huynhkimkhanh: October 2007 Archives
Phạm Tùng Cương* - Đỗ Kh. chuyễn ngữ
Lời người dịch: Truyền thông trong nước hầu như không có một dòng nào nhắc nhở hay báo tin sự ra đi mới đây của Trương Trọng Thi, người đã thực hiện máy vi tính đầu tiên (không phải đầu tiên ở Cai Lậy - Cái Bè, hay đầu tiên ở Việt Nam, mà là đầu tiên trên thế giới), trong khi trẻ em xa mẹ nào cũng biết đến (và mơ thành) Bill Gates. Người viết bài này (nguyên bản tiếng Pháp), Phạm Tùng Cương, tốt nghiệp trường Cao học Thương mãi HEC, đã giữ chức Tổng giám đốc công ty Unixsys tại Pháp và nhiều năm làm việc tại Việt Nam với tư cách tham vấn của Văn phòng Chính phủ trong lãnh vực tin học. Ông là một cộng tác viên gần gũi với Trương Trọng Thi trước đây.
Ta có thể nhỏ lệ vì một người vừa mới khuất
Hay cười lên vì ông đã từng có mặt ở cõi đời
Khuyết danh
|
|
|
André Trương Trọng Thi |
André Trương Trọng Thi (hay TTT) vừa từ giã chúng ta vào ngày 1.4.2005. Máy vi tính trở thành mồ côi vào năm 32 tuổi. TTT, “cha đẻ của máy vi tính”, là người trong hơn 20 năm đã để lại một dấu ấn mãnh liệt trong ngành tại Pháp cũng như từng là một trong những nhân tố của sự tăng trưởng của máy vi tính trên thị trường.
Ông sinh ở Sài Gòn năm 1936 trong một gia đình đại tư sản miền Nam nói tiếng Pháp (cha ông là người Việt đầu tiên tốt nghiệp trường Cao học Thương Mãi Pháp HEC, khoá 1924). Ông sang Pháp năm 14 tuổi, tốt nghiệp trường Kỹ sư Điện Phát thanh (EFR, sau thành EFREI, trường Điện tử và Tin học Pháp). Làm việc cho công ty Schlumberger, ông là người chế tạo ra máy đo Carbon Dating 14 đầu tiên dùng transistors. Năm 1965, nhân khi đi thăm Hoa Kỳ, ông bị một cú sốc văn hoá khi thấy các mạch điện tử tại đây vừa tốt lại vừa nhỏ gọn hơn ở Pháp.
R2E và máy Micral N
Với vài người bạn, ông thành lập công ty R2E (Réalisations Etudes Electroniques) để theo đuổi ám ảnh “thu nhỏ” này. Nói về những hoạt động thiếu thời của R2E, ông ưa dùng câu “Chúng tôi thực hiện những con cừu 5 cẳng để từ đó sinh ra những con cừu 4 chân”. Năm 1972, Việc Quốc gia Nghiên cứu Nông nghiệp (INRA) đặt R2E việc thực hiện một máy Control of Process rẻ hơn máy PDP-8 của công ty DEC mà lại có thể di chuyển dễ dàng. Được biết vào lúc đó, Intel vừa cho ra đời một bộ vi xử lý (microprocessor) mới 8-bit, máy 8008, cũng là bộ vi xử lý đầu tiên của Intel, mạnh gấp 2 lần máy 4004 cũ của công ty này. Trong vòng 5 tháng, TTT và nhóm chuyên gia của R2E thực hiện thành công máy vi tính (microcomputer) đầu tiên với đủ cả những thiết kế của một máy vi tính ngày nay: thẻ Central Unit (CPU), BUS, sử dụng các thẻ nhớ MOS, RAM và EPROM, thẻ I/O, thẻ Format Control (cho dĩa mềm floppy và băng nhớ), hệ thống điều hành real time và Cross Assembler.
|
|
|
Máy Micral N và CPU |
Hiện có một máy Micral N được trưng bày tại Computer Museum tại Boston và một máy khác được bày ở Musée des Arts et Métiers tại Paris từ tháng 12.2003. Máy Micral N đã được trưng bày ở đại hội vi tính Comdex 1997 tại Las Vegas để kỷ niệm 25 năm microprocessor.
Sau máy Micral N
Với những khó khăn của tăng trưởng, R2E hoà nhập với công ty Bull (một sản phẩm của “Chương trình Toán” của tướng De Gaulle) để trở thành công ty Bull-Micral năm 1978, mang tham vọng biến thành một thành tố quan trọng trên thị trường vi tính thế giới.
Khi máy PC IBM ra đời vào năm 1981, TTT là một trong những chuyên gia đầu tiên, nếu không nói là chuyên gia đầu tiên ý thức được thị trường tương lai của các máy tương xứng. Mặc dù công ty R2E of America (Minnesota) trực thuộc đã bắt tay vào việc thực hiện một máy vi tính tương xứng với IBM PC theo những đòi hỏi ông đưa ra, TTT không thuyết phục được công ty Bull nhảy vào việc sản xuất và đưa ra thị trường, khiến có câu nổi tiếng của một lãnh đạo cao cấp của công ty Bull tặng cho ông “Anh chẳng hiểu gì cả về vi tính!” Chán nản, mặc dù máy đầu tiên này được giao tại Paris vào tháng 7.1982, ông từ nhiệm khỏi công ty Bull vào tháng 10.
Sau đó, TTT tham dự vào việc thành lập công ty Normerel (sau này có trên thị trường chứng khoán Paris) là công ty sản xuất và bán máy tương xứng IBM PC đầu tiên của Pháp vào năm 1982 dưới tên OPLite!
Một lưu tâm khác của TTT là việc sử dụng PC để xử lí và lưu trữ dữ kiện qua các chương trình ứng dụng Quản lý Tài liệu Điện toán (GED). Ông là người cầu chứng bằng phát minh đầu tiên về lưu trữ dữ kiện điện toán trên điã optical.
Vẫn trong tinh thần “thu nhỏ” bắt đầu từ máy Micral N, TTT với nhóm chuyên gia nhà đã thành công trong việc “thu gọn” (downsizing) đầu tiên trên thế giới, hệ thống thông tin của Quỹ Hưu trí tại Orleans (IGIRS), sử dụng mạng lưới vi tính trong môi trường client-server vào cuối thập niên 80. Ngay trước khi dự án IGIRS được hoàn tất, TTT đã thuyết phục được một công ty bảo hiểm Pháp (SGCA) và Thư viện Quốc gia Bắc kinh dùng kỹ thuật này.
Những năm gần đây, ông lãnh đạo công ty APCT (Advanced PC Technologies), cung cấp dịch vụ và sản phẩm sử dụng trong môi trường Windows NT.
TTT là một người có viễn ảnh tinh tế, thích tìm hiểu mọi chuyện, đam mê các kỹ thuật và có đủ tài doanh gia để thành công trong việc thực hiện phần lớn các ước mơ và sáng kiến kỹ thuật của ông. Ông cũng là một người dễ mến khác thường với một lòng rộng lượng thành thật và tự nhiên.
TTT và Việt Nam
Tuy không biết nói tiếng Việt nhưng ông cũng không hề quên nguồn gốc, đóng góp cho đất nước bằng những hành động cụ thể chứ không bằng lời nói vu vơ. Lúc nào ê-kíp của ông cũng có chuyên gia người Việt được ông giao cho nhiều trách nhiệm và quyền quyết định. Tôi được ông mời đứng đầu dự án SGGA và sau đó dự án Thư viện Quốc gia ở Bắc Kinh. Có lần ông tâm sự là tôi được ông chọn lựa chính là vì tôi là người Việt và tốt nghiệp trường HEC!
Vào năm 1978, khi làm Tổng Giám đốc công ty R2E, TTT về Việt Nam đề nghị một chương trình sản xuất máy Micral, ở giai đoạn dẫn đầu là đào tạo chuyên viên và lắp ráp các máy vi tính này, chỉ cần một số đầu tư tối thiểu từ phía Nhà nước. Đáng tiếc thay, dự án này bất thành vì guồng máy quan liêu trong nước và những lý do chủ quan khác. Những dịp may lớn, cũng như Thời gian, một khi đã đánh mất thì chẳng bao giờ tìm lại được nữa. Trong một khắc thôi, ta thử tưởng tượng, dự án này thực hiện được thì ngày nay Việt Nam đã là tiên phong trong lãnh vực vi tính ở Á Châu. Phải là một người có tầm nhìn xa, nhiều dũng cảm, nghị lực và niềm tin để hình dung ra một dự án vị tha và nhiều kỳ vọng như vậy (mặc dù dự án không được chính Hội đồng Quản trị công ty R2E tán thành).
Lần thất bại trên cũng không cản được TTT trở lại nước sau đó để làm cố vấn và chia sẻ kinh nghiệm với các nhà tin học Việt Nam. Ông có mặt ở tuần lễ tin học tại Hà nội năm 1992, gặp tướng Giáp và đọc tham luận trước TBT Đảng CS Đỗ Mười và các nhà khoa học Hà Nội, cảnh báo Việt Nam trước cơ nguy của các “viên thuốc độc bọc đường”. Ông trình bày cách bắt kịp chuyến tàu kỹ thuật mà không phải làm lại lịch sử, nhấn mạnh mặt đào tạo, phát triển, dịch vụ và tầm quan trọng của các tiêu chuẩn (quốc tế) của thị trường. Trước khi đi, ông có để lại một bản phúc trình cho Ủy ban Khoa học Kỹ thuật và Môi trường. Sau đó, ông nhiều lần trở lại để thuyết trình trong nước theo lời mời của Bộ Khoa học, Kỹ thuật và Môi trường.
Quê hương đã đón nhận ông và được ông yêu quý là nước Pháp cũng đã tuyên dương ông, tuy có chậm trễ, với Huân chương Légion d’Honneur Đệ ngũ đẳng vào năm 1999. Ước mong rằng, ở thế giới bên kia, khi nghĩ đến Việt Nam là quê hương nguồn cội, TTT sẽ không phải tự hỏi câu ngậm ngùi của nhà thơ Lê Đạt “Đất nước mẹ mình hay mẹ ghẻ?”.
Phạm Tùng Cương - Đỗ
Kh. dịch
Vào lúc các nhà lãnh đạo mới của Việt Nam
được xem là ôn hoà và cải cách có phần trội hơn và vào lúc cụm từ "Hoà
giải" đang thông dụng với các đảng phái hoặc nhóm chính trị Việt (kể cả
Đảng Cộng sản Việt Nam) thì một sự kiện ở châu Âu vào tháng 5.2006, lạ thay,
lại không thấy truyền thông trong cũng như ngoài nước để mắt đến. Đó là việc
phát hành một cuốn sách giáo khoa về bộ môn Sử [1] lớp 12, chung cho
cả hai nước Pháp và Đức vào dịp tựu trường 2006. Bộ sách này, theo yêu cầu của
Tổng thống Jacques Chirac và Thủ tướng Gerhard Schröder là để mừng 40 năm Hiệp
ước Hữu nghị Đức- Pháp do tướng De Gaulle và Thủ tướng Adenauer kí kết, và là
công trình hợp tác giữa mươi giáo sư Pháp và Đức.
|
|
|
Sách giáo khoa môn
Sử chung cho Pháp và Đức: Châu Âu và thế giới từ 1945. Bên trái: Bản tiếng
Pháp. Bên phải: Bản tiếng Đức. Xem thêm: http://www.klett.de/projekte/geschichte/dfgb/ |
Ngoài mặt chính trị
ra, việc xuất bản cuốn sách, tham gia vào tiến trình hoà giải giữa hai nước
Pháp và Đức, đã bắt đầu có mặt từ khi Đệ nhị Thế chiến chấm dứt, để tìm cách
mang lại cho những thế hệ trẻ của hai nước một ký ức chung cùng có thể chấp
nhận về quá khứ.
Hình hài đầu tiên của tiến trình hoà giải này có ngay trong khai sinh của Cộng
đồng Thép và Than châu Âu (CECA, tiền thân của Cộng đồng châu Âu hiện nay),
được các nước Pháp, Cộng hoà Liên bang Đức, Bỉ, Ý, Luxembourg và Hà Lan kí kết
tại Paris tháng 4.1951. Việc dẹp bỏ những trở ngại hành chánh để thông thương
thép và than, hai vật liệu cơ bản trong kỹ nghệ chiến tranh, chứng tỏ Pháp và
Đức cương quyết trong ý chí cộng tác và hoà giải trước hết là về mặt kinh tế,
chỉ mới có sáu năm sau một cuộc chiến tàn phá và tai hại [2] .
Phần chúng ta, sáu năm sau 1975, giữa những người Việt với nhau, thì đã thấy có
được gì?
Ngày lễ Memorial Day tại Hoa Kỳ, cử hành mỗi năm vào ngày 30 tháng Năm, bắt
nguồn từ lễ Decoration Day lần đầu tiên vào năm 1868 (ba năm sau nội chiến ly
khai Bắc Nam) khi vòng hoa được đặt lên mộ các chiến sĩ của cả hai bên ở Nghĩa
trang Liệt sĩ Quốc gia tại Arlington. Một quốc gia trẻ, trọng thương và cấu xé
sau một cuộc nội chiến khủng khiếp dài năm năm (1861-1865) đã biết cách hàn gắn
nhanh chóng và thành công rực rỡ tương lai.
31 năm sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt, các nghĩa trang và các ngôi mộ
của tử sĩ Việt Nam Cộng hoà giờ ở nơi đâu? Đây là một lãng quên vẫn chưa hết
trào dâng.
Dù ở vị trí nào đối với lịch sử, chúng ta cũng không nên thản nhiên "trước
cảnh đáng ngại do cái nhớ tràn đầy ở nơi này và cái quên đang trào quá ở nơi
kia tạo ra", theo câu viết của Paul Ricoeur [3] . Chính sự lạm
dụng hồi ức và quên lãng này khiến mọi phương cách hoà giải giữa người Việt đâm
ra nhọc nhằn.
Bệnh ký ức là căn bệnh của người Việt chúng ta, ký ức áp đặt, ký ức đè nén, ký
ức lừa đảo, ký ức cơ chế hoá. Một ký ức thổi phồng những chiến thắng đạt được
và những nhục nhã phải gánh chịu, một ký ức tự mãn trong khi xoá bỏ hoàn toàn
những tai ương của kẻ khác.
Chúng ta lại có khi hoàn toàn mất trí trước những bài học của lịch sử với
"cái quên trào quá ở nơi kia".
Sự khoan dung giữa những dân tộc (hay những cộng đồng) quả là điều quá nhọc
nhằn, trong khi nó ít khó khăn hơn giữa những cá nhân. Sự phẫn nộ của Trung
Quốc gần đây về vấn đề các sách giáo khoa môn Sử của Nhật Bản cho ta thấy cung
cách một quốc gia biệt đãi "cái nhớ tràn đầy" trong khi lại thao túng
việc này một cách hữu dụng. Ngay đến hơn 60 năm sau các tranh chấp, những bất
đồng về một quá khứ chung vẫn còn tồn tại giữa các quốc gia lớn vùng Đông Á.
Việc xuất bản sách giáo khoa môn Sử Pháp-Đức [4] , chỉ cần dưới ba
năm để thực hiện (từ quyết định chính thức đến lúc sách ra mắt) là một kết quả
của hoà giải Pháp-Đức thành công. "Dự án này có một tầm tượng trưng và
chính trị rất lớn. Đây là lần đầu tiên trên thế giới, hai quốc gia ‘cùng viết
một lịch sử chung’" theo ông Peter Muller, Đặc sứ về các vấn đề văn hoá
của Cộng hoà Liên bang Đức.
Chúng ta có thể rút tỉa vài bài học từ dự án này. Hoà giải vừa là một mục tiêu
vừa là một tiến trình, dài hơi, đầy đủ, sâu xa và nhiều mặt để đạt mục tiêu đó.
Và hoà giải chỉ có thể xảy ra trong một môi trường dân chủ dựa trên tiền đề căn
bản là không sử dụng bạo lực để quản lý các khác biệt cũng như các đối tác. Văn
hoá dân chủ khuyến khích và đẩy mạnh sự tái lập của sự thật về quá khứ, cũng như
các quan hệ tin cậy và tôn trọng giữa mọi bên. Một ý chí và một cái nhìn đường
dài, được hỗ trợ bởi những hành động vừa có tính cách biểu tượng, thực dụng và
hữu hiệu và được phổ biến rộng rãi đều cần thiết cũng như nhu cầu những phương
tiện tri thức, tinh thần và vật chất.
Những lời tuyên bố không được đi kèm bởi hành động cụ thể và thích nghi, có
tính cách xây dựng phù hợp với ý phát biểu và được thực hiện mạch lạc thì chỉ
là những khẩu hiệu vô sinh. Ta mong rằng phần cao thượng của ký ức lịch sử sẽ khởi
hứng các hành động và sẽ đẩy mạnh những con người trong hoà giải Việt Nam.
Nguồn: Dịch từ bản tiếng Pháp chưa công bố của tác giả
Bản tiếng Việt © 2006 talawas
[1]Châu Âu và thế giới từ
1945, Nathan (bản tiếng Pháp) và Klett (bản tiếng Đức)
[2]Chúng ta không quên là chỉ trong
vòng 80 năm, hai nước này đã trải qua ba cuộc chiến tranh chết chóc: 1870,
1914-1918 và 1940-1945
[3]Paul Ricoeur, triết gia Pháp
(1913-2005): "Je reste troublé par l’inquiétant spectacle que donne le
trop de mémoire ici, le trop d’oubli ailleurs, pour ne rien dire de l’influence
des commémorations et des abus de mémoire- et de l’oubli."
[4]Hai quyển kế tiếp
đang được chuẩn bị cho niên học 2007 và 2008, quyển thứ nhất từ Thượng cổ đến
thời Lãng mạn chủ nghĩa và quyển thứ nhì từ thế kỷ 19 đến Thế chiến thứ Hai.
3.8.2006
Đỗ Kh.
Trong bài viết của Phạm
Tùng Cương (“Một bài học mới từ châu Âu cổ”) tác giả xin đính chính một
sơ xuất. Ngày lễ Memorial Day tại Hoa Kỳ hiện nay được cử hành vào ngày thứ hai
cuối cùng của tháng Năm. Người dịch xin chú thích thêm, đây là dịp thực dụng
rất Mỹ, để dễ mà “hòa giải” với hai ngày thứ Bảy và Chủ nhật nghỉ cuối tuần.
Ngày 4 tháng 7 năm 2006, khắp nơi trên nước Mỹ từ thành phố đến thị xã tràn nhập những cuộc diễu hành, đốt pháo bông, và những buổi liên hoan thịt nướng ngoài trời (barbecues). Người dân tổ chức ngày sinh nhật thứ 230 của Hoa Kỳ (1776-2006), ngày Lễ Độc Lập mà người ta quen gọi là "The Fourth of July". Dân Mỹ có đủ lý do để ca tụng ngày lập quốc vì nó là một nước văn minh, hùng mạnh, tự do, và dân chủ. Hơn bốn năm sau kể từ ngày nước Mỹ bị tấn công (11/9/2001), những bài diễn văn trong các buổi lễ bớt đi các câu chuyện nhạt nhẽo, nhưng tập trung nhiều vào mục đích chính ý nghĩa của ngày lễ lập quốc. Người Mỹ muốn gây dựng lại tinh thần đoàn kết trong thời kỳ danh dự của đất nước bị tổn thương.
Vài ý nghĩa trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập
![]() |
| John Hancock
|
Danh từ độc lập được tuyên bố trong bản tuyên ngôn là sự xác định quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Quyền sống có nghĩa là mỗi một cá nhân có quyền độc lập riêng cho bản thân trong đời sống, đời sống của người đó là của chính riêng họ, không thuộc quyền của người khác sử dụng nếu thấy thích hợp. Quyền tự do có nghĩa là quyền tự do hành động, hành động theo sự phán xét của cá nhân. Không phải quyền tự do chĩa súng vào đầu của một người nào đó ép buộc người ta thi hành mệnh lệnh của kẻ khác. Và quyền được mưu cầu hạnh phúc có nghĩa là mỗi cá nhân có thể theo đuổi niềm hạnh phúc riêng, sự nghiệp riêng, bạn bè, và sở thích riêng. Con người không phải tồn tại để làm công cụ phục vụ mục đích của kẻ khác. Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ còn là một bản cáo trạng về tội của Vua nước Anh và cũng là nền tảng căn bản để xây dựng chính quyền. Nhưng niềm kiêu hãnh nhất của người Mỹ trong hơn hai trăm năm qua vẫn là quyền bình đẳng, quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc của mỗi công dân được luật pháp bảo vệ.
Cách nhìn của người Mỹ
Đối với một số đông người Mỹ, “The Fourth of July”, không chỉ là cơ hội nghỉ ngơi, quảng cáo thương mại, mua sắm, liên hoan, diễu hành, hay chỉ là một ngày lễ thông lệ hàng năm. Họ muốn mang ý nghĩa của từ “độc lập” vào ngày Lễ Độc Lập cuả Hoa Kỳ. Nước Mỹ, trong cách nhìn của nhiều quốc gia nó vẫn là biểu tượng niềm hy vọng của những con người còn đang bị áp bức trên thế giới. Những người Mỹ ái quốc ưu tư vì trên đà tư bản chủ nghĩa, người ta ngày càng bị các nhà lãnh đạo kéo rời họ ra khỏi ý nghĩa thực sự của Ngày Độc Lập, một triết lý đã hình thành Liên Hiệp Quốc Hoa Kỳ. Ngày nay, chúng ta vẫn thường nghe các nhà chính trị, trí thức, và giới truyền thông nói đến thời đại của "sự phụ thuộc lẫn nhau”, và độc lập là một việc lỗi thời. Hơn thế nữa, người ta xem quyền được sống, tự do, và mưu cầu hạnh phúc là điều tất nhiên. Đôi khi người ta xem độc lập trong chính trị không phải là yếu tố chính. Nó nằm trên một nền tảng quan trọng của sự độc lập khác: độc lập trong ý trí của con người. Khi con người có khả năng tự suy nghĩ cho chính mình và có nguyên tắc riêng cho đời sống, họ có thể làm cho nền độc lập chính trị xảy ra khi cần thiết.
Cũng có đa số dân Mỹ coi “The Fourth of July” là cơ hội cho họ đi mua hàng hạ giá. Họ coi việc đi liên hoan, vẽ mặt, hoá trang, diễu hành, dự đại nhạc hội, xem đốt pháo bông, và tham gia nhiều hình thức giải trí khác nhau là những điều quan trọng cần phải có trong ngày Lễ Độc Lập. Tóm lại, ý nghĩa độc lập thật sự trong cái nhìn của người Mỹ ngày nay chắc khác hẳn với 230 năm về trước: trông cậy vào sự phán đoán và ý kiến của cá nhân. Người ta không muốn hy sinh tâm trí cho chính quyền, nhà thờ, quốc gia, hay kẻ lân cận. Quyền tự do độc lập dẫn đến chủ nghĩa cá nhân là điều tất yếu .
Suy tư của người Việt về ngày Lễ Độc Lập
Gần hai triệu người Việt tỵ nạn cộng sản ở hải ngoại, nhất là ở Hoa Kỳ, dù không thông hiểu hết lịch sử và sự hình thành của các Tiểu Bang Hoa Kỳ, nhưng ai cũng biết ngày “July 4th”. Một ngày nghỉ lễ là cơ hội cho những người Việt tha phương gặp cố tri, bạn bè họp mặt, và cùng nhau hàn quyên tâm sự, tiệc tùng. Cũng như đa số người Mỹ, người Việt tại Hoa Kỳ coi ngày "The Fourth of July" chỉ là một ngày lễ theo thông lệ, không hơn không kém. Người ta cũng đi mua sắm, liên hoan, tắm biển, và có khi tham gia các cuộc diễn hành trong cộng đồng Á Đông ở thành phố. Với nhiều người Việt tại Mỹ, họ tìm thấy niềm vui và vinh dự khi được dự phần trong việc kỷ niệm ngày Quốc Khánh, nơi mà họ được thừa hưởng quyền độc lập, tự do và mưu cầu hạnh phúc. Bên cạnh họ, cũng nhiều người Việt khác mang tâm thức trở về nguồn và nặng lòng cho dân tộc. Với những người này, ngày Lễ Độc Lập của Hoa Kỳ gợi nên sự xót xa và nỗi buồn không nguôi.
![]() |
| Cũng tuyên ngôn, cũng độc lập nhưng thiếu tự do
|
Người dân Hoa Kỳ coi sự độc lập là nền tảng khai quốc, là di sản của tổ tiên họ để lại. Đối với họ, gìn giữ sự độc lập và ý nghĩa của nó trong ngày Lễ Độc Lập, không phải chỉ vì nó là một di sản, mà nó còn là lẽ phải và sự công bằng. Lễ Độc Lập của Hoa Kỳ giúp ta hiểu thêm ý nghĩa thật của sự độc lập. Người dân có quyền độc lập thật sự khi chính họ có được quyền sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc. Chỉ độc lập về chính trị hay độc lập của một chính quyền đảng phái thì chỉ là một chiêu bài của áp bức, và chuyên chế của một chế độ độc tài, nó kìm hãm con người trong sự nghèo nàn và lạc hậu. Trong bất cứ thời đại nào, xã hội nào, quyền sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc không phải tự nhiên mà có. Người ta phải đánh đổi bằng một giá nào đó mới có được: có khi phải trả bằng những cuộc đấu tranh đầy gian thử thách với tính mạng của nhiều người ngã xuống . Ngày Lễ Độc Lập không chỉ dành riêng cho người dân Hoa Kỳ, mà là lời nhắn cho những dân tộc đang còn thiếu tự do, bị áp bức và mất quyền làm người.
Copyright @ DCVOnline 2006
(1): Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ.
(2): Tuyên Ngôn Độc Lập Việt Nam.



