Phạm Tùng Cương* -  Đỗ Kh. chuyễn ngữ


Lời người dịch: Truyền thông trong nước hầu như không có một dòng nào nhắc nhở hay báo tin sự ra đi mới đây của Trương Trọng Thi, người đã thực hiện máy vi tính đầu tiên (không phải đầu tiên ở Cai Lậy - Cái Bè, hay đầu tiên ở Việt Nam, mà là đầu tiên trên thế giới), trong khi trẻ em xa mẹ nào cũng biết đến (và mơ thành) Bill Gates. Người viết bài này (nguyên bản tiếng Pháp), Phạm Tùng Cương, tốt nghiệp trường Cao học Thương mãi HEC, đã giữ chức Tổng giám đốc công ty Unixsys tại Pháp và nhiều năm làm việc tại Việt Nam với tư cách tham vấn của Văn phòng Chính phủ trong lãnh vực tin học. Ông là một cộng tác viên gần gũi với Trương Trọng Thi trước đây.

Ta có thể nhỏ lệ vì một người vừa mới khuất
Hay cười lên vì ông đã từng có mặt ở cõi đời

Khuyết danh
 


André Trương Trọng Thi

André Trương Trọng Thi (hay TTT) vừa từ giã chúng ta vào ngày 1.4.2005. Máy vi tính trở thành mồ côi vào năm 32 tuổi. TTT, “cha đẻ của máy vi tính”, là người trong hơn 20 năm đã để lại một dấu ấn mãnh liệt trong ngành tại Pháp cũng như từng là một trong những nhân tố của sự tăng trưởng của máy vi tính trên thị trường.

Ông sinh ở Sài Gòn năm 1936 trong một gia đình đại tư sản miền Nam nói tiếng Pháp (cha ông là người Việt đầu tiên tốt nghiệp trường Cao học Thương Mãi Pháp HEC, khoá 1924). Ông sang Pháp năm 14 tuổi, tốt nghiệp trường Kỹ sư Điện Phát thanh (EFR, sau thành EFREI, trường Điện tử và Tin học Pháp). Làm việc cho công ty Schlumberger, ông là người chế tạo ra máy đo Carbon Dating 14 đầu tiên dùng transistors. Năm 1965, nhân khi đi thăm Hoa Kỳ, ông bị một cú sốc văn hoá khi thấy các mạch điện tử tại đây vừa tốt lại vừa nhỏ gọn hơn ở Pháp.


R2E và máy Micral N

Với vài người bạn, ông thành lập công ty R2E (Réalisations Etudes Electroniques) để theo đuổi ám ảnh “thu nhỏ” này. Nói về những hoạt động thiếu thời của R2E, ông ưa dùng câu “Chúng tôi thực hiện những con cừu 5 cẳng để từ đó sinh ra những con cừu 4 chân”. Năm 1972, Việc Quốc gia Nghiên cứu Nông nghiệp (INRA) đặt R2E việc thực hiện một máy Control of Process rẻ hơn máy PDP-8 của công ty DEC mà lại có thể di chuyển dễ dàng. Được biết vào lúc đó, Intel vừa cho ra đời một bộ vi xử lý (microprocessor) mới 8-bit, máy 8008, cũng là bộ vi xử lý đầu tiên của Intel, mạnh gấp 2 lần máy 4004 cũ của công ty này. Trong vòng 5 tháng, TTT và nhóm chuyên gia của R2E thực hiện thành công máy vi tính (microcomputer) đầu tiên với đủ cả những thiết kế của một máy vi tính ngày nay: thẻ Central Unit (CPU), BUS, sử dụng các thẻ nhớ MOS, RAM và EPROM, thẻ I/O, thẻ Format Control (cho dĩa mềm floppy và băng nhớ), hệ thống điều hành real time và Cross Assembler.


Máy Micral N và CPU

Hệ thống đầu tiên được giao cho viện INRA vào tháng giêng năm 1973. Trong năm thứ nhất 500 máy được sản xuất để dùng trong lãnh vực thu lệ phí các đường cao tốc (toll road). Hơn 100.000 máy tất cả đến với thị trường cho đến năm 1982. Xin nhắc lại là công ty Microsoft được thành lập vào năm 1975 và công ty Apple thành lập vào năm 1976.

Hiện có một máy Micral N được trưng bày tại Computer Museum tại Boston và một máy khác được bày ở Musée des Arts et Métiers tại Paris từ tháng 12.2003. Máy Micral N đã được trưng bày ở đại hội vi tính Comdex 1997 tại Las Vegas để kỷ niệm 25 năm microprocessor.


Sau máy Micral N

Với những khó khăn của tăng trưởng, R2E hoà nhập với công ty Bull (một sản phẩm của “Chương trình Toán” của tướng De Gaulle) để trở thành công ty Bull-Micral năm 1978, mang tham vọng biến thành một thành tố quan trọng trên thị trường vi tính thế giới.

Khi máy PC IBM ra đời vào năm 1981, TTT là một trong những chuyên gia đầu tiên, nếu không nói là chuyên gia đầu tiên ý thức được thị trường tương lai của các máy tương xứng. Mặc dù công ty R2E of America (Minnesota) trực thuộc đã bắt tay vào việc thực hiện một máy vi tính tương xứng với IBM PC theo những đòi hỏi ông đưa ra, TTT không thuyết phục được công ty Bull nhảy vào việc sản xuất và đưa ra thị trường, khiến có câu nổi tiếng của một lãnh đạo cao cấp của công ty Bull tặng cho ông “Anh chẳng hiểu gì cả về vi tính!” Chán nản, mặc dù máy đầu tiên này được giao tại Paris vào tháng 7.1982, ông từ nhiệm khỏi công ty Bull vào tháng 10.

Sau đó, TTT tham dự vào việc thành lập công ty Normerel (sau này có trên thị trường chứng khoán Paris) là công ty sản xuất và bán máy tương xứng IBM PC đầu tiên của Pháp vào năm 1982 dưới tên OPLite!

Một lưu tâm khác của TTT là việc sử dụng PC để xử l‎í và lưu trữ dữ kiện qua các chương trình ứng dụng Quản lý Tài liệu Điện toán (GED). Ông là người cầu chứng bằng phát minh đầu tiên về lưu trữ dữ kiện điện toán trên điã optical.

Vẫn trong tinh thần “thu nhỏ” bắt đầu từ máy Micral N, TTT với nhóm chuyên gia nhà đã thành công trong việc “thu gọn” (downsizing) đầu tiên trên thế giới, hệ thống thông tin của Quỹ Hưu trí tại Orleans (IGIRS), sử dụng mạng lưới vi tính trong môi trường client-server vào cuối thập niên 80. Ngay trước khi dự án IGIRS được hoàn tất, TTT đã thuyết phục được một công ty bảo hiểm Pháp (SGCA) và Thư viện Quốc gia Bắc kinh dùng kỹ thuật này.

Những năm gần đây, ông lãnh đạo công ty APCT (Advanced PC Technologies), cung cấp dịch vụ và sản phẩm sử dụng trong môi trường Windows NT.

TTT là một người có viễn ảnh tinh tế, thích tìm hiểu mọi chuyện, đam mê các kỹ thuật và có đủ tài doanh gia để thành công trong việc thực hiện phần lớn các ước mơ và sáng kiến kỹ thuật của ông. Ông cũng là một người dễ mến khác thường với một lòng rộng lượng thành thật và tự nhiên.


TTT và Việt Nam

Tuy không biết nói tiếng Việt nhưng ông cũng không hề quên nguồn gốc, đóng góp cho đất nước bằng những hành động cụ thể chứ không bằng lời nói vu vơ. Lúc nào ê-kíp của ông cũng có chuyên gia người Việt được ông giao cho nhiều trách nhiệm và quyền quyết định. Tôi được ông mời đứng đầu dự án SGGA và sau đó dự án Thư viện Quốc gia ở Bắc Kinh. Có lần ông tâm sự là tôi được ông chọn lựa chính là vì tôi là người Việt và tốt nghiệp trường HEC!

Vào năm 1978, khi làm Tổng Giám đốc công ty R2E, TTT về Việt Nam đề nghị một chương trình sản xuất máy Micral, ở giai đoạn dẫn đầu là đào tạo chuyên viên và lắp ráp các máy vi tính này, chỉ cần một số đầu tư tối thiểu từ phía Nhà nước. Đáng tiếc thay, dự án này bất thành vì guồng máy quan liêu trong nước và những lý do chủ quan khác. Những dịp may lớn, cũng như Thời gian, một khi đã đánh mất thì chẳng bao giờ tìm lại được nữa. Trong một khắc thôi, ta thử tưởng tượng, dự án này thực hiện được thì ngày nay Việt Nam đã là tiên phong trong lãnh vực vi tính ở Á Châu. Phải là một người có tầm nhìn xa, nhiều dũng cảm, nghị lực và niềm tin để hình dung ra một dự án vị tha và nhiều kỳ vọng như vậy (mặc dù dự án không được chính Hội đồng Quản trị công ty R2E tán thành).

Lần thất bại trên cũng không cản được TTT trở lại nước sau đó để làm cố vấn và chia sẻ kinh nghiệm với các nhà tin học Việt Nam. Ông có mặt ở tuần lễ tin học tại Hà nội năm 1992, gặp tướng Giáp và đọc tham luận trước TBT Đảng CS Đỗ Mười và các nhà khoa học Hà Nội, cảnh báo Việt Nam trước cơ nguy của các “viên thuốc độc bọc đường”. Ông trình bày cách bắt kịp chuyến tàu kỹ thuật mà không phải làm lại lịch sử, nhấn mạnh mặt đào tạo, phát triển, dịch vụ và tầm quan trọng của các tiêu chuẩn (quốc tế) của thị trường. Trước khi đi, ông có để lại một bản phúc trình cho Ủy ban Khoa học Kỹ thuật và Môi trường. Sau đó, ông nhiều lần trở lại để thuyết trình trong nước theo lời mời của Bộ Khoa học, Kỹ thuật và Môi trường.

Quê hương đã đón nhận ông và được ông yêu quý là nước Pháp cũng đã tuyên dương ông, tuy có chậm trễ, với Huân chương Légion d’Honneur Đệ ngũ đẳng vào năm 1999. Ước mong rằng, ở thế giới bên kia, khi nghĩ đến Việt Nam là quê hương nguồn cội, TTT sẽ không phải tự hỏi câu ngậm ngùi của nhà thơ Lê Đạt “Đất nước mẹ mình hay mẹ ghẻ?”.

Phạm Tùng Cương - Đỗ Kh. dịch

Vào lúc các nhà lãnh đạo mới của Việt Nam được xem là ôn hoà và cải cách có phần trội hơn và vào lúc cụm từ "Hoà giải" đang thông dụng với các đảng phái hoặc nhóm chính trị Việt (kể cả Đảng Cộng sản Việt Nam) thì một sự kiện ở châu Âu vào tháng 5.2006, lạ thay, lại không thấy truyền thông trong cũng như ngoài nước để mắt đến. Đó là việc phát hành một cuốn sách giáo khoa về bộ môn Sử [1] lớp 12, chung cho cả hai nước Pháp và Đức vào dịp tựu trường 2006. Bộ sách này, theo yêu cầu của Tổng thống Jacques Chirac và Thủ tướng Gerhard Schröder là để mừng 40 năm Hiệp ước Hữu nghị Đức- Pháp do tướng De Gaulle và Thủ tướng Adenauer kí kết, và là công trình hợp tác giữa mươi giáo sư Pháp và Đức.

Sách giáo khoa môn Sử chung cho Pháp và Đức: Châu Âu và thế giới từ 1945. Bên trái: Bản tiếng Pháp. Bên phải: Bản tiếng Đức. Xem thêm: http://www.klett.de/projekte/geschichte/dfgb/

Ngoài mặt chính trị ra, việc xuất bản cuốn sách, tham gia vào tiến trình hoà giải giữa hai nước Pháp và Đức, đã bắt đầu có mặt từ khi Đệ nhị Thế chiến chấm dứt, để tìm cách mang lại cho những thế hệ trẻ của hai nước một ký ức chung cùng có thể chấp nhận về quá khứ.

Hình hài đầu tiên của tiến trình hoà giải này có ngay trong khai sinh của Cộng đồng Thép và Than châu Âu (CECA, tiền thân của Cộng đồng châu Âu hiện nay), được các nước Pháp, Cộng hoà Liên bang Đức, Bỉ, Ý, Luxembourg và Hà Lan kí kết tại Paris tháng 4.1951. Việc dẹp bỏ những trở ngại hành chánh để thông thương thép và than, hai vật liệu cơ bản trong kỹ nghệ chiến tranh, chứng tỏ Pháp và Đức cương quyết trong ý chí cộng tác và hoà giải trước hết là về mặt kinh tế, chỉ mới có sáu năm sau một cuộc chiến tàn phá và tai hại [2] .

Phần chúng ta, sáu năm sau 1975, giữa những người Việt với nhau, thì đã thấy có được gì?

Ngày lễ Memorial Day tại Hoa Kỳ, cử hành mỗi năm vào ngày 30 tháng Năm, bắt nguồn từ lễ Decoration Day lần đầu tiên vào năm 1868 (ba năm sau nội chiến ly khai Bắc Nam) khi vòng hoa được đặt lên mộ các chiến sĩ của cả hai bên ở Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia tại Arlington. Một quốc gia trẻ, trọng thương và cấu xé sau một cuộc nội chiến khủng khiếp dài năm năm (1861-1865) đã biết cách hàn gắn nhanh chóng và thành công rực rỡ tương lai.

31 năm sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt, các nghĩa trang và các ngôi mộ của tử sĩ Việt Nam Cộng hoà giờ ở nơi đâu? Đây là một lãng quên vẫn chưa hết trào dâng.

Dù ở vị trí nào đối với lịch sử, chúng ta cũng không nên thản nhiên "trước cảnh đáng ngại do cái nhớ tràn đầy ở nơi này và cái quên đang trào quá ở nơi kia tạo ra", theo câu viết của Paul Ricoeur [3] . Chính sự lạm dụng hồi ức và quên lãng này khiến mọi phương cách hoà giải giữa người Việt đâm ra nhọc nhằn.

Bệnh ký ức là căn bệnh của người Việt chúng ta, ký ức áp đặt, ký ức đè nén, ký ức lừa đảo, ký ức cơ chế hoá. Một ký ức thổi phồng những chiến thắng đạt được và những nhục nhã phải gánh chịu, một ký ức tự mãn trong khi xoá bỏ hoàn toàn những tai ương của kẻ khác.

Chúng ta lại có khi hoàn toàn mất trí trước những bài học của lịch sử với "cái quên trào quá ở nơi kia".

Sự khoan dung giữa những dân tộc (hay những cộng đồng) quả là điều quá nhọc nhằn, trong khi nó ít khó khăn hơn giữa những cá nhân. Sự phẫn nộ của Trung Quốc gần đây về vấn đề các sách giáo khoa môn Sử của Nhật Bản cho ta thấy cung cách một quốc gia biệt đãi "cái nhớ tràn đầy" trong khi lại thao túng việc này một cách hữu dụng. Ngay đến hơn 60 năm sau các tranh chấp, những bất đồng về một quá khứ chung vẫn còn tồn tại giữa các quốc gia lớn vùng Đông Á.

Việc xuất bản sách giáo khoa môn Sử Pháp-Đức [4] , chỉ cần dưới ba năm để thực hiện (từ quyết định chính thức đến lúc sách ra mắt) là một kết quả của hoà giải Pháp-Đức thành công. "Dự án này có một tầm tượng trưng và chính trị rất lớn. Đây là lần đầu tiên trên thế giới, hai quốc gia ‘cùng viết một lịch sử chung’" theo ông Peter Muller, Đặc sứ về các vấn đề văn hoá của Cộng hoà Liên bang Đức.

Chúng ta có thể rút tỉa vài bài học từ dự án này. Hoà giải vừa là một mục tiêu vừa là một tiến trình, dài hơi, đầy đủ, sâu xa và nhiều mặt để đạt mục tiêu đó. Và hoà giải chỉ có thể xảy ra trong một môi trường dân chủ dựa trên tiền đề căn bản là không sử dụng bạo lực để quản lý các khác biệt cũng như các đối tác. Văn hoá dân chủ khuyến khích và đẩy mạnh sự tái lập của sự thật về quá khứ, cũng như các quan hệ tin cậy và tôn trọng giữa mọi bên. Một ý chí và một cái nhìn đường dài, được hỗ trợ bởi những hành động vừa có tính cách biểu tượng, thực dụng và hữu hiệu và được phổ biến rộng rãi đều cần thiết cũng như nhu cầu những phương tiện tri thức, tinh thần và vật chất.

Những lời tuyên bố không được đi kèm bởi hành động cụ thể và thích nghi, có tính cách xây dựng phù hợp với ý phát biểu và được thực hiện mạch lạc thì chỉ là những khẩu hiệu vô sinh. Ta mong rằng phần cao thượng của ký ức lịch sử sẽ khởi hứng các hành động và sẽ đẩy mạnh những con người trong hoà giải Việt Nam.

Nguồn: Dịch từ bản tiếng Pháp chưa công bố của tác giả

Bản tiếng Việt © 2006 talawas


[1]Châu Âu và thế giới từ 1945, Nathan (bản tiếng Pháp) và Klett (bản tiếng Đức)
[2]Chúng ta không quên là chỉ trong vòng 80 năm, hai nước này đã trải qua ba cuộc chiến tranh chết chóc: 1870, 1914-1918 và 1940-1945
[3]Paul Ricoeur, triết gia Pháp (1913-2005): "Je reste troublé par l’inquiétant spectacle que donne le trop de mémoire ici, le trop d’oubli ailleurs, pour ne rien dire de l’influence des commémorations et des abus de mémoire- et de l’oubli."
[4]Hai quyển kế tiếp đang được chuẩn bị cho niên học 2007 và 2008, quyển thứ nhất từ Thượng cổ đến thời Lãng mạn chủ nghĩa và quyển thứ nhì từ thế kỷ 19 đến Thế chiến thứ Hai.

3.8.2006

Đỗ Kh.

Trong bài viết của Phạm Tùng Cương (“Một bài học mới từ châu Âu cổ”) tác giả xin đính chính một sơ xuất. Ngày lễ Memorial Day tại Hoa Kỳ hiện nay được cử hành vào ngày thứ hai cuối cùng của tháng Năm. Người dịch xin chú thích thêm, đây là dịp thực dụng rất Mỹ, để dễ mà “hòa giải” với hai ngày thứ Bảy và Chủ nhật nghỉ cuối tuần.

Tâm Khánh Nam


Ngày 4 tháng 7 năm 2006, khắp nơi trên nước Mỹ từ thành phố đến thị xã tràn nhập những cuộc diễu hành, đốt pháo bông, và những buổi liên hoan thịt nướng ngoài trời (barbecues). Người dân tổ chức ngày sinh nhật thứ 230 của Hoa Kỳ (1776-2006), ngày Lễ Độc Lập mà người ta quen gọi là "The Fourth of July". Dân Mỹ có đủ lý do để ca tụng ngày lập quốc vì nó là một nước văn minh, hùng mạnh, tự do, và dân chủ. Hơn bốn năm sau kể từ ngày nước Mỹ bị tấn công (11/9/2001), những bài diễn văn trong các buổi lễ bớt đi các câu chuyện nhạt nhẽo, nhưng tập trung nhiều vào mục đích chính ý nghĩa của ngày lễ lập quốc. Người Mỹ muốn gây dựng lại tinh thần đoàn kết trong thời kỳ danh dự của đất nước bị tổn thương.

Vài ý nghĩa trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập

John Hancock
Ngày Lễ Độc Lập mang một ý nghĩa thật quan trọng. Nó không đơn thuần chỉ là một ngày lễ, mà là biểu hiện nền tảng và ý nghĩa của Hoa Kỳ từ khi lập quốc. Trong suốt hơn hai trăm ba mươi năm qua, kể từ khi bản Tuyên Ngôn Độc Lập được đọc trước công chúng vào ngày 8 tháng 7 năm 1776, tại thủ đô đầu tiên của Hoa Kỳ là Philadelphia, Pennsylvania (1775-1789). Rất nhiều người, cả giới trí thức và dân lao động không ai tường tận hết những chi tiết của bản tuyên ngôn bất hủ mà tác giả là ông John Hancock, cùng với tất cả các đại diện của mười ba tiểu bang đầu tiên của Hoa Kỳ đã ký tên. Tuy nhiên, ít người kể cả người nước ngoài, không ai không biết đến lời mở đầu của đoạn thứ văn thứ hai của bản tuyên ngôn này: “Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng Đấng Tạo Hoá đã ban cho họ những quyền tất yếu bất khả xâm phạm, trong đó có Quyền Sống, Quyền Được Tự Do và Mưu Cầu Hạnh Phúc.” (We hold these truths to be self-evident, that all men are created equal, that they are endowed by their Creator with certain unalienable Rights, that among these are Life, Liberty and the pursuit of Happiness.) (1)

Danh từ độc lập được tuyên bố trong bản tuyên ngôn là sự xác định quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Quyền sống có nghĩa là mỗi một cá nhân có quyền độc lập riêng cho bản thân trong đời sống, đời sống của người đó là của chính riêng họ, không thuộc quyền của người khác sử dụng nếu thấy thích hợp. Quyền tự do có nghĩa là quyền tự do hành động, hành động theo sự phán xét của cá nhân. Không phải quyền tự do chĩa súng vào đầu của một người nào đó ép buộc người ta thi hành mệnh lệnh của kẻ khác. Và quyền được mưu cầu hạnh phúc có nghĩa là mỗi cá nhân có thể theo đuổi niềm hạnh phúc riêng, sự nghiệp riêng, bạn bè, và sở thích riêng. Con người không phải tồn tại để làm công cụ phục vụ mục đích của kẻ khác. Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ còn là một bản cáo trạng về tội của Vua nước Anh và cũng là nền tảng căn bản để xây dựng chính quyền. Nhưng niềm kiêu hãnh nhất của người Mỹ trong hơn hai trăm năm qua vẫn là quyền bình đẳng, quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc của mỗi công dân được luật pháp bảo vệ.

Cách nhìn của người Mỹ

Đối với một số đông người Mỹ, “The Fourth of July”, không chỉ là cơ hội nghỉ ngơi, quảng cáo thương mại, mua sắm, liên hoan, diễu hành, hay chỉ là một ngày lễ thông lệ hàng năm. Họ muốn mang ý nghĩa của từ “độc lập” vào ngày Lễ Độc Lập cuả Hoa Kỳ. Nước Mỹ, trong cách nhìn của nhiều quốc gia nó vẫn là biểu tượng niềm hy vọng của những con người còn đang bị áp bức trên thế giới. Những người Mỹ ái quốc ưu tư vì trên đà tư bản chủ nghĩa, người ta ngày càng bị các nhà lãnh đạo kéo rời họ ra khỏi ý nghĩa thực sự của Ngày Độc Lập, một triết lý đã hình thành Liên Hiệp Quốc Hoa Kỳ. Ngày nay, chúng ta vẫn thường nghe các nhà chính trị, trí thức, và giới truyền thông nói đến thời đại của "sự phụ thuộc lẫn nhau”, và độc lập là một việc lỗi thời. Hơn thế nữa, người ta xem quyền được sống, tự do, và mưu cầu hạnh phúc là điều tất nhiên. Đôi khi người ta xem độc lập trong chính trị không phải là yếu tố chính. Nó nằm trên một nền tảng quan trọng của sự độc lập khác: độc lập trong ý trí của con người. Khi con người có khả năng tự suy nghĩ cho chính mình và có nguyên tắc riêng cho đời sống, họ có thể làm cho nền độc lập chính trị xảy ra khi cần thiết.

Cũng có đa số dân Mỹ coi “The Fourth of July” là cơ hội cho họ đi mua hàng hạ giá. Họ coi việc đi liên hoan, vẽ mặt, hoá trang, diễu hành, dự đại nhạc hội, xem đốt pháo bông, và tham gia nhiều hình thức giải trí khác nhau là những điều quan trọng cần phải có trong ngày Lễ Độc Lập. Tóm lại, ý nghĩa độc lập thật sự trong cái nhìn của người Mỹ ngày nay chắc khác hẳn với 230 năm về trước: trông cậy vào sự phán đoán và ý kiến của cá nhân. Người ta không muốn hy sinh tâm trí cho chính quyền, nhà thờ, quốc gia, hay kẻ lân cận. Quyền tự do độc lập dẫn đến chủ nghĩa cá nhân là điều tất yếu .

Suy tư của người Việt về ngày Lễ Độc Lập

Gần hai triệu người Việt tỵ nạn cộng sản ở hải ngoại, nhất là ở Hoa Kỳ, dù không thông hiểu hết lịch sử và sự hình thành của các Tiểu Bang Hoa Kỳ, nhưng ai cũng biết ngày “July 4th”. Một ngày nghỉ lễ là cơ hội cho những người Việt tha phương gặp cố tri, bạn bè họp mặt, và cùng nhau hàn quyên tâm sự, tiệc tùng. Cũng như đa số người Mỹ, người Việt tại Hoa Kỳ coi ngày "The Fourth of July" chỉ là một ngày lễ theo thông lệ, không hơn không kém. Người ta cũng đi mua sắm, liên hoan, tắm biển, và có khi tham gia các cuộc diễn hành trong cộng đồng Á Đông ở thành phố. Với nhiều người Việt tại Mỹ, họ tìm thấy niềm vui và vinh dự khi được dự phần trong việc kỷ niệm ngày Quốc Khánh, nơi mà họ được thừa hưởng quyền độc lập, tự do và mưu cầu hạnh phúc. Bên cạnh họ, cũng nhiều người Việt khác mang tâm thức trở về nguồn và nặng lòng cho dân tộc. Với những người này, ngày Lễ Độc Lập của Hoa Kỳ gợi nên sự xót xa và nỗi buồn không nguôi.

Cũng tuyên ngôn, cũng độc lập nhưng thiếu tự do
Người Việt cũng yêu chuộng độc lập, tự do dân chủ và ao ước có quyền bình đẳng, quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc như hàng trăm triệu người Mỹ. Biết được lòng khát vọng độc lập, tự do của người dân, ông Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà tại quảng trường Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945. "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Và nó cũng vang lên thật hào hùng và làm xúc động lòng người. (2) Thế nhưng, đã hơn sáu thập niên từ ngày giành được độc lập (1945- 2006), hơn ba thập niên (1975-2006) kể từ ngày chính quyền Việt Nam đã "vẹn tròn lãnh thổ", hơn tám mươi triệu người dân vẫn chưa biết đến thế nào là quyền sống. Người ta phải tìm mọi cách rời khỏi quê hương để mưu cầu hạnh phúc, liều mình vượt đại dương để tìm lấy tự do, và phải chịu tù đày khi đòi hỏi dân chủ. Nền độc lập của đảng cộng sản đẩy người Việt rời quê hương để chạy chốn sự nghèo đói, lạc hậu, và chế độ độc tài. Người Việt tỵ nạn trên đất người được sống cuộc đời cho chính họ, họ không bị coi là của riêng của một chính quyền hay của một đảng phái nào. Với người dân còn lại trong nước, độc lập, tự do và mưu cầu hạnh phúc chỉ là những mỹ từ dùng trong lý thuyết và giáo dục, hay còn gọi là bánh vẽ của chế độ.

Người dân Hoa Kỳ coi sự độc lập là nền tảng khai quốc, là di sản của tổ tiên họ để lại. Đối với họ, gìn giữ sự độc lập và ý nghĩa của nó trong ngày Lễ Độc Lập, không phải chỉ vì nó là một di sản, mà nó còn là lẽ phải và sự công bằng. Lễ Độc Lập của Hoa Kỳ giúp ta hiểu thêm ý nghĩa thật của sự độc lập. Người dân có quyền độc lập thật sự khi chính họ có được quyền sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc. Chỉ độc lập về chính trị hay độc lập của một chính quyền đảng phái thì chỉ là một chiêu bài của áp bức, và chuyên chế của một chế độ độc tài, nó kìm hãm con người trong sự nghèo nàn và lạc hậu. Trong bất cứ thời đại nào, xã hội nào, quyền sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc không phải tự nhiên mà có. Người ta phải đánh đổi bằng một giá nào đó mới có được: có khi phải trả bằng những cuộc đấu tranh đầy gian thử thách với tính mạng của nhiều người ngã xuống . Ngày Lễ Độc Lập không chỉ dành riêng cho người dân Hoa Kỳ, mà là lời nhắn cho những dân tộc đang còn thiếu tự do, bị áp bức và mất quyền làm người.

Copyright @ DCVOnline 2006

(1): Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ.
(2): Tuyên Ngôn Độc Lập Việt Nam.

Làm nail cũng như bao công việc khác ở Mỹ, là sự chọn lựa của cá nhân hay gia đình. Gần đây nó trở thành cuộc sống sinh hoạt riêng của người Việt. Báo chí địa phương dành hẳn cả vài trang quảng cáo về dụng cụ, bàn ghế, và hóa chất dùng làm nail và ít có nhất một trang để quảng cáo tìm thợ. Nghề nail mang lại công ăn việc làm cho người Việt và dịch vụ cho người Mỹ.

Kim Khánh

Có nhiều người Việt trở nên giàu có bằng nghề làm móng tay. Cái nghề này người Việt ở Mỹ gọi là nghề nail. Đừng hiểu lầm là nghề “làm đinh” thì khổ (nail trong tiếng Anh có nghĩa là móng tay, cái đinh, đóng đinh, bị bắt, và từ lóng là đóng). Có lần tôi vào thăm tiệm làm móng tay của người em, nghe cô hỏi người khách: You want nail? Nghe tếu ghê, nhưng chỉ có người trong nghề và khách mới hiểu cái kiểu nói tắt của người Việt. Nếu là khách, tôi sẽ trả lời: Yes, you want to nail me, but can I nail you back? (Vâng, tôi muốn bạn đóng, nhưng tôi có thể đóng lại bạn được không?).

Từ đầu thập niên 90, nghề nail bắt đầu thịnh hành ở vùng Đông Bắc của Hoa Kỳ do những người Việt từ California thấy có sự cạnh tranh và chuyển địa bàn làm ăn về đây. Một điểm mà ai cũng công nhận đó là người Việt giỏi thích ứng, học nhanh (có người nói là bắt chước nhanh), chịu cực, và biết làm giàu. Trước khi người Việt chiếm ưu thế về nghề nail, người ta chỉ thấy một vài phòng làm móng tay do người Mỹ làm chủ. Đây là một nhu cầu xa hoa của những người bản xứ. Nói điều nầy không ngoa vì ít khi chúng ta bắt gặp một người Việt đi làm móng tay giả. Khi nghề nail đã được người Việt phát triển với giá thấp và hoa mỹ thì không chỉ có người khá giả mới đi làm móng, mà tất cả dân lao động Mỹ đều có khả năng tài chính để trang điểm đôi tay và chân của mình. Khách làm nail đa số là người Mỹ gốc Châu Phi và Tây Ban Nha, nhưng hoa hồng hậu hĩ vẫn nghiêng về những khách chịu chơi giàu có, Mỹ da trắng.


dcv53_nail.jpg

Không phải ai cũng thấy người ta ăn khoai thì vác mai mà chạy, nhưng đối với cái nghề mà vừa dễ kiếm tiền lại không cần nhiều vốn thì ai mà không muốn. Bắt đầu như thế nào thì mỗi người có cách riêng, nhưng nếu sống trong cộng đồng người Việt, thì thế nào bạn cũng quen ít nhất một người làm móng tay. Làm nail cũng như bao công việc khác ở Mỹ, là sự chọn lựa của cá nhân hay gia đình. Gần đây nó trở thành cuộc sống sinh hoạt riêng của người Việt. Báo chí địa phương dành hẳn cả vài trang quảng cáo về dụng cụ, bàn ghế, và hóa chất dùng làm nail và ít có nhất một trang để quảng cáo tìm thợ. Nghề nail mang lại công ăn việc làm cho người Việt và dịch vụ cho người Mỹ. Khi nhu cầu tăng, nhiều đại lý cung cấp vật dụng cho nghề nail cũng bắt đầu mở mang. Để tìm hiểu thêm chi tiết về nghề nail chúng ta xem qua vài chủ đề sau.

Khách làm “nail”

Có lần đi dự party (liên hoan) tôi gặp mấy người phụ nữ Mỹ lạ hoắc (dĩ nhiên là lạ), hỏi ra thì biết là khách hàng trung thành của người bạn. Tôi phục người Việt mình sát đất. Không tốt nghiệp qua trường lớp mà thực hành business 101 (thương nghiệp101) rành rọt: giữ quan hệ tốt với khách hàng tạo tin tưởng để lập lại dịch vụ. Một phần cũng do lòng hiếu khách sẵn có của người Việt. Tôi có dịp gossip (nhiều chuyện) với một bà khách thân của cô em gái. They are wonderful, you know. I like my nails done by someone I know. My friends and I know them for years. I think the Vietnamese nail technicians are the best and they charge at a seasonable price. There are couple other Korean nail salons, but I don’t like them. They are expensive and not very nice. (Họ hết xẩy anh biết không? Tôi thích làm móng tay với người quen. Tôi và bạn bè biết họ (cô Tân) nhiều năm rồi. Tôi nghĩ thợ móng tay người Việt giỏi nhất và lấy giá phải chăng. Có vài tiệm móng tay người Nam Hàn, nhưng tôi không thích họ. Họ lấy giá cao lại khó chịu). Người Việt hiếu khách và chịu khó, người Mỹ thích làm nổi và chơi sang - là một phối hợp tốt trong nghề nail. Không phải khách nào cũng rộng rãi và lịch sự, nhưng có điều là khi đi làm đẹp thì người ta không đến nổi keo kiệt. Khách người Mỹ là thị trường tốt cho nghề nail dù kinh tế của Hoa Kỳ đang bị uể oải.
 
dcv53_nail2.jpg
Làm chủ


Tôi có vài người bạn và có mấy cô em làm nghề nail và được biết một tiệm thì có khoảng chừng bốn hay năm thợ, cộng thêm ông/bà chủ. Hầu như tất cả người làm chủ đều bắt đầu từ trong nghề, không một người nào đứng ra mở tiệm mướn người mà không có kinh nghiệm trước. Giàu mà được báo chí truyền thông biết đến thì những người làm nail không thể gọi là giàu được. Cái mà người mình gọi là giàu ngầm. Giàu là không nợ ngân hàng, không nợ thẻ tín dụng, trả thuế ít (có khi không trả luôn), không nợ tiền xe, và dĩ nhiên lúc nào cũng có sẵn tiền mặt. Làm thương mại theo kiểu ít vốn mà trốn được thuế thì là vua. Rất ít thấy các tiệm nail nhận chi phiếu hay thẻ tín dụng từ khách (trừ những tiệm ở ngoại ô thành phố, nơi đa số dân giàu cuả người Mỹ cư ngụ). Cát on ni, só ri (Xin lỗi, chỉ nhận tiền mặt thôi). Đa số những chủ tiệm nail khi mua nhà thì trả tiền mặt có khi tới cả vài trăm ngàn USD. Còn xe thì mới toanh, loại nhập cảng, hoặc ít ra cũng là xe Nhật. Thương gia Mỹ thành kiến khi thấy mấy ông khách người Việt ăn mặc luộm thuộm vào các đại lý xe đắt tiền sờ ngắm và ngã giá. How do you going to pay for it? (Anh trả bằng cách nào đây?) là câu hỏi đầu tiên. Rồi bọn auto sale man (người bán xe), thay đổi thái độ khi nghe câu: I will pay cash and I would like to take it today (Tôi trả tiền mặt và muốn lấy xe hôm nay). Thu nhập thì cũng tùy mùa, lên xuống theo thời tiết. Mùa đông thì các bà các cô mang bao tay và giày ống nên ít người đi làm móng tay, dũa móng chân. Bình, em gái tôi than: Anh ơi dạo nầy tiệm ế quá, tụi em ngồi nói nhảm cả ngày. Có tuần tụi em chỉ làm được vài trăm nếu theo đà nầy chắc là phải sang tiệm cho người ta. Những khi đắt khách, nhất là mùa hè ở miền Đông Bắc, thu nhập chừng 5 tới 7 ngàn USD mỗi tháng sau khi trả chi phí và tiền công cho thợ. Ở trong chăn mới biết chăn có rệp. Làm chủ tiệm nail để làm giàu, hay chỉ là cách lựa chọn khi không còn cách khác.

Làm công

Thợ làm móng tay hội đủ thành phần người Việt. Nếu nói vì yêu nghề hay thích phục vụ thì không đúng sự thật. Đa số người ta vì tiền và tìm giải pháp tạm thời trong lúc khó khăn về tài chính. Nhiều người làm nail vì không có nghề khác thích hợp mà kiếm được đồng lương tương đương. Gần đây còn có kỹ sư nail, kế toán nail, và lập trình viên nail, là hậu quả của nền kinh tế suy sụp tại Hoa Kỳ sau biến cố 9/11/2001. Thuý, tốt nghiệp cử nhân về kế toán đi làm nail được vài năm tâm sự. Bây giờ khó kiếm việc lắm. Họ đòi có CPA (Certified Public Accountant = Chứng chỉ kế toán chuyên nghiệp), hoặc có nhiều kinh nghiệm. Họ (các công ty) không cho cơ hội thì làm gì em học được kinh nghiệm đây. Rồi trả lương thì rẻ như bèo. Em đi làm nail tuy cực nhưng cũng vui. Tuần trung bình cũng được 5 tới 7 trăm đô. Làm giỏi thì ăn chia với chủ, còn nếu kém thì nhận lương thấp hơn, nhưng dù sau cũng khá hơn là đi vác resumé (lý lịch) khắp nơi xin xỏ và nghèo rớt mồng tơi. Các bác kỹ sư thất nghiệp hoặc sinh viên bỏ học thì vào kiếm tiền và chờ thời cơ trong các tiệm nail. Có người làm nên ăn ra chọn luôn nghề nail và hát: Em biết anh mang kiếp cầm tay, từ sáng tới chiều sờ nắn tay người...

Cơ hội và sự tiện lợi

Có cơ hội làm ra tiền ai mà không thích. Người Việt rất dễ thông cảm và muốn giúp nhau, ít nhất trong nghề nail. Từ khi bắt đầu học nghề đến khi có thể làm ra tiền tốn mất chừng từ ba đến sáu tháng và cũng tuỳ khả năng của từng người. Ai cũng có thể học nghề vì không cần biết nhiều tiếng Anh. Vài câu cần thiết như: What can I do for you? New, refill, design ... (Bà/Cô cần làm gì? Mới, làm đầy lại, vẽ kiểu...). Quá trình học thì cũng không mấy phức tạp từ: rửa, chùi, dũa, lấp bột, dán móng, vẽ hình... cho móng tay. Sau khi học xong nghề mà muốn đi làm chỗ lương cao hơn (tức nhiên là xù chủ cũ) thì cần phải đi thi lấy chứng chỉ làm nail. Có người tự học để thi, nhưng cũng có người nhờ thi (phải trả từ 500 đến 1.000 đô la). Nhiều thợ không cần thi lấy chứng chỉ, nhưng khi có cơ quan thẩm quyền đến kiểm tra thì phải lảng đi chỗ khác chơi. Các tiệm nail đông khách nhất là vào chiều tối và cuối tuần nên thuận tiện cho thợ làm bán thời gian như học sinh và sinh viên. Nghề nail mở ra cơ hội cho bất cứ ai muốn làm giàu nhanh và nó cũng là một cách mưu sinh của người Việt tại Mỹ.

Bất tiện và sự bất lợi

Đèn nhà ai nấy rạng, quán nhà ai nấy biết. Một trong những bất lợi của nghề nail là vấn đề sức khỏe. Bất tiện nữa là thời gian, vừa dài và thiếu ngày nghỉ ngơi. Các tiệm nail thông thường mở cửa từ 9 giờ sáng đến 8 giờ tối và có khi mở cửa luôn cả ngày chủ nhật. Nghề nail có tác hại (side effect) nhiều đến sức khỏe của thợ (dù có mang khẩu trang). Nếu không bị dị ứng da do các hoá chất như: Acrylic powder, Acetone, và Primer… gây ra, thì bị ra máu mũi vào buổi sáng. Thợ có thể làm nail lâu nhất là khoảng 27 năm (18 đến 45 tuổi). Sau đó có thể chuyển qua làm chủ hoặc về hưu. Vợ chồng ông bà Thi làm nghề nail lâu nhất ở Philadelphia nói: Tiền thì có đó chú ơi, nhưng không có thời gian đi mua sắm và không có thời gian với gia đình. Bây giờ chỗ nào cũng có tiệm làm nail, không chiều khách thì không làm ăn được. Hơn bốn mươi tuổi thì tay bị tê, run và đau lắm, cầm máy dũa không được. Mỗi sáng dậy không nổi, đau mình, nhức tay, và da mặt thì hư hết. Vài bác sĩ người Mỹ gốc Việt cho biết là nhiều em bé bị dị ứng về da nếu người mẹ hít thở nhiều hóa chất dùng làm nail trong khi mang thai.

Tương lai và suy nghĩ

No pain, no gain (Không nhọc công sức, thì không thu nhập). Muốn làm ra tiền thì phải trả một giá mà người Việt làm nghề móng tay chấp nhận. Hy sinh thời gian cần có cho gia đình và chấp nhận tác hại của hoá chất. Khi nói về tuơng lai trong nghề nail một số chủ tiệm hy vọng rằng mình sẽ kiếm được một khoảng tiền lớn để dành cho các con đi học sau nầy, dành cho hưu trí, mua thêm căn nhà, và nếu được mở thêm một cơ sở thuơng mại. Còn các thợ làm nail thì hy vọng sẽ làm chủ, hoặc chờ mong một cơ may khá hơn. Ít người nghĩ đến bao nhiêu năm sẽ rửa tay, miễn có tiền thì làm, cái gì tới sẽ tới. Nói như vậy không phải ai cũng có duyên với nghề, có nhiều anh/chị vào làm chưa đầy hai tháng là đã bỏ nghề vì không chịu được mùi của hoá chất. Người làm nail ai cũng biết được tác hại và bất tiện của nó, nhưng người ta chấp nhận những khó khăn để có một tương lai có lẽ sẽ thịnh vượng và đủ đầy vật chất. Tiền ai cũng muốn làm ra, nhiều hay ít, nhanh hay chậm là do sự may mắn hay gặp thời - nghề nail cũng không ngoại lệ, nó là một chọn lựa cá nhân. Người làm nail ai cũng biết được tác hại và bất tiện của nó, nhưng người ta chấp nhận những khó khăn để có một tương lai có lẽ sẽ thịnh vượng và đủ đầy vật chất. Tiền ai cũng muốn làm ra, nhiều hay ít, nhanh hay chậm là do sự may mắn hay gặp thời - nghề nail cũng không ngoại lệ, nó là một chọn lựa cá nhân.
Kim Khánh

Không chỉ riêng những người con lai phải chịu đựng sự kỳ thị và thành kiến, mà tất cả người Việt điều là nạn nhân của một nền văn hoá lỗi thời. Không ai thay đổi được quá khứ, đừng để dư luận và thành kiến giết chết tình yêu thương và sự cảm thông trong mối quan hệ con người. Người Mỹ gốc Việt hay người Mỹ lai, nói cho cùng ai cũng là người Việt Nam.
    Rớt tú tài anh làm trung sĩ,
    Vợ ở nhà lấy Mỹ sanh con
    Bao giờ xong chuyện nước non
    Anh về anh có Mỹ con anh bồng
 
dcv_khongmanghocha11.jpg
Bốn câu thơ trên được nghệ sĩ Giang Châu ngâm mùi mẫn lâm li trong vở cải lương “Tìm Lại Cuộc Đời”, đã được trình diễn trên sâu khấu và truyền hình ở Việt Nam những năm sau 1975. Vở cải lương “Tìm Lại Cuộc Đời”, có tính chất tuyên truyền cho chế độ cộng sản về việc làm phi nghĩa, thiếu nhân đạo cuả quân đội Mỹ trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Một tấn bi kịch đau thương được đạo diễn dàn dựng công phu có tính thuyết phục cao. Điều đáng tiếc là những người làm văn hoá tại Việt Nam không đủ can đảm viết thêm vở “Những người con không mang họ cha”, để phản ánh cuộc đời và số phận hàng trăm ngàn người con lai Mỹ đang sống và lớn lên tại Việt Nam sau những năm 1975.

Sau ngày chính quyền cộng sản chiếm miền Nam, ngoại trừ một số ít ỏi người con lai may mắn có đủ cha mẹ tận tình bảo vệ nuôi dạy cho ăn học, số đông còn lại thì tương lại mịt mù, bất định. Đối với chính quyền cộng sản, họ là tàn dư của đế quốc, là ngoại lai, và là nỗi tủi nhục cho dân tộc. Ngày 31 tháng 5 năm 1979, chương trình “Ra đi có trật tự”, còn được gọi là ODP (Orderly Departure Program), được chính phủ Hoa Kỳ và Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) thông qua. Từ năm 1979 đến 1999, có khoảng 89,700 người con lai sinh trong những năm 1962-1975, được cùng gia đình đi định cư tại Hoa Kỳ. Họ được thay đổi số phận. Họ được đến một nước tự do, dân chủ, và cuộc đời có nhiều hy vọng trong tương lai. Tuy nhiên, nhiều năm qua số người Việt lai định cư tại Hoa Kỳ được thành công trong cuộc sống chiếm một tỷ lệ rất khiêm nhường. Có một số đông người Việt lai hình như không thiết lập được mối quan hệ của bản thân với xã hội và đặt câu hỏi tại sao? Có nhiều câu trả lời liên quan đến vấn đề trên, nhưng điều quan yếu vẫn là những ảnh hưởng tâm lý của họ trong quá khứ tại Việt Nam và sau ngày rời quê hương.

Bị kỳ thị vì thân phận “con lai”

- Chúng em đã ngoài ba mươi mà ai cũng kêu là “con lai - Hoàng bất mãn nói. Em nghĩ tiếng Việt phong phú, người ta nên khéo léo trong ngôn từ và dĩ nhiên không gọi chung một nhóm đông người với danh từ dành cho trẻ nhỏ “con nầy”, “thằng nọ”, “tụi kia”, và “đám đó”.

Từ xa xưa, người Việt đã mang nặng sự thành kiến và kỳ thị. Khi còn ở quê nha, ta vẫn nghe người Việt gọi người Hoa là “bọn ba Tàu”, người Campuchia kêu là “người mọi, thổ” với ý miệt thiệt, thì chuyện gọi người lai là bọn “con lai” cũng không có gì là mới .

- Người Việt mình ác mồm lắm. Mấy đứa chung lớp thời tiểu học cứ theo ghẹo em. “Mỹ lai có mười hai cái lỗ đít”. Có bữa em mắc cỡ quá, em nghỉ học luôn. Có khi em chịu không nổi đánh bọn nó thế là bị đem về nhà đánh đòn thêm. Liêm nói, mắt đỏ hoe.

Tài, chủ của một tiệm làm móng tay nói:

- Chuyện ‘con lai’ bọn em bị sỉ nhục, nghe hoài thành quen. Có đứa nói má em làm ở sở Mỹ, làm đĩ rồi sinh con. Em giận quá đánh nhau tùm lum hết và bị đuổi học luôn. Nghĩ lại chán đời, em đâu có quyền chọn lựa thân phận của mình. Mẹ của em làm gì thì làm, em có tội tình gì đâu mà phải bị coi thường. Em cũng có cảm giác và tự ái chứ.

Đa số người con lai khi còn ở Việt Nam phải chịu sự kỳ thị nặng nề về tâm lý lẫn tình trạng kỳ thị trong xã hội. Họ bị những người cùng trang lứa trêu chọc, hiếp đáp, và có khi đánh đập. Người Việt lai Mỹ bị chính quyền cộng sản phê vào thành phần “con lai” trong lý lịch hay là con của kẻ thù.

Bị lợi dụng vì là “con lai”

Từ giữa năm 1979, những người con lai lại trở nên “có giá”. Người ta bắt đầu nhận các người lai làm con nuôi. Lập vợ gả chồng, lập hôn thú và hồ sơ giả để được đi Mỹ. Còn có nhiều trường hợp mua bán “con lai” diễn ra tại Việt Nam. Trong những năm tháng chờ ngày đi Hoa Kỳ, những người lai thấy cuộc đời họ trở nên hữu dụng, được quý trọng và có nhiều lúc, quý trọng hơn mức cần thiết. Đây là nguyên nhân dẫn đến những tác hại và ngộ nhận về sau.
-Em không phải mang họ Trần, má em họ Lâm. Tại chú Đông trả tiền cho gia đình của em nên em đổi họ làm hồ sơ chung. Em muốn đi Mỹ lắm nên thay tên đổi họ, khai man, hay bất cứ chuyện gì cũng làm.
Quang, một người lai ghép-phôm (form) nói.

Mơ ước nhỏ nhoi, tìm cha thất lạc

Nhiều câu chuyện thêu dệt về sự toàn tụ cha-con của những người con lai tại Hoa Kỳ, tạo nên niềm hy vọng mơ hồ, khắc khoải. Ở Mỹ, những người con lai vẫn thấy có hy vọng mỏng manh nào đó, như một mối tương giao không rõ nét. Nhiều năm tại Hoa Kỳ và bằng nhiều phương pháp tìm kiếm khác nhau, tỷ số cha con đoàn tụ của những người con lai chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay .

dcv_khongmanghocha02.jpg
- Anh biết không, em cứ vẫn mơ hoài, như trong chuyện thần thoại. Em mơ có một ngày nào đó, có ông Mỹ đến tìm em. Liêm, người bạn tôi có lần tâm sự. Có thể ông ta là người đã có gia đình giàu có, hoặc vô gia cư và nghèo rớt mồng tơi, đối với em nó chẳng can hệ gì. Em không bao giờ nghĩ đến việc phụ tình dưỡng dục của ba mẹ em, nhưng nhìn tận mặt người cha ruột dù thoáng qua một lần thì chắc cũng đâu có gì quá đáng hả anh?

“Con lai” không thích nghi được với hoàn cảnh sống

Từng bị người ta coi rẻ là nạn nhân của chiến tranh, là tàn dư của chế độ. Nay những người con lai được tâng bốc nuông chiều, nhiều người không khỏi vòi vĩnh, yêu sách, lộng hành và có khi trở nên lố bịch. Người Việt ở trại tỵ nạn Bataan, Philippines, trong những năm 1980-1990s, đã chứng kiến nhiều chuyện lộng hành, băng đảng và cướp giật do những người con lai gây ra. Có người phải vào tù ra khám nơi đệ nhị quốc gia. “Một con sâu làm rầu nồi canh”. Thành kiến và ác cảm với “con lai” ngày càng tăng trong cộng đồng người Việt tỵ nạn. Sau khi định cư ở Hoa Kỳ, những người con lai không còn “cao giá” nữa, họ lại bị kỳ thị vì những thành tích không đáng ngợi khen khi còn ở Philippines. Đa số người con lai vì thiếu kiến thức căn bản, phải đi làm công việc lao động nặng trong các hãng xưởng. Và có một số ít người con lai vì không thích ứng được với cuộc sống thực tế tại Hoa Kỳ, nhất là thanh niên, họ lâm vào đời sống buông thả, nghiện ngập, và gia nhập các băng đảng của người Á Đông. Họ không hoà nhập được với xã hội người Mỹ và cũng không gần gũi được với cộng đồng người Việt.

Bị người “mình” kỳ thị trên đất khách

Chúng ta thường bắt gặp cái nhìn thiếu thiện cảm khi có người đồng hành khác phái là người lai. Có thể một vài người con lai vì bất mãn hay vì thiếu ý thức mà làm những chuyện xằng bậy, nhưng như vậy không có nghĩa là tất cả người Việt lai khác đều quậy phá. Có một vài cuộc hôn nhân vì lợi dụng hoàn cảnh để đi Mỹ, không có nghĩa là người ta không có tình yêu thương chân thật. Người bạn tôi có vợ lai, họ yêu nhau và hạnh phúc. Anh kể cho tôi một chuyện buồn cười như sau. Mỗi khi anh có dịp làm quen người Việt và nói là anh đi vượt biên đường biển đến trại tỵ nạn, rồi mới sang Mỹ, thì ai cũng “ồ” và tỏ vẻ ngạc nhiên vì khi họ thấy anh có người vợ lai bên cạnh. Đa số người ta nghĩ rằng bạn tôi trong diện ăn theo, hay là loại núp dưới bóng hồng.

Hồng, một người quen có lần trần tình. Tụi “con lai” nhiều khi cũng quậy qúa đáng. Bọn họ làm cho tụi em cũng mang tiếng lây. Anh nghĩ xem, nhiều người lai tụi em không được đi học, bị khinh thường và chà đạp. Nay được người ta nói ngọt, dỗ dành, muốn gì được nấy, thì không hư hỏng sao được. Tụi em thừa biết nhiều người đâu có ưa gì “con lai”, chỉ lợi dụng tụi em để đi Mỹ, nhưng không vì thế mà mình mất hết lòng tự trọng.

Sự kỳ thị và khinh khi ra mặt của người Việt là có thật. Liêm, kỹ sư tin học trong một công ty lớn và có vài ngàn nhân viên, nhưng người Mỹ gốc Việt đồng nghiệp chỉ có vài người. Nhân dịp Noel, Liêm mời cô bạn cùng sở tới nhà liên hoan, nhưng cô nầy từ chối thẳng. Ít lâu sau, Liêm được biết Tina không đến dự liên hoan Noel với gia đình Liêm chỉ đơn giản vì chồng Tina ghét người lai và nói: “Tao không ưa đám con lai, tụi nó mất dạy lắm”. Người Việt đã thay đổi môi trường sống, thay tên đổi họ, thay đổi cách ăn mặc, học nếp sống văn minh và dân chủ tại Hoa Kỳ, nhưng lòng kỳ thị và cái nhìn thiếu khách quan vẫn còn là một vấn nạn trong cộng đồng.

Đối với nhiều người con lai, Việt Nam chỉ là một nơi sinh ra mang đầy kỷ niệm đau buồn của tuổi thơ. Những người con lai ít khi quan tâm đến việc đòi hỏi dân chủ cho quê mẹ . Với họ, không có sự thiết tha hay gắn bó đủ để hy sinh quyền lợi của bản thân và gia đình. Thay đổi được chế độ, hay Việt nam có được dân chủ thì sao? Thay đổi được văn hoá và cách nhìn của người Việt mới là điều quan trọng. Liêm đã trả lời khi được hỏi rằng cô nghĩ như thế nào về việc góp phần vận động dân chủ cho Việt Nam. “Con lai”, là những người Việt cần được cảm thông. Họ là những người con rơi của những người cha vô trách nhiệm, là những đứa con bất đắc dĩ của những người mẹ buông thả, hay là những đứa con của những cuộc hôn nhân bất thành tan vỡ. Chúng ta không nên phân bua hay đổ thừa cho hoàn cảnh, nhưng mọi vấn đề trong xã hội đời sống không chỉ có bề mặt, bề trái, mà còn có công bình và lẽ phải. Với người Việt cùng tiếng nói, cùng văn hoá mà họ không dễ hoà đồng, như có một rào giới không thể vượt qua bởi quá khứ của thân phận. Với người Mỹ thì họ cũng còn một khoảng cách xa lạ và khác biệt cho dù có cùng nét mặt hay màu da. Không chỉ riêng những người con lai phải chịu đựng sự kỳ thị và thành kiến, mà tất cả người Việt điều là nạn nhân của một nền văn hoá lỗi thời. Không ai thay đổi được quá khứ, đừng để dư luận và thành kiến giết chết tình yêu thương và sự cảm thông trong mối quan hệ con người. Người Mỹ gốc Việt hay người Mỹ lai, nói cho cùng ai cũng là người Việt Nam. Có bao giờ bạn và tôi hiểu được lòng khao khát của những người con không mang họ cha? Và xin đừng suy xét người qua sắc áo, mầu da.

New Jersey 17-07-2004

DCVMedia Corp. giữ bản quyền.

Kim Khánh

dcv_letaon01.jpg
Một phần trong di sản văn hoá của Hoa Kỳ là ngày lễ Tạ Ơn, ngày mà người ta thường quen gọi là “Thanksgiving Day.” Không như những ngày lễ truyền thống khác tại Mỹ, thường mang nặng sắc thái tôn giáo, ngày “cảm tạ” chứa đựng nhiều ý nghĩa lịch sử vì đất nước này đã được hình thành từ những di dân.

Ngày lễ Tạ Ơn cũng mang một ý nghĩa trang trọng vì nó gợi lên trong ta, những người di dân, một tâm trạng hết sức đặt biệt. Ngày lễ Tạ Ơn nhắc ta nhớ lại nguồn gốc tổ tiên, những ngày gian khó nơi xứ lạ quê người, và những ơn phước mà Thượng Đế đã ban cho trong đời sống. Ngày nay, nhiều người tại Mỹ còn gọi là ngày lễ Tạ Ơn là “Turkey Day” (ngày gà Tây) bởi vì tục lệ đặc sắc bắt nguồn từ trong những ngày nước Mỹ mới hình thành.

Vài nét về truyền thống và nguồn gốc ngày lễ Tạ Ơn

Có bốn mốc thời gian quan trọng trong lịch sử của sự hình thành ngày lễ Tạ Ơn ở Mỹ: thời khai khẩn, thời kỳ của cuộc cách mạng chống Anh quốc, thời nội chiến, và nước Mỹ trong Đệ Nhị Thế Chiến.

1- Ngày lễ Tạ Ơn đầu tiên của nước Mỹ được cử hành vào tháng 12 năm 1621, tại tiểu bang Massachusetts. Theo tài liệu lịch sử của Hoa Kỳ, những người Mỹ đầu tiên đến khai phá phần đất mới này phải chịu nhiều gian nan cực nhọc do khí hậu khắc nghiệt, bệnh hoạn và đất hoang chưa bao giờ khai phá. Không chịu nổi đói rét qua một mùa đông lạnh giá, phân nửa những người di dân chết vào khoảng tháng 11 năm 1620. Cho đến khoảng đầu mùa Xuân của năm 1621, họ được thổ dân da đỏ Wampanoag giúp đỡ trong việc trồng trọt, cách bắt cá và săn thú rừng.

dcv_letaon02.jpg
Nhóm người Mỹ đầu tiên, còn được gọi là người hành hương (Pilgrims) dần dà khắc phục được khó khăn và do sự giúp đỡ chỉ bảo kinh nghiệm trồng hoa màu như khoai lang, bắp ngô, và bí đỏ của dân địa phương, và họ đã được mùa. Để tỏ lòng biết ơn đất trời và những người bạn mới, họ đã mời thổ dân da đỏ trong vùng cùng tham dự bữa ăn với những món ăn do chính họ trồng như khoai tây, bắp ngô, bí đỏ và gà Tây rừng. Và từ đó, các món gà Tây, bí đỏ, bắp, và khoai tây là những thức không thể thiếu trong các bữa tiệc của ngày lễ Tạ Ơn.

2- Với mục đích tạo dựng tinh thần đoàn kết giữa các di dân chống lại ngoại xâm, tháng 10 năm 1789, Tổng thống Washington đã công bố ngày lễ Tạ Ơn toàn quốc đầu tiên vào ngày 26 tháng 11. Điều nầy xác định được tính chất đặc thù của ngày lễ Tạ Ơn trong khi dân Mỹ đang phát động cuộc cách mạng để giải phóng dân tộc ra khỏi sự đô hộ của Anh quốc.

3- Vào những năm 1830, khi tình hình nước Mỹ bắt đầu bị chia rẽ, và các tiểu bang Miền Nam đòi ly khai. Tổng thống Lincoln tuyên bố chọn ngày Thứ Năm của tuần cuối tháng 11 năm 1863, làm ngày lễ Tạ Ơn nhằm tạo nên tình đoàn kết dân tộc trong lúc cuộc nội chiến Nam-Bắc nước Mỹ đang vào thời kỳ tương tàn và ác liệt nhất. Ông nhận thức được tầm quan trọng của ngày lễ Tạ Ơn, và cũng muốn nhắc nhở dân Mỹ nhớ đến những công ơn của những người di dân đầu tiên đã xây dựng nên nước Mỹ.

4- Mãi đến năm 1941, quốc hội Mỹ đã biểu quyết chọn ngày Thứ Năm trong tuần thứ 4 của tháng 11 hàng năm là ngày lễ Tạ Ơn, là ngày quốc lễ của toàn liên bang Hoa Kỳ. Thời gian nầy, quốc hội Mỹ đang trong thời kỳ đệ Nhị Thế Chiến. Người dân Mỹ cũng không quên công lao của bà Sarah J. Hale, là người đã đi cổ động khắp nước Mỹ trong những năm 1830, để Hoa Kỳ ngày nay có ngày lễ Tạ Ơn đồng nhất trong các tiểu bang.

dcv_letaon03.jpg
Theo tập quán của người Mỹ, con cái trong gia đình sau khi trưởng thành thì có cuộc sống riêng, nhưng thường sum hợp lại vào ngày 25 tháng 11 hàng năm để dự lễ Tạ Ơn với nhau. Trong ngày nầy, thông thường người ta chia sẻ những thành công và những kinh nghiệm khó khăn trong năm qua và ăn chung một bữa cơm trưa rất lớn. Bữa tiệc sẽ có các món quen thuộc như gà tây, mứt, bánh bí đỏ, khoai tây, bắp ngô, bắp và nhiều loại rau trái. Cũng vì ngày lễ Tạ Ơn vào ngày Thứ Năm trong tuần, nên hầu hết dân Mỹ đều được nghỉ luôn ngày Thứ Sáu và có một cuối tuần dài. Người ta thường tổ chức những cuộc liên hoan lớn sau ngày lễ và đi mua sắm đồ đại hạ giá trong ngày “Black Friday”(Thứ Sáu Đen.) Nếu khách du lịch nước ngoài đến các trung tâm thương mại của các thành phố lớn tại Hoa Kỳ chắc không khỏi ngạc nhiên vì thấy nhiều người sắp hàng từ sáng sớm trước các cửa tiệm. Một, họ trả lại quà tặng đã nhận hôm lễ Tạ Ơn mà không thích. Hai, là chờ mua hàng bách hoá hay điện tử với giá rẻ nhất trong năm.


Vài suy nghiệm về ngày lễ Tạ Ơn

Khi nói đến ngày lễ Tạ Ơn, người ta lại hỏi: tại sao cần phải bày tỏ lòng biết ơn, cảm tạ ai, có ý nghĩa gì, và với thái độ nào?

- Truyền thống ngày lễ Tạ Ơn của người Mỹ rất hay vì nó không là ngày lễ riêng biệt của một tôn giáo nào. Nó rất đáng được chúng ta, những người Việt tỵ nạn, trân quý và áp dụng. Nó không mang tính chất chính trị, hay để tưởng niệm một cá nhân. Hơn thế nữa, ngày lễ Tạ Ơn không ca ngợi một dân tộc hoặc một biến cố lịch sử. Ý nghĩa ngày lễ Tạ Ơn gắn liền với lòng biết ơn của con người. Người Việt cũng gặp rất nhiều khó khăn trong giai đoạn đầu tiên định cư nơi xứ sở này, nhưng dân tộc và đất nước Hoa Kỳ, đã giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn và chúng ta đã thành công. Nhiều người trong chúng ta có được việc tốt, làm ăn thịnh vượng, từ tiểu thương, đến thị trường chứng khoán, và cả trong chính trường. Số đông người Việt chưa quen với các tục lệ của người Mỹ, trong đó có ngày lễ Tạ Ơn và cho rằng ngày lễ này có tính chất tôn giáo hoặc là một ngày lễ riêng của dân Mỹ. Chúng ta nên tìm hiểu về ý nghĩa cao quý của ngày lễ đặc biệt này, nhất là người Việt. Giống như hoàn cảnh của những người hành hương đầu tiên đến Mỹ, người Việt vì phải chịu cảnh bắt bớ về tư tưởng và văn hoá mà phải bỏ nước ra đi. Vì thế chúng ta rất nên tổ chức lễ Tạ Ơn, sum họp gia đình, tùy theo tôn giáo, và phong tục của mình.

- Người Việt xa hương nhớ về quê cũ trong những ngày làm quen với tập tục xứ người. Lễ Tạ Ơn là ngày lễ dành cho tất cả những người di dân, bỏ quê ra đi sống đời viễn xứ. Không chỉ riêng cho người tỵ nạn tại Hoa Kỳ, mà cũng là tâm trạng chung của hơn hai triệu người Việt đang sống tha hương. Nó gợi lên trong lòng ta nổi nhớ nhung ray rứt khi nói đến ân tình trong mùa cảm tạ. Có thể nơi bạn định cư không có ngày quốc lễ Tạ Ơn, nhưng bạn chắc sẽ không bao giờ quên cảm tạ ơn trời đã che trở và mang lại sự bình an và phước hạnh trong đời sống. Dĩ nhiên, chúng ta cũng không thể nào quên được những ân tình của những người bạn tốt chưa từng quen biết, những cơ quan thiện nguyện đã mở rộng vòng tay đón tiếp và giúp đỡ chúng ta xây dựng lại cuộc đời trong những ngày đầu trên xứ lạ quê người.

- Nguồn gốc ngày lễ Tạ Ơn mà nhiều người được biết không quan trọng bằng ý nghĩa thật và triết lý của nền văn hoá. Lòng biết ơn của người Mỹ đã bắt nguồn từ những năm đầu lập địa đầy những gian nan. Người Thiên Chúa giáo nặng lòng tin kính, đặt Thượng Đế lên trên thứ tự ưu tiên trong đời sống khi nói đến lòng biết ơn. Nước Mỹ, qua hơn ba trăm năm với nhiều tiến triển trong nền chính trị và xã hội, và ngày lễ Tạ Ơn đã trở thành một ngày lễ được dân Mỹ tôn trọng nhiều nhất, bất kể tôn giáo, nguồn gốc dân tộc. Qua đó, người ta coi sự cảm tạ lòng tốt của người xung quanh là điều cần thiết trong sinh hoạt. Với cái nhìn sâu rộng, người ta muốn mang trọn vẹn ý nghĩa cảm tạ vào trong mùa “Thanksgiving.” Nó không đơn giản chỉ là một ngày quốc lễ, mà là một phần văn hoá của người Mỹ. Có lẽ ngày lễ Cảm Tạ là cơ hội thuận tiện cho người ta bày tỏ lòng biết ơn, không chỉ riêng với Thượng Đế, mà với mọi người thân như: cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, bạn bè, và những người gần gũi trong sinh hoạt hằng ngày. Nếu được, hãy trao nhau một món quà nhỏ biểu lộ lòng biết ơn, một cánh thiệp với lòng tri ân, hay chỉ cần một câu nói cám ơn chân tình. Những nghĩa cử cao đẹp nầy sẽ mang lại cho người quanh ta sự hạnh phúc, và niềm vui trong cuộc sống.

- Thái độ cảm tạ là yếu tố quan trọng trong mùa tạ ơn và là ưu điểm tuyệt vời của văn hoá phương Tây. Một biểu hiện thiếu vắng trong văn hóa Việt Nam. Người Việt trọng nghĩa, nhưng ít khi bày tỏ lòng biết ơn.


dcv_letaon04.jpg
Nhiều khi chúng ta thấy rườm rà và trở nên khách sáo khi phải nói cám ơn, nhưng đây là một trong những thái độ của lòng biết ơn mà người Việt đã học được trong những năm di cư nơi đất lạ. Thái độ biết ơn khác hẳn với với sự trả ơn theo cách nhìn của người Việt "có qua có lại". Thái độ biết ơn là sự bày tỏ qua lời nói và cử chỉ, không cần phải trả ơn để "toại lòng nhau". Vì trên đời nầy có những thứ ân tình mà ta không thể nào trả được, và nếu không bày tỏ thái độ biết ơn, ta sẽ trở thành người vô ơn.
Ngày lễ Tạ Ơn tại Hoa Kỳ không dành riêng cho một tôn giáo nào. Nó là ngày lễ cho tất cả các dân tộc trên nước Mỹ, những người di dân, để họ bày tỏ lòng biết ơn của họ với đất nước, dân tộc, văn hoá và nền tự do dân chủ của Hoa Kỳ. Ngày lễ Tạ Ơn giúp người di dân có cơ hội nói lên lòng biết ơn đến các bậc tiền nhân và những sự hy sinh của những người có công xây dựng đất nước. Mùa lễ Tạ Ơn nhắc nhở chúng ta dành ra một ngày để bày tỏ lòng biết ơn, nhưng ý nghĩa thật sự của sự cảm tạ là: luôn bày tỏ lòng biết ơn đến những người xung quanh, nhất là những người thân trong gia đình. Là nguời Việt di cư, chúng ta hãy dành một vài giây phút bày tỏ lòng tri ân đến những người đã ngã xuống cho đất Việt yêu thương, những người đang trong ngục tù vì đấu tranh cho dân tộc, và những người không mệt mỏi vì công cuộc đòi hỏi dân chủ cho Quê Mẹ. Hãy cảm tạ Thượng Đế đã cho bạn những ngày bình an và những ngày sẽ được bình an và sung mãn trong tương lai. Hãy nói với người bạn yêu mến lời cám ơn - vì nó là món quà quý nhất trong mùa cảm tạ. Xin chúc bạn một ngày lễ Tạ Ơn vui vẽ và đầy ý nghĩa.


New Jersey 04-11-2004

DCVMedia Corp. giữ bản quyền.