nhà văn theo kiểu vịt, đâu có phải làm đơn từ xin vào như bây giờ. Nên quý vị có gạch tên tôi trong danh sách 900 hội viên thì tuỳ quý vị. Chứ tôi coi chuyện mình ở trong Hội Nhà văn với ngoài Hội Nhà văn cũng chẳng có gì khác nhau. Việc quý vị gạch tên (khai trừ) tôi ra khỏi Hội Nhà Văn của quý vị chẳng có ăn thua gì với tôi cả, việc này cũng giống như quý vị hỏi tôi: "này, TMH, hôm qua kiến gió cắn ông có đau không?"...Nghe nói Ban chấp hành Hội Nhà văn Hữu Thỉnh - tức nhà văn Hữu Thỉnh, biệt danh là "thùng phiếu di động"- chủ tịch Hội Nhà Văn VN, kiêm tới gần chục chức vụ khác! (Hội nhà văn VN nên đổi thành Hội Nhà Văn Hữu Thỉnh mới đúng bản chất; vì từ cơ quan hội đã bị Thỉnh hoá, đến các báo, nhà xuất bản đều bị Thỉnh hoá, ngay một số nhà ngon nhất Sài Gòn là số 43- Đồng Khởi, quận Nhất, dùng làm văn phòng 2 báo Văn Nghệ cũng bị Thỉnh hoá- Văn phòng này thực chất để cho thuê cả 20 năm nay, giá thuê các phần mặt tiền quanh đó ít nhất cũng 3000 USD/ tháng (ba nghìn đô la Mỹ một tháng) để mấy ông "sếp văn" chia nhau bỏ túi riêng, cả nước ai còn không biết?)...

VH: Anh Phương Nam vừa bị bắt giữ, anh đánh giá thế nào về việc này?

TMH: Phương Nam là kẻ thù nguy hiểm bậc nhất của ĐCSVN. Phương Nam còn trẻ, kém tôi một giáp (cùng tuổi Hợi) nhưng anh ấy là một người già dặn, có bản lĩnh, có văn hoá, có khả năng viết lách vượt trội, có tướng mạo đẹp trai, to cao, đôn hậu, tính tình hòa nhã, đằm thắm, có trách nhiệm với những người xung quanh, kiên cường, chết không sợ, nói tiếng Anh giỏi... quả là một đối thủ đáng gườm của ĐCSVN. Nói thực nhá, nếu sang năm 2007, CSVN vì sức ép của nhân dân của thời đại, miễn cưỡng chấp nhận đa nguyên đa đảng, thì tôi thách CSVN đưa bất cứ nhân vật nào ra thử tranh cử chức tổng thống VN với phe đối lập (mà người đựơc phe đối lập đưa ra tranh cử là Phương Nam Đỗ Nam Hải chẳng hạn), thì tôi tin chắc là phe đối lập sẽ thắng tuyệt đối! CSVN đã nhận ra khả năng tiềm tàng ấy của Phương Nam, nên chúng rất muốn thủ tiêu anh, hoặc nhốt anh vĩnh viễn trong tù, nên lúc nào chúng cũng cho "cớm" rình rập, bám đuôi anh 24/24! Nhưng bắt Phương Nam Đỗ Nam Hải không phải chuyện đùa, CSVN biết là chúng đang đụng vào hỏa diệm sơn; nên tôi nghĩ, có thể chỉ đêm nay (24-03-2006) CS sẽ phải thả anh ra thôi!

VH: Anh có lo lắng cho bản thân không?

TMH: Lo chứ! Tôi chỉ là một con người bình thường, sinh ra để sống cuộc đời thường chứ đâu có thích, có muốn làm anh hùng, hay cốt nổi danh thiên cổ. Nhưng vì bức xúc quá, dồn nén quá, ức quá, nhục quá, điên quá nên đành thí mạng cùi đùa với hổ là viết thư góp ý, phê bình ĐCSVN. Mà đối thủ này của tôi từng nổi tiếng thế giới về ngón đòn đàn áp, tra tấn, tù đầy, bịp miệng hoặc thủ tiêu người bất đồng chính kiến, không từ bất cứ thủ đoạn tàn ác bỉ ổi nào mà họ không dám làm, cốt để bịt miệng kẻ nào dám thách thức sự độc quyền, độc tôn của họ.

VH: Gia đình anh phản đối hay ủng hộ những bản góp ý của anh?

TMH: Phản đối! Vì cả gia đình sợ tôi bị CS giết hoặc bị CS bắt nhốt,vu cáo cho tôi làm gián điệp chẳng hạn!

VH: Các bạn văn nghệ sỹ của anh, những người cầm bút, họ nghĩ gì, nói gì về những bản góp ý của anh?

TMH: Tôi nghĩ rằng trong bụng họ, trong đầu họ, họ cũng nghĩ như tôi thôi. Ai có mắt mà chẳng nhìn thấy như vậy, nhưng giới văn nghệ sỹ VN hầu hết họ đều sợ hãi ĐCSVN hơn sợ cọp. Đa số họ còn nghèo, không chủ động được về kinh tế nên phải sống dựa vào nhà nước, vào đồng lương. Khi phụ thuộc vào kinh tế thì nói chung sẽ phụ thuộc đủ mọi thứ. Do đó, cũng phải thông cảm với họ về điều đó. Hơn nữa, áp lực của nhà nước CS độc tài quá nặng nề. Hơn một ngàn năm đô hộ của giặc Tầu, một trăm năm đô hộ giặc Tây, nhân dân Việt Nam càng bị đàn áp bao nhiêu thì họ càng anh hùng bất khuất bấy nhiêu. Vậy mà, mấy chục năm dưới sự lãnh đạo của đảng, giờ đây họ sợ hãi, họ mềm nhũn như những con giun