Cậu Bảy du Ba Đình

| | Comments (0)
Truyện ngắn của Caubay


la jolla.jpg
Ranh ngôn trước khi vào truyện "Đã là truyện thì tất là hư cấu, Caubay bận cắt cỏ xin miễn hầu tòa".

Vào cuối thế kỷ 20 thiên hạ loạn lạc, thiên tai xảy ra khắp nơi. Nhiều điềm lạ xảy ra như gà ăn đá, người ăn xi măng, khỉ hóa thành người. Lúc bấy giờ ở thành Sài Côn nước Việt có một người tên là Cậu Bảy, tự Da-cát, tính tình cao ngạo, văn võ song toàn, sức khỏe vô địch, có tài sử dụng cây cào cỏ cả ngày không biết mệt. Nhưng tài bất phùng thời, vừa tuổi trưởng thành thì nước nhà bị giặc cướp tiếm quyền. Cậu Bảy chán ghét thế sự nên xuống ghe lánh nạn đến San Thành qui ẩn, ngày ngày vui với cỏ hoa. Dù vậy cái khí ngạo hãy còn nên những khi uống rượu cùng bè bạn Cậu Bảy thường gõ chén ngâm nga như vầy:

“Chiều chiều ông Bảy đi trim
Cái ve cái chén cái liềm sau lưng”

Ấy là Cậu Bảy muốn ví mình với ông Lữ Vọng thời nhà Chu trong câu hát ru con của bà mẹ ngày xưa: “Chiều chiều ông Lữ đi câu, cái ve cái chén cái bầu sau lưng”. Công việc cũng đắp đổi qua ngày; bản tính lại trượng nghĩa khinh tài nên Cậu Bảy hay giúp không công cho mấy bà vắng chồng. Rồi Cậu Bảy lấy vợ, đẻ con. Cái tài, cái chí cũng theo thời gian mà cùn như cái liềm cắt cỏ.

Một buổi chiều cuối tuần mùa hạ năm Giọt Bút thứ 6, Cậu Bảy đưa vợ, Mobay, ra bờ biển hóng mát. Biển San Thành tuyệt đẹp, dập dìu du khách bốn phương. Nắng chiều vàng phản chiếu trên mặt biển êm ả, thấp thoáng đó đây những cánh buồm con lẻ loi. Cậu Bảy dắt tay Mobay đến ngồi bên cái ghế đá mà nhìn cảnh trời mây non nước. Mặt trời càng lúc càng xuống thấp như một quả cầu lửa tròn nằm trên mặt biển. Thật xa phía chân trời bóng một con tàu như chìm dần xuống nước. Hai người ngồi bên nhau không nói một lời trong một lúc khá lâu. Bỗng Cậu Bảy đưa tay chỉ về phía biển xa, giọng ngậm ngùi nói:

- Nàng có biết rằng ở phía chân trời kia là quê hương ta đó.

Mobay cũng mủi lòng đáp:

- Ừ nhỉ, mới đó mà đã hai mươi năm mình lìa bỏ quê hương. Không biết ngày nào mình mới về đặng? Nhìn bóng mấy con tàu làm em nhớ nhà quá, nhất là buổi hoàng hôn mình ra đi.

 

Cậu Bảy nghe nhắc lại cái ngày ấy mà lòng buồn vời vợi, vuốt tóc vợ mà nói đưa rằng:

- Nàng có muốn về thì bây giờ về cũng được. Họ cũng bắt đầu mở cửa, không còn làm khó như xưa ...

Mobay quay lại nhìn chồng, ánh mắt thoáng chút ngờ vực:

- Chàng có nói thực lòng không đó. Bấy lâu nay em cứ nghĩ là chàng có ý định sắc son là thà ở bên này làm mướn qua ngày chớ nhứt định không về chung đụng với hạng người tráo trở đó; cớ sao nay chàng lại nói như thế. Bộ chàng đã đổi ý rồi hay sao?

Cậu Bảy thở dài:

- Tại tôi thấy nàng ước ao mà nói cho vừa lòng như vậy, chớ lòng tôi nào đã đổi thay. Chỉ buồn là thấy nước nhà ngày càng tụt hậu, quan quyền bệ rạc, nhân tâm ly tán mà mình chẳng làm gì được ích quốc lợi dân.

Mobay nhìn chồng ái ngại, lặng yên trong giây lát rồi nhỏ nhẹ:

- Làm trai cho đáng nên trai. Trước đây tôi một mực cuốn gói theo chàng cũng vì ngưỡng mộ cái tài cao chí cả. Hồi đó ngồi bên nhau trong rạp xi nê chàng đã khoa trương cái tài kinh bang tế thế nghe rất bùi tai. Có đâu ngờ thời cuộc đẩy đưa tới cái xứ này để rồi ngày càng mai một.

Cậu Bảy cũng ngậm ngùi:

- Nàng ôi! Cái nước Mỹ này nó như cái máy hút vô tận; mình bị nó hút vào và cứ lao theo như ngọn cỏ đùa trong máy cắt, không biết ngày nào mới thoát khỏi.

Mobay cũng buông tiếng thở dài, đưa tay che miệng ngáp, than rằng:

- Không biết cái vận hạn nước mình đến bao giờ mới khá. Em đi coi cũng nhiều thầy mà không có ông nào đoán cho thông. Chiến tranh qua đã 30 năm mà dân mình còn đi ở đợ khắp năm châu, thiệt là nhục quá!

Cậu Bảy nhìn vợ cảm thông:

- Nói thiệt với nàng tôi không có ngày nào mà không nhớ về bên nhà. Ngặt nỗi mấy anh em bên nhà trí tuệ họ nằm ở cái đỉnh quá cao, có khi ra ngoài não bộ nên xem mòi quá u mê mà làm cho dân ta đói khổ. Nghĩ mà giận mà không biết làm sao khai trí cho họ.

Mobay an ủi:

- Người ta nói rằng đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi… Nếu mình có lòng thì thiếu gì cách. Đứng dậy xắn tay áo mà làm chớ ngồi đó than van chỉ tổ hao tổn sức khỏe chớ lợi lộc chi. Em thấy chàng có tài ăn nói, mấy mối cắt cỏ chằng ăn trăn quấn mà chàng đều lãnh được, lại giá cao, thì có khó chi mấy anh bên nhà. Bình sinh chàng tự cho mình là Da-cát Bảy, sao phen này không bắt chước Khổng Minh du thuyết Ba đình một chuyến. Biết đâu vận nước đến hồi hanh thông mà chó ngáp phải ruồi.

- Nàng nói nghe cũng phải, ngặt nỗi bọn cộng sản nó đa nghi còn hơn Tào Tháo, nếu không có người tiến cử thì e rất khó lòng. Lạng quạng tui về bển nó tống đi cải tạo thì lấy ai lo cho mẹ con nàng!

Mobay nghe nói cũng lấy làm rầu, ngồi trầm tư một lúc, rồi như chợt nghĩ ra điều gì hay lắm, nên hồ hởi hỏi:

- Nghe nói trên diễn đàn công an mạng nhiều lắm, chàng cả ngày ở trên đó mà không nhờ được ai hay sao?

- Nhiều lắm! Có điều họ lấy nick ảo thì biết đâu mà mò.

- Hay là ta nhờ tới mấy lãnh sự quán?

Cậu Bảy nghe nhắc lòng mừng khấp khởi vì chợt nhớ ra một người, lật đật đứng phắt dậy nắm tay Mobay ra về.

Đến nhà Cậu Bảy móc tiền đưa cho Mobay và dặn: “Nàng hãy ra chợ Seafood gần nhà mà mua cho tôi vài chục sò Mỹ, sò Mễ gì cũng được, miễn là phải thật tươi”. Mobay rất lấy làm ngạc nhiện định hỏi “Chàng định đi du thuyết chớ có phải đi nhậu đâu mà mua sò mua hến” nhưng thấy sắc mặt Cậu Bảy rất khẩn trương nên không dám hỏi, vội vàng cầm chìa khóa ra xe…

Đây nói về người mà Cậu Bảy sực nhớ tới là ngài Lê Văn Nhọn, tự Tử Kỉnh người huyện Cái Răng, tỉnh Ninh Bình. Vốn con nhà bần, ít học nhưng từ nhỏ đã có tài ăn trộm, lại khéo ăn nói, ngụy biện. Thuở thiếu thời Nhọn đã thoát ly theo cách mạng, quen ở trong rừng nên rất thèm đồ biển, đặc biệt là món sò lông. Khi còn ở trong nước thì Nhọn hay cùng bạn bè chén thù chén tạc và không lần nào thiếu món sò nướng với mỡ hành rắc đậu phụng. Khi ngà ngà say, Nhọn thường thố lộ rằng “bình sinh các loại sò quê hương ta đều nếm thử, nhưng nghe nói bên Mỹ có loại sò lông vàng mịn như tơ, hai múi thịt đỏ hồng, nhắm rất ngon, ta vẫn thường ước ao có dịp thưởng thức; khi ấy dầu có theo ông Mác, ông Lê cũng không còn tiếc nuối gì nữa”.

Thế rồi thời cuộc đẩy đưa, Nhọn nhờ tài luồn lách nên mộng đã thành, được đề bạt làm đại sứ tại Liên Hợp Quốc. Ấy thiệt là chó nhảy bàn độc, thánh nhân đãi kẻ lù khù. Trong thời gian tại nhiệm ở Niu Oóc, Nhọn thường trốn họp ra bờ biển Manhattan để mò sò dù đã được dặn trước rằng bắt sò là phạm luật điạ phương. Một hôm bị bắt quả tang, Nhọn nhanh trí dùng kế “thủ khẩu như bình” chỉ tay lên miệng ú ớ “Vi Xi, no English” nhưng cũng không thoát. Nhờ có thành tích sáng ngời như vậy nên sau đại hội X của Đảng, Văn Nhọn được triệu hồi về nước trọng thưởng và thăng hàm thứ truởng bộ Ngọai giao.

Ngày kia vừa ở sở về nhà thì Văn Nhọn nhận được gói quà với phong thư của Cậu Bảy, đại ý như vầy:

“Cậu Bảy kính ngài thứ trưởng Lê Tử Kỉnh nhã giám,

Ngẫm câu "Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách”. Thất phu ở đây không phải là bảy người phu mà là người thứ 7, chính là tại hạ vậy. Ấy là câu sấm mà người xưa đã hàm ý nhắc nhở cái trách nhiệm của Da-cát tôi với tổ quốc. Nay nước nhà đang lâm vào ngõ bí, quan tham đông như ruồi, nhân dân đói rách, đội sổ gần hết địa cầu. Tôi chẳng thể làm ngơ nên quyết đem chút tài mọn mà san sẻ cùng vị chúa Đảng của ngài; ngặt nỗi không người tiến dẫn nên chưa dám đường đột.

Lại nghe, kẻ sĩ ở đời lấy miếng ăn làm trọng, miếng ngon xứ người mà không ăn sao thỏa chí bình sinh, việc ấy hẳn ngài đã rõ. Kết hợp cái tinh thần quốc tế ấy vào tình hình nước ta, tôi kính dâng ngài món quà đặc sản nước Mỹ và mong ngài vì tôi mà nói cho một lời với quý Đảng trưởng. Được như thế quả là đại phúc cho thiên hạ. Thư bất tận ngôn, tôi xin ngậm cỏ mà kính bái. Ký tên Da-cát Bảy”


Nguyên Lê văn Nhọn khi còn tại chức ở Mỹ cũng đã nghe danh Cậu Bảy và rất khâm phục tài nghệ và cái tính khiêm cung của Cậu, nhiều lần cũng muốn kết thân mà chưa dám. Hôm nay nhận được thư và quà thì lòng mừng khấp khởi, một mặt hối vợ làm món sò bảy món để mời mấy anh bên Trung ương qua nhậu chơi, mặt khác lật đật email trả lời như vầy:

“Thưa Cậu Bảy kính mến! Được biết nhã ý của Cậu, Nhọn tôi rất lấy làm cảm kích, âu cũng là phước của Bác ngày xưa ăn hiền ở lành, ít giết người, nên ngày nay Đảng ta mới có quới nhơn giúp đỡ. Tôi nguyện hết lòng tiến cử, xin Cậu bình tâm lựa ngày lành tháng tốt đặng cho tôi hay. Thư vắn tình dài, mong Cậu chứng giám. Ký tên Tử Kỉnh Lê văn Nhọn”

Mùa thu năm ấy, Văn Nhọn qua Mỹ rước Cậu Bảy xuôi về Việt Bắc. Mobay tiễn chân chồng ra tận phi trường, sụt sùi khóc: “Chàng đi chuyến này lành ít dữ nhiều, nếu có mệnh hệ nào thì hôm sớm tôi ai lo cho thiếp”. Cậu Bảy an ủi rằng “Nàng thiệt là mau nước mắt như Lưu Bị, tôi mới gieo quẻ tốt lắm, hồi hôm tôi coi thiên văn thấy tướng tinh còn tỏ, chưa dễ gì xanh cỏ đâu mà lo. Nàng ở nhà cũng nên cẩn thận, cứ ở trong nhà coi TV, chớ nên ra sau vườn xớ rớ mà ba cái thằng hàng xóm nó sinh sự lôi thôi”.

Nói rồi bịn rịn chia tay... Dọc đường Lê văn Nhọn cứ sợ Cậu Bảy làm mích lòng chúa đảng nên dặn dò mãi như vầy: “Dẫu biết Cậu có lòng, nhưng Chúa công tôi tính tình thủ cựu, rất đa nghi, lại hay thù dai, xin Cậu hãy lựa lời cho khéo mà nói, nhắm được thì may, còn không thì thôi. Xin bảo trọng tấm thân, chớ nên nói điều gì thất thố mà tôi cũng mang vạ lây...”

Cậu Bảy nghe qua chúm chím cười đáp rằng: “Xin Tử Kỉnh đừng lo, ta đã có chủ ý”.

***

Lại nói về chúa đảng Ba Đình tên là Tày Mạnh Đức, vốn người dân tộc Tày ở miền Việt Bắc. Khi sinh ra thì không biết cha mình là ai nên đến tuổi đi học thì lấy tên bộ lạc làm họ. Bình sinh ưa đọc truyện Tàu, rất hâm mộ nhân vật Tào Tháo nên lấy tên là Mạnh Đức. Lớn lên gắn bó với núi rừng, dù nhà nghèo nhưng rất hiếu học, Mạnh Đức xuống miền xuôi theo học nghề kiểm lâm. Gặp thời mà người ta dăt bò đi học, Mạnh Đức cũng chen được một chân đi Liên Xô. Thời thế đẩy đưa Mạnh Đức theo Đảng và dần dần leo lên tới tột đỉnh danh vọng. Phi vương phi chúa quyền khuynh thiên hạ, tính đến nay Mạnh Đức trị vì cũng đã đuợc hơn bảy năm; công việc tuy cũng thành thạo nhưng khó khăn ngày một nhiều. Việc nước ngày càng rối ren, bên trong thì dân tình ta thán, bên ngoài thì ngoại bang ức hiếp. Mạnh Đức rât lấy làm ưu phiền, cũng định mở riêng một trang mạng mà chiêu hiền, tìm kẻ cao tay giúp đỡ. Rồi ngày kia nhận được mật báo của Lê văn Nhọn về việc Cậu Bảy, Mạnh Đức rất lấy làm vui, bèn dặn vợ ngủ riêng, ăn chay, tắm gội sạch sẽ để chờ ngày diện kiến.

Đến hẹn lại lên, trời vừa rạng sáng, Văn Nhọn đã có mặt tại nhà khách chính phủ để đưa Cậu Bảy đi ăn điểm tâm. No nê rồi cả hai vào phủ chúa Ba đình yết kiến Tày Mạnh Đức. Vào trong đại sảnh Cậu Bảy vừa ngồi chưa nóng đít thì đã thấy họ Tày ra tiếp. Cậu Bảy thoáng nhìn thấy Mạnh Đức nước da trắng, trán cao, mắt sáng mà láo liên, môi mỏng, mày xếch thì biết là người thông minh nhưng đa nghi, tính tình có phần dụ dự, thiếu quyết đoán. Cậu Bảy nhủ thầm hạng người như thế thì nên khích, không nên khuyên.

Sau cái bắt tay, Mạnh Đức nói:

- Kính chào Da-cát tiên sinh, tôi ngưỡng mộ tôn danh đã lâu, nay được diện kiến thật thỏa chí bình sinh.

Cậu Bẩy nghiêng mình thi lễ:

- Xin chào ông Tổng anh minh muôn vàn kính mến.

Mạnh Đức lễ độ thưa rằng:

- Xin tiên sinh đừng gọi tôi là ông Tổng nghe nó có vẻ cường hào ác bá lắm, xin gọi là Bí thư cũng đặng.

- Dạ kính chào ông Bí, và cũng xin ông Bí cứ gọi tôi là Cậu Bảy cho thân mật.

- Xin cám ơn Cậu, thiệt là hay đó. Xưa nay tôi đã có bác, nay có thêm cậu, như thế nội ngoại đề huề, thiệt là quí hóa quá.

Cậu Bảy cũng cho như thế là phải. Sau vài tuần trà, Mạnh Đức khơi mào:

- Tôi nghe tiếng Cậu lao động quên ăn khiến mấy anh bạn Mêhicô đều cúi đầu nể phục, thiệt là làm rạng danh cho dân Việt mình nơi xứ người. Cũng nhờ tiếng thơm của Cậu mà ở trong nước mấy cái hợp đồng xuất khẩu lao động cũng dễ ký. Tôi hằng ao ước có ngày được hội kiến mà nghe lời chỉ giáo.

Cậu Bảy biết Mạnh Đức nói khía mình nhưng làm bộ điềm nhiên đáp:

- Tôi tài sơ trí thiển, tha phương cầu thực, có gì đáng mà ông Bí quá khen, hơn nữa lý lịch tôi lại không mấy gì rõ ràng thì đâu dám khua môi múa mép.

- Xin Cậu Bảy chớ nói khiêm, lý lịch của Cậu coi bộ còn minh bạch hơn của tôi. Nhưng việc ấy đã lỗi thời, trước đây ta phạm sai lầm phân biệt mà nhân tài bỏ đi hết; nhưng nay đã đổi mới khá nhiều, hễ ai có tiền thì bổ sung lại cái lý lịch cũng không khó. Tục ngữ có câu “đồng tiền nó liền khúc ruột... ngàn dặm”, Cậu không biết hay sao? Nay Cậu về đây chắc có điều hay chỉ dạy?

- Nếu đặng như thế thì may. Ông Bí có cho thì tôi mới dám nói. Tôi chu du cũng nhiều, nhìn thấy thế giới đổi thay như chong chóng rồi lại nhìn về quê nhà mà lòng đau khôn tả.

- Cậu thật khéo lo thì thôi. Về đây rồi Cậu sẽ thấy sự tiến bộ của mình. Như cách nay 76 năm, hồi Đảng ta ra đời thì dân ta đa phần chỉ biết đi bộ, ngày nay đứa con nít cũng biết đi xe đạp. Đó chẳng phải là thành quả vượt bậc hay sao?

Cậu Bảy mỉm cười đáp:

- Nói vô phép nhưng có lẽ ông Bí không biết về thuyết tương đối của EoBợt Anhxtanh. Để tôi giảng cho như vầy. Muốn chạy đua thì phải tính cái tốc độ tuơng đối với người ta, họ tới đâu thì mình tới đó, chớ không phải so sánh với ông nội mình. Ngay cái câu con hơn cha là nhà có phúc nó cũng có tính tuơng đối trong đó. Để cho dễ hiểu, ta xem cái tương quan của ta với Tàu. Mấy ngàn năm qua Tàu xâm lăng mà ta còn cầm cự được là nhờ hai bên cùng dùng gươm giáo, cung tên, nhưng nay thì nó đã lên cung trăng, có hỏa tiễn, có bom nguyên tử, còn mình cái đinh vít làm chưa xong thì một mai nó đánh mình lấy gì mà đỡ? Muốn đỡ thì lại phải đi cầu thằng ngoại bang khác. Mà ông Bí cũng nên nhớ rằng Tàu là mối lo tâm phúc đó nghen. Cái đà này mình muốn cho kịp thằng Tàu thì chắc phải chạy bằng vận tốc ánh sáng.

- Cậu Bảy đã dốt mà ưa nói chữ. Cái thuyết Cậu nói đó tôi e rằng không phải của Anhxtanh, có khi là thuyết tương đối Caubay. Về quan hệ hữu nghị giữa ta và Trung quốc thì ngày nay nó khác xưa nhiều lắm. Cái thời phong kiến nó qua rồi, nay ta và bạn vừa là đồng chí vừa là anh em. Tình anh em như môi với răng, mà răng cắn môi chảy máu cũng là sự thường.

Cậu Bảy thấy Mạnh Đức một lòng thần phục nước Tàu nên ráng dùng tài hùng biện phân giải, nhưng coi mòi không thấm, may kịp nghĩ ra một kế, bèn dọa:

- Ông Bí thiệt là cả tin. Bọn Tàu nó đang lăm le xâm chiếm nước ta đó.

- Cậu Bảy đừng nghe bọn đế quốc nó xuyên tạc, gây chia rẽ. Cậu nói như thế có bằng cớ gì chăng?

- Có chớ sao không. Nguyên gần đây tôi có đi du lịch bên Tàu, nghe ngoài đường bọn con nít hát bài đồng dao như vầy:

Phía bắc ta cự Hồng Mao
Phía đông Nhật Bổn ông nội tao cũng không dám rờ
Phía tây bọn Ấn đói khờ
Phía nam nước Việt là bờ cõi ta


Đó! Ông Bí coi, nó nói như vậy thì việc xâm lăng ta chỉ là thời gian. Cái mộng bá quyền của nó cũng còn đó, xin chớ cả tin.

Mạnh Đức nghe nói cũng hơi nao núng, nhưng làm bộ nói cứng:

- Trung quốc có bác Mao, ta có bác Hồ. Bác Hồ ta đó chính là bác Mao. Tuy hai mà một. Trong quá khứ họ lại có công giúp ta cải cách ruộng đất, rồi lại xung phong giải phóng giùm ta cái đảo Hoàng Sa, ơn ấy rất lớn. Nếu sau này họ có hỏi thêm chút ít thì ta nhường là xong. Lẽ nào họ đòi đến Hà Nội hay sao?

Cậu Bảy thấy dọa cũng không xong bèn cười khảy:

- Ông Bí nói nghe cũng phải. Nó đòi gì thì mình dâng cái nấy thì cái tình hữu nghị mới đời đời bền vững, các ông lại không mất phần phú quới. Tôi cũng đã cạn lời, thôi xin kiếu. Tuy vậy tôi mang tiếng ở bên Mỹ về mà không có quà thì coi sao phải. Nãy giờ nói chơi để thử lòng yêu nước của ông Bí mà thôi. Vì vậy trước khi từ giã tôi xin dâng cái kế mọn làm quà. Nếu theo kế này thì ta không mất một tấc đất, một viên đạn mà bọn Tàu phù cũng chẳng thèm đụng tới cái lông chưn của ta.

Mạnh Đức nghe nói mặt mày hớn hở, hỏi:

- Kế ấy ra sao xin cho nghe?

- Kế này dễ làm mà chẳng tốn kém là bao, chỉ cần một người với chiếc xe đạp cà tàng cũng làm được. Đó là đem thiêu cái xác ông Hồ rồi đem chút tro tàn qua Bắc kinh mà dâng cho chủ tịch Hồ Cẩm Đào là xong tất.

Mạnh Đức vừa nghe xong sa sầm nét mặt hỏi tiếp:

- Vì sao như thế?

Cậu Bảy sửa lại thế ngồi cho nghiêm trang rồi dõng dạc nói:

- Tôi có nghe nói Hồ cẩm Đào rất giận “bác”. Y cho rằng Bác nhà mình vốn họ Nguyễn mà lại tiếm danh họ Hồ của lão, rồi lại làm những điều ô nhục nên lão xấu hổ vô cùng. Vì giận như thế nên lão thề phải đem quân xâm chiếm cho được nước ta, viện cớ là lấy lại bờ cõi, nhưng thực tâm là phá cái lăng của bác mình cho bỏ ghét.

Mạnh Đức nét mặt hơi tái, môi run run nhưng cố trấn tỉnh hỏi:

- Cậu Bảy nói như vậy có gì làm bằng chứng?

Cậu Bảy vốn dốt chữ Nho, nhưng lỡ trớn nên liều mạng nói càn:

- Tôi nghe Cẩm Đào vốn sính mần thơ, thường tự ví mình với Tào Thực đời Tam Quốc. Lão có sáng tác bài bài phú nổi tiếng nói về việc báo thù mà người Tàu nào cũng thuộc.

- Cậu Bảy có nhớ bài ấy chăng?

- Tôi có xem qua, thấy cũng ngộ nên nhớ nằm lòng. Nó như vầy:

Lãm Nhị Hà ư phương Nam hề
Hữu Hồ tặc nhi tiếm tánh hề
Bất nhân thất đức thượng hảo hạng hề
Dục thiên hạ sĩ nhục bổn gia hề
Thệ Nam tiến đại thù vi báo hề


Tạm dịch nghĩa:

Phương Nam có gã Tất Thành
Vốn dòng họ Nguyễn tiếm danh họ Hồ
Bình sinh làm việc ác đồ
Người đời nguyền rủa họ Hồ của ta
Thù này thề chẳng bỏ qua.

Tày Mạnh Đức nghe xong vụt đứng dậy, đỏ mặt tía tai, cầm cái lưỡi liềm trên bàn thờ tổ chém mạnh xuống mặt bàn, rồi chỉ tay về phương bắc mà mắng rằng:

- Thằng họ Hồ kia, nói cho rõ, thằng Cẩm Đào chết tiệt kia, ta thề quyết không đội trời chung với ngươi.

Cậu Bảy thấy Mạnh Đức trúng kế nhưng giả bộ khuyên can:

- Xin ông Bí bớt giận mà nghe tôi phân giải đôi lời. Có sá gì cái thây ma mà gây việc can qua. Hơn nữa- Cậu Bảy nhích lại gần kề miệng vào tai Mạnh Đức nói nhỏ- chắc ông Bí cũng biết, dân Việt từ Nam chí Bắc, trong cũng như ngoài, già cũng như trẻ, trai cũng như gái, không ai ưa gì Bác. Họa chăng ba thằng nhà báo nước ngoài ưa chơi nổi, háo danh, ngồi trong thư viện mà viết về Bác, tụi nó làm gì có kinh nghiệm thực tiễn đau thương của người mình. Nói toạc móng heo như vầy, vì cái thế mà Bác phải nằm đó chớ có ai tôn kính gì đâu. Vậy thì mình cũng nên xét điều hơn lẽ thiệt mà tránh họa cho dân.

Mạnh Đức nghiến răng quay lại nói:

- Cậu Bảy có chỗ chưa hiểu. Hồ chủ tịch chính là thân phụ của ta!

Cậu Bảy làm bộ giật mình, vội vàng xô ghế định chạy, nhưng thấy bên ngoài công an dày đặc nhắm bề khó thoát, nên vòng tay lại thưa:

- Tôi trí óc u tối, có mắt mà không ngươi, miệng thường ăn đồ Mễ nên nói bậy nói bạ xúc phạm đến lịnh nghiêm; tội đáng cải tạo dài lâu. Xin ông Bí dung thứ.

Tày Mạnh Đức chửi rủa thêm một hồi nữa, khi cơn giận đã hạ, mới quay sang Cậu Bảy vỗ về:

- Đã không biết thì không có tội. Xin Cậu bớt áy náy. Việc này trong lúc nhứt thời ta nói như vậy chớ nghĩ lại không nên ẩu. Lạng quạng nó dạy ta một bài học nữa thì khó thuộc lắm. Thôi cũng đã trưa, để mời Cậu Bảy dùng bữa kẻo đói. Rồi coi có kế gì hay thì Cậu giúp cho tôi với.

Mạnh Đức nói xong thét hậu cần mang rượu thịt ra đãi. Cậu Bảy vốn sợ cao máu nên gắp cầm chừng. Rượu ngà ngà, Manh Đức mới tâm sự:

- Thưa thiệt với Cậu, tôi vốn là đứa con vô thừa nhận, thuở bé lao đao, nay được như vầy thì có thác cũng đà mãn nguyện. Bấy lâu nay vì việc nước mà cha con chẳng đặng nhìn nhau, âu đó cũng là điều bất hạnh. Lòng tôi vẫn mong có ngày bá cáo sự thật cùng thiên hạ nhưng mấy anh bên Bộ chính trị chưa thuận. Nay mai việc ấy mà thành thì tôi ra tòa xin đổi tên là Hồ Mạnh Đức thì nghe cũng hay. Nhưng đó là việc về sau, xin Cậu Bảy chớ tiết lậu. Hôm nay lại nghe Cậu nói cái dã tâm của thăng Tàu, tôi thiệt là tức. Nói nào ngay, tôi cũng chẳng ưa gì bọn chúng nhưng cái thế yếu nên phải chịu nhục.

Cậu Bảy xem chừng Mạnh Đức đã quyết tâm nên nói vuốt:

- Đa tạ ông Bí có lòng tin cậy, tôi xin nguyện đem hết sức bình sinh mà đền ơn tri ngộ. Vậy thì việc gì ông Bí… bí thì cứ hỏi.

Tày Mạnh Đức rót ly rượu, hai tay cung kính dâng lên mời Cậu Bảy, rồi nói:

- Muốn cự với thằng Tàu thì phải làm sao?

Muốn biết Cậu Bảy bày kế cho Tày mạnh Đức ra sao, xin xem hồi sau sẽ rõ.

San Diego, 19/8/2006

(Xin đọc tiếp "Cậu Bảy hiến Kế")

Categories

Leave a comment

About this Entry

This page contains a single entry by dcvblogs published on January 2, 2008 11:00 AM.

Cậu Bảy hiến kế was the previous entry in this blog.

Ý kiến trong ngày is the next entry in this blog.

Find recent content on the main index or look in the archives to find all content.

danchimviet
danchimviet